BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
----------------
BÙI THỊ HẰNG NGA
GIÁO DỤC TÍNH TỰ TIN CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
THÔNG QUA TRÒ CHƠI ĐÓNG KỊCH Ở TRƯỜNG MẦM
NON
Chuyªn ngµnh: Gi¸o dôc häc (Gi¸o dôc mÇm non)
M· sè: 60.14.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Như Mai
Hà Nội - 2016
LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân
thành nhất tới cô giáo PGS.TS Nguyễn Thị Như Mai – người đã trực tiếp, tận
tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến Ban chủ nhiện khoa và các
thầy cô giáo trong khoa Giáo dục Mầm non đã tận tâm giảng dạy và giúp đỡ
tôi trong suốt thời gian tôi học tập tại Khoa.
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến phòng sau Đại học, trường Đại học Sư
phạm Hà Nội đã tạo điều kiện cho chúng tôi được học tập và bảo vệ luận văn
của mình.
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể giáo viên trường Mầm non
Thực hành Sư phạm - Thành phố Uông Bí - Quảng Ninh và các cháu học sinh
lớp 5 - 6 tuổi đã giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài.
Cuối cùng, xin được gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình và bạn bè tôi
: Giáo viên
: Tiêu chí
: Trò chơi đóng kịch
: Tác phẩm văn học
: Thực nghiệm
: Tính tự tin
MỤC LỤC
4
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
5
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Lứa tuổi mầm non, chặng đường phát triển đầu tiên với tốc độ nhanh và
đặc biệt nhạy cảm, là giai đoạn “vàng” của sự phát triển và cũng là thời cơ
“vàng” của giáo dục. Đúng như sự khẳng định của A.Macarenco, những gì mà
trẻ con không có được trước 5 tuổi thì sau này rất khó hình thành và khi sự
hình thành nhân cách ban đầu lệch lạc thì sau này giáo dục lại rất khó khăn.
Giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi là quãng đời có tầm quan trọng đặc biệt trong quá
trình phát triển chung của trẻ em bởi chính giai đoạn này những nét tính cách
cơ bản trong nhân phẩm trẻ được hình thành và để lại dấu ấn suốt cuộc đời.
Khi nhấn mạnh ý nghĩa của thời kỳ đó, nhóm tác giả Nguyễn Ánh Tuyết,
Giáo viên chưa thực sự nhận thức được vai trò, tầm quan trọng, ý nghĩa đặc
biệt của việc giáo dục tính tự tin thông qua trò chơi đóng kịch, do đó họ chưa
dành thời gian, tâm sức, cũng như việc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động
này. Trò chơi đóng kịch còn đơn điệu và chưa có sự sáng tạo, chính vì vậy
không thu hút được sự chú ý của trẻ. Với mong muốn hình thành và phát triển
tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua việc cho trẻ tham gia trò chơi đóng kịch
để nhập vai và thể hiện hành động vai theo cách riêng của mình, đề tài “Giáo
dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng kịch ở trường
mầm non” được lựa chọn nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp
GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua TCĐK, góp phần giúp trẻ tự tin hơn.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua TCĐK ở trường MN.
7
3.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua TCĐK ở trường MN.
4. Giả thuyết khoa học
Có thể GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua TCĐK ở trường MN. Mức
độ tự tin của phần lớn trẻ 5 - 6 tuổi được nghiên cứu ở mức trung bình. Nếu
xây dựng và áp dụng được một số biện pháp GDTTT thông qua TCĐK theo
hướng tạo điều kiện cho trẻ mạnh dạn nhập vai, chủ động thể hiện vai diễn
trên sân khấu thì sẽ góp phần giúp trẻ tự tin hơn.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua
TCĐK ở trường MN.
họ đối với việc GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua TCĐK ở trường MN.
7.2.3. Phương pháp điều tra bằng phiếu Anket
Dùng phiếu điều tra ý kiến của GV ở các trường MN về sự hiểu biết về
TTT và thực trạng sử dụng biện pháp GDTTT cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua
TCĐK ở trường MN.
7.2.4. Phương pháp thực nghiệm
Kiểm chứng giả thuyết đặt ra và thử nghiệm các biện pháp đề xuất.
+ TN phát hiện: Dùng để phát hiện mức độ biểu hiện TTT của trẻ 5 - 6
tuổi trong TCĐK ở trường mầm non.
+ TN tác động: Dùng để tác động sư phạm nhằm GDTTT của trẻ được
nghiên cứu.
7.3. Nhóm phương pháp xử lí số liệu
Sử dụng một số công thức toán học thống kê có liên quan: công thức
tính tỉ lệ %, công thức tính điểm trung bình cộng, độ lệch chuẩn, kiểm định
giá trị lệch chuẩn để lượng hoá kết quả nghiên cứu thực nghiệm.
8. Kế hoạch nghiên cứu
- Từ tháng 10 đến tháng 11: Xác định tên đề tài và xây dựng đề cương
nghiên cứu;
9
- Từ tháng 11 đến tháng 12: Xây dựng cơ sở lí luận
- Từ tháng 01 đến tháng 6: Khảo sát thực trạng, đưa ra một số biện
pháp, tiến hành thực nghiệm và xử lí số liệu.
- Từ tháng 6 đến tháng 10: Hoàn thành và bảo vệ luận văn.
9. Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận về giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi thông
qua trò chơi đóng kịch ở trường mầm non.
- Chương 2: Thực trạng giáo dục tính tự tin và mức độ biểu hiện tính
xử lý vấn đề một cách quyết đoán, nhanh gọn” [40, 107]
Nhóm tác giả Marjorie R.Simic, Melinda Mc Clain và Michael Shermis
(người Mỹ) trong cuốn "The Confident Learn: Help your child succeed in school"
cho rằng một đứa học trò đầy tự tin là một đứa trẻ biết đánh giá cao bản thân.
Đinh Viễn Trí, Đông Phương Tri khi đề cập vấn đề “Chiếc chìa khóa
11
vàng để đi tới thành công” đã nhắc đến yếu tố “Tự tin” đầu tiên trong 3 yếu tố
của chìa khóa vàng là: “Tự tin”, “Dũng khí” và “Lòng nhiệt tình”. Theo đó,
tác giả cho rằng: “Tự tin chính là một chiếc quyền trượng, một khi bạn có sự
tự tin thì cách nhìn cuộc sống và nhìn vào chính bản thân bạn cũng sẽ thay
đổi, khí chất sẽ càng ưu tú hơn, bạn sẽ càng lạc quan hơn”. [57, 35]
Từ những lí luận ban đầu về TTT, các nhà nghiên cứu đã phát triển
thêm và dần hình thành việc rèn luyện TTT. Tự tin là một phần vốn có trong
hành vi của loài người, nhưng nếu không được luyện tập để phát huy thì sẽ
tàn lụi theo thời gian, con người trở lên nhút nhát, sợ sệt, nhu nhược. Điều
này dễ đưa con người đến chiều hướng vô dụng. Tự tin không những để thực
hiện một một đích tức thời, mà đó là một quá trình, một lịch trình trưởng
thành của con người trong một thời gian dài.
1.1.1.1. Ở Việt Nam
Những năm gần đây vấn đề về TTT cũng được các nhà giáo dục Việt
Nam quan tâm nghiên cứu. TTT là cơ sở tâm lý của sự phát triển và thành
công của đời người, với số đông người, trí lực bình thường cộng thêm TTT
cao là có thể đạt được thành công.
Tác giả Nguyễn Thị Mĩ Lộc trong cuốn “Giáo dục giá trị sống và kĩ
năng sống cho trẻ MN” cho rằng: “Mỗi khi trẻ có cảm giác thành công, sự tự
tin lại lớn dần lên. Tự tin là một đức tính chỉ có thể có được nhờ vào việc rèn
luyện và học hỏi. Sự tự tin lớn dần lên nhờ cảm giác được yêu thương, tôn
rèn luyện bản lĩnh, nhân cách và nắm bắt kịp thời các cơ hội” [11, 21].
Tạo cho trẻ sự tự tin là việc làm vô cùng quan trọng. Nếu trẻ cảm thấy
tự tin chúng sẽ có can đảm khám phá mọi thế giới xung quanh dù chỉ một lần.
Đây là một điều đáng quan tâm khi trẻ lên 5 - 6 tuổi, tức là lúc trường học sẽ
trở thành một môi trường quan trọng trong cuộc đời của trẻ. Mỗi ngày trẻ có
những trải nghiệm mới về học tập và trẻ cần có sự tự tin để ứng phó giải
13
quyết những trải nghiệm đó, mỗi ngày, trẻ cũng có những trải nghiệm mới về
xã hội khi trẻ giao tiếp với những bạn cùng lớp, nhưng nếu trẻ thiếu tự tin, trẻ
sẽ không thích tham gia nhiều vào các hoạt động. Như vậy, các tác giả đề cao
vai trò TTT đối với quá trình phát triển đời người, phát triển lý thuyết GDTTT
lên một nấc thang mới cao hơn.
1.1.2.2. Ở Việt Nam
Cũng giống như quan điểm của nhiều tác giả nước ngoài, các tác giả
Việt Nam cũng đề cao vai trò của TTT đối với sự hình thành và phát triển
nhân cách con người.
Tác giả Hữu Khánh cho rằng trong việc nuôi dạy trẻ, điều quan trọng
là làm cho trẻ có được TTT bởi “đứa trẻ tự tin là đứa trẻ sau này sẽ đi bằng
chính đôi chân, nghị lực và trí tuệ của nó. Đứa trẻ tự tin sẽ làm nhẹ đi rất
nhiều nỗ lực dạy dỗ của gia đình, nhà trường và xã hội. Khi trẻ tự tin sẽ giúp
trẻ có nhiều cơ hội thành đạt trong cuộc sống” [26, 7].
Nhóm tác giả Dương Tân - Nguyễn An trong cuốn “Sức mạnh tính
cách” đã trích lời Napoleon để khẳng định vai trò của TTT: “Ngấm ngầm
thừa nhận mình không có năng lực, không nghi ngờ gì nữa, đã tạo cơ hội cho
thất bại”. [42, 188]
Tác giả Hà Sơn trong cuốn "Hình thành lòng tự tin cho trẻ" có viết:
"Tự tin là sức mạnh thần kỳ, chúng biến cái không thể thành cái có thể, biến
cái có thể trở thành hiện thực". [35, 141]
nào? Chẳng nhẽ một số đứa trẻ ra đời lại mang sẵn gien tự tin? Có những
đứa trẻ sinh ra để làm tổng thống?”
Trước hết, ông khẳng định vai trò của yếu tổ bẩm sinh trong việc phát
triển TTT bởi“mỗi người trong chúng ta khi sinh ra dù ít, dù nhiều đều có sẵn
trong người một cái hộp nhỏ đựng những nguyên liệu cơ bản để tác thành lên
sự tự tin sau này” [10, 18].
15
Tuy nhiên, “không thể khẳng định một đứa trẻ thật sự tự tin, cho dù nó
được thừa hưởng một gia sản quí báu của cha mẹ là “gien hướng ngoại”,
TTT còn bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác như: giáo dục, đặc điểm tâm lí cá
nhân, môi trường và tích tích cực của mỗi cá nhân, “điều quan trọng không
phải chúng ta là ai, làm nghề gì mà chính là điều chúng ta sẽ được nuôi
nấng, dạy bảo và động viên làm công việc gì” [10, 19].
Bàn về các yếu tố ảnh hưởng đến TTT, tác giả Jean Charier cũng
khẳng định: “Tình trạng sức khoẻ cũng góp phần làm ảnh hưởng tới sự tự tin
của mỗi con người trước khó khăn trong cuộc sống”. Thêm vào đó, chính ông
đã trả lời câu hỏi “Tại sao bạn lại nhút nhát? Bởi vì ban thiếu ý chí! Bởi vì
bạn có tự ti, mặc cảm không tự biết đến khả năng của mình thực sự như thế
nào và bởi vì bạn sợ”. [23, 19].
Sa Tư trong cuốn Lòng tự tin đưa ra yêu cầu “Khắc phục sợ hãi và
nhút nhát” bằng cách: chuyển nỗi sợ hãi, bất an, nhút nhát thành lòng tự tin,
đầy tính thách thức. Cần tin tưởng vào sức mạnh tinh thần, cảm thấy mình đủ
khả năng gánh vác trách nhiệm. Cần tin tưởng vào khả năng thành công, “hễ
tin là làm, hễ làm là có kết quả”. [34, 17]
1.1.3.2. Ở Việt Nam
Tác giả Hữu Khánh trong cuốn “37 phương pháp đơn giản GDTTT
cho trẻ” cho rằng tự tin không phải tự dưng mà có, “loại trừ yếu tổ bẩm sinh
của đứa trẻ về thể chất, sức khoẻ, thần kinh thì chính thái độ và sự giáo
học sinh rằng, các em sẽ hoàn thành tốt tất cả mọi nhiệm vụ được giao nếu
các em cố gắng luyện tập. [56, 25]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn trong phần kĩ năng thể hiện và nuôi dưỡng sự
tự tin, có viết: “Sẽ không thừa nếu chúng ta rèn luyện sự tự tin từ rất sớm.
Tuy vậy sẽ có thể chấp nhận con bạn còn nhiều hạn chế trong một khoảng
thời gian nào đó, sẽ có thể chấp nhận những sai sót nhất định của bạn trong
18
lần đầu tiên nhưng đó chính là những bước đệm để bạn có thể nuôi dưỡng sự
tự tin của bạn lớn dần" [38, 28].
Nếu biện pháp “Biết cách động viên và khen đứa trẻ” được Hữu
Khánh đề cập đến đầu tiên trong hệ thống 37 phương pháp GDTTT cho trẻ
[26, 11] thì tác giả Lê Thị Bừng trong cuốn “Tâm lí học ứng xử” cũng đề cập
đến biện pháp này: “Khen những khả năng, sự gắng sức và tiến bộ của người
ta là thừa nhận tài năng của người ta làm cho người ta phấn chấn, tự tin vào
sự cố gắng vươn lên của mình” [4, 11].
Nguyễn Thị Mĩ Lộc đưa ra cách thức phát triển sự tự tin ở trẻ: “Tôn
trọng trẻ, giúp trẻ xây dựng hình tượng tốt của chính mình; Nói cho trẻ biết
“Con có thể làm được”; Bồi dưỡng tài năng đặc biệt cho trẻ; Củng cố sự tự
tin mọi lúc, mọi nơi; Cho phép trẻ mắc sai lầm; Quy định hành vi; Phát triển
những ưu điểm.” [28, 124-127]
Tác giả Nguyễn Công Khanh trong bài báo “Những yếu tố ngăn cản
sự hình thành TTT ở trẻ em” cho rằng: “Sự tự tin được hình thành là kết quả
của các hành động trẻ tham gia và gặt hái được sự thành công trên các
nguyên tắc tích cực khám phá, tích cực thể hiện, trải nghiệm và giầu tương
tác… Ngoài ra sự tự tin hình thành từ sự chấp nhận, sẵn sàng đương đầu với
khó khăn, làm chủ được các kĩ năng sống” [25, 22]
Ông đưa ra Mô hình phát triển TTT cho trẻ em: tin tưởng trẻ, không
đánh giá thấp trẻ, tạo cơ hội để trẻ khám phá, trải nghiệm, tương tác; khen
mình” [13, 1077]
Theo Gael Lindefield, nếu dừng lại ở định nghĩa “Người tự tin là
người cảm thấy hài lòng về mình” thì khái niệm như vậy là tạm ổn để giao
tiếp chung chung, nhưng khi cố tìm hiểu sâu hơn cái tính chất quan trọng của
“sự hài lòng về mình” thì định nghĩa này còn nhiều điểm thiết sót. Vì vậy, cần
nghiền ngẫm về bản chất của sự tự tin, phân tích những thành phần cấu thành
20
nên nó. Các yếu tố tạo nên loại tự tin nội tâm và loại biểu hiện ra bên ngoài
tương trợ lẫn nhau, chúng tạo cho ta môt cái gì đó thật mạnh mẽ và hiệu quả
hơn ảnh hưởng đến cảm xúc, hành vi của con trẻ. [10, 5]
Theo Rudaki: “TTT chính là trụ cột của tinh thần, phong độ, khiến con
người cởi mở lạc quan, làm tiêu trừ và ngăn ngừa sinh sản lòng tự ti, biết xử
lý vấn đề một cách quyết đoán nhanh gọn”. [40, 104]
Các tác giả Nga như T.P. Xkripkina, X.L.Rubinxtein, B.X.Bratus... chỉ
ra rằng không tin vào bản thân dẫn đến sự chối bỏ tính cá nhân của mình, luôn
tìm kiếm những điểm tựa bên ngoài chứ không phải ở bản thân mình, vì vậy
họ dễ trở thành phụ thuộc và không tự thân vận động được. Sự tự tin được coi
như khả năng của con người đi ra khỏi giới hạn của bản thân.
Tác giả Lê Bích Ngọc trong cuốn “Những kĩ năng sử dụng bộ chuẩn phát
triển cho trẻ em 5 tuổi ở Việt Nam” phân chia các giá trị trong chuẩn thành các
nhóm: Nhóm giá trị để tồn tại; Nhóm giá trị để biết; Nhóm giá trị để làm và
Nhóm giá trị để cùng chung sống. Tự tin thuộc Nhóm giá trị để biết. “Tự tin là
tin vào bản thân mình: tự tin có được nhờ sự trải nghiệm giá trị của chính cá
nhân bằng so sánh với yêu cầu của giá trị. Tự tin được thể hiện ở hành vi
(phong cách, ứng xử), nội tâm (không tự ti, mặc cảm).Giá trị tự tin thể hiện ở
năng lực nhận thức được những giá trị của bản thân, tin tưởng vào khả năng
của mình, tin tưởng vào những lựa chọn, giải quyết vấn đề của bản thân” [33,
84]
Giáo dục tính tự tin cho trẻ 5 - 6 tuổi là quá trình truyền lại những kinh
nghiệm - xã hội cho trẻ nhằm phát triển các chức năng tâm lí tăng cường khả
năng tin vào bản thân của trẻ, giúp trẻ có sức mạnh ý chí để tiến hành chắc
chắc một nhiệm vụ nào đó.
Không ai sinh ra đã có ngay sự tự tin. Tự tin là nguồn khích lệ lớn dối
23
với hầu hết mọi người, là động lực để chúng ta cố gắng đạt được mục tiêu và
dành được nhiều thành tích quan trọng. Vì vậy, gia đình, nhà trường và xã hội
có trách nhiệm vô cùng to lớn trong việc phát triển TTT cho trẻ.
1.2.2. Những biểu hiện tính tự tin của trẻ 5 - 6 tuổi
1.2.2.1. Quan điểm của các tác giả về những biểu hiện của tính tự tin
Theo Gael Lindefield, trong mỗi con người nói chung cũng như con
trẻ nói riêng có hai loại tự tin biểu hiện rất rõ ràng: Tự tin bên trong và Tự tin
thể hiện ra bên ngoài. [10, 6]
* Tự tin bên trong: Có 4 dấu hiệu làm tiêu chuẩn chính để đánh giá
một người có được sự tự tin bên trong: Luôn tự hào về bản thân và tính ích
kỷ: Biết rõ khả năng của bản thân; Luôn biết những mục tiêu cụ thể; Tư
tưởng lạc quan: [10, 7-10]
* Sự tự tin thể hiện ra bên ngoài: Qua các kĩ năng trong bốn lĩnh vực
sau: Kỹ năng giao tiếp; Tính quyết đoán; Kỹ năng trình bày, lập luận trước
đám đông; Khả năng kiểm soát những cảm xúc của bản thân: [10, 13-15]
Hai loại biểu hiện bên trong và bên ngoài của TTT luôn gắn quyện, hỗ trợ
lẫn nhau thành một thể thống nhất, chúng sẽ tạo cho ta một cái gì đó thật mạnh
mẽ và hiệu quả hơn trong hoạt động. Có những trẻ có thừa TTT bên trong nhưng
lại không thể nào thể hiện được những điểm mạnh cho mọi người nhìn thấy. Cho
nên các nhà giáo dục phát triển hài hòa giữa yếu tố bên trong và bên ngoài của
sự tự tin, tạo cho trẻ môi trường thuận lợi, an toàn giúp cho trẻ hình thành và
phát triển TTT một cách đầy đủ hơn, cả tự tin bên trong và bên ngoài.
Theo Mô hình rèn luyện trí tuệ xúc cảm và kĩ năng sống thế hệ mới You can do it Education đưa ra những ví dụ về thái độ tự tin như sau:
1. Tự tin trong học tập: Lựa chọn để tham gia vào một hoạt động, một
môn học mới và khó khăn. Tự làm một bài tập, một việc khó mà không cần
người khác giúp đỡ. Giọng nói to rõ ràng, dễ nghe. Cố gắng hết sức để trả lời
25