Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi dân gian tại trường mầm non tiền phong, mê linh, hà nội - Pdf 41

TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC MẦM NON
========

NGUYỄN THU TRANG

PHÁT TRIỂN NGÔN NGỮ CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
THÔNG QUA TRÒ CHƠI DÂN GIAN
TẠI TRƢỜNG MẦM NON TIỀN PHONG,
MÊ LINH, HÀ NỘI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Phƣơng pháp phát triển ngôn ngữ

HÀ NỘI, 2016
HÀ NỘI, 2016


LỜI CẢM ƠN

Em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trong trường Đại học Sư phạm
Hà Nội 2, các thầy cô khoa giáo dục mầm non đã giúp đỡ em trong quá trình học
tập tại trường và tạo điều kiện cho em được làm khóa luận tốt nghiệp.
Đồng thời em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới cô giáo Vũ Thị Tuyết đã tận tình
chỉ bảo, hướng dẫn em để em có thể hoàn thành khóa luận một cách tốt nhất.
Trong quá trình nghiên cứu không tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế nên
em rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn.
Em xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên

Nguyễn Thu Trang

1.3.1. Vai trò của ngôn ngữ trong việc phát triển toàn diện cho trẻ mẫu giáo lớn
............................................................................................................................14
1.4. Khái lược về các trò chơi được sử dụng trong trường mầm non ................16
1.4.1. Khái quát về các trò chơi được sử dụng trong trường mầm non..............16
1.4.2. Trò chơi dân gian .....................................................................................21
Chương 2. Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi dân gian .......33
2.1. Vai trò của trò chơi dân gian trong việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi
...............................................................................................................................33
2.2. Tổ chức phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi thông qua trò chơi dân gian 35
2.2.1. Khảo sát đề xuất hoạt động ......................................................................35
KẾT LUẬN ..............................................................................................................60


DANH MỤC VIẾT TẮT
NXB: Nhà xuất bản
PGS. TS: Phó giáo sư Tiến sĩ


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Trong những giai đoạn trước, việc giáo dục mầm non ở đất nước ta chưa
thực sự được xã hội quan tâm, chú trọng. Trẻ em hầu hết được chăm sóc về mặt thể
chất, việc trẻ đi mẫu giáo trong quan niệm của người lớn chỉ dừng lại ở mức “gửi
trẻ” để các bậc cha mẹ có thời gian lo toan cuộc sống thường nhật. Nhưng đối với
xã hội hiện nay, giáo dục trong đó giáo dục mầm non là một trong những nhiệm vụ
được đưa lên hàng đầu, bởi trường mầm non là nền móng, là mắt xích đầu tiên của
hệ thống giáo dục quốc dân. Nói cách khác, muốn xây một ngôi nhà bền vững cần
có một móng nhà chắc chắn – muốn có một con người tài đức cần chuẩn bị nền tảng
vững vàng.
Nhiệm vụ giáo dục cho trẻ mầm non hướng đến sự phát triển toàn diện trên

gian nó chứa đựng cả nền văn hóa dân tộc Việt Nam độc đáo và giàu bản sắc.
Những tâm hồn được chắp thêm đôi cánh, giúp trẻ phát triển tư duy, sáng tạo những
cái mới và cho trẻ sự khéo léo. Không chỉ có vậy mà trẻ còn hiểu thêm về tình bạn,
tình yêu gia đình, tình yêu quê hương đất nước”.
Thông qua trò chơi dân gian , trẻ được tự do hoạt động, vừa học vừa chơi.
Ngoài việc học về văn hóa – lịch sử dân tộc, khám phá thế giới tự nhiên, thế giới xã
hội của người lớn… trẻ còn được rèn luyện phát triển ngôn ngữ. Khi chơi, trẻ vừa
được chơi, vừa được đọc, vừa được hát những bài vè, đồng dao, câu đố… vừa được
rèn luyện ngôn ngữ.
5 – 6 tuổi là giai đoạn quan trọng trong sự hình thành nhân cách, trong sự
phát triển ngôn ngữ đối với trẻ. Việc phát triển ngôn ngữ trong giai đoạn này có thể
thực hiện qua nhiều đường kênh khác nhau. Và phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông
qua trò chơi dân gian là một đường kênh. Hình thức này đem lại cho trẻ sự hào
hứng khi tham gia, việc rèn luyện phát triển ngôn ngữ cũng trở nên dễ dàng hơn.
Do vậy, là một giáo viên mầm non tương lai, tôi đã nhận thức rõ được tầm
quan trọng của việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ thông qua trò chơi dân gian . Vì thế

2


chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài “ Phát triển ngôn ngữ cho trẻ 5 – 6 tuổi thông
qua trò chơi dân gian tại trường mầm non Tiền Phong, Mê Linh, Hà Nội”.
2. Lịch sử vấn đề
Từ xa xưa, trò chơi là hình thức giải trí không thể thiếu trong đời sống con
người, nó mô tả lại đời sống tự nhiên, xã hội, mô tả lại những hoạt động, công việc
của con người và nó được truyền từ đời này qua đời khác, trở thành nét văn hóa, giá
trị văn hóa của mỗi dân tộc, mỗi quốc gia. Trò chơi thỏa mãn được nhu cầu của cá
nhân, tập thể thậm chí cộng đồng người. Chúng ta không thể phủ nhận giá trị mà trò
chơi đem lại trong đời sống. Trong hoạt động học tập trò chơi có tác dụng phát triển
trí tuệ như rèn trí thông minh, óc sáng tạo, phát triển phản xạ nhanh nhẹn, hoạt bát,

Nguyễn Thuý Loan, Đặng Diệu Trang, Nguyễn Huy, Trần Hoàn sưu tập và biên
soạn Đồng dao và trò chơi trẻ em người Việt, Bộ với khúc đồng dao của NXB Giáo
dục. Chính nội dung của những bài đồng dao đã góp phần phát triển ngôn ngữ, mở
rộng vốn hiểu biết cho trẻ về môi trường xung quanh và phát triển óc sáng tạo. . .
đặc biệt nó làm tăng tính hấp dẫn của trò chơi dân gian với trẻ.
Trò chơi dân gian rất phong phú, đa dạng và có ý nghĩa sâu sắc trong việc
giáo dục trẻ. Vì vậy, nó được các nhà tâm lý, giáo dục quan tâm nghiên cứu tiêu
biểu như: PGS. TS. Nguyễn Ánh Tuyết, Trương Kim Oanh, Đào Thu Trang, Huy
Hà… Họ đã đề cập đến lý luận và phương pháp tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ
mẫu giáo. Các tác giả đã sưu tầm và giới thiệu được một số tài liệu tham khảo về trò
chơi như: Hướng dẫn trẻ chơi như thế nào, Trò chơi của trẻ em, Trò chơi dân gian
cho trẻ em dưới 6 tuổi, đặc biệt là đã sưu tầm và lựa chọn được những trò chơi dân
gian mang tính trí tuệ như trò chơi ô ăn quan, chơi chuyền, chơi cờ, chơi tang…
Đây là những tài liệu giúp giáo viên mầm non thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc,
giáo dục trẻ trong trường mầm non, nhất là những nơi không đủ điều kiện tổ chức
các loại trò chơi cho trẻ mẫu giáo.
Để trò chơi dân gian trở thành một trong những phương tiện giáo dục và phát
triển toàn diện cho trẻ mầm non, trong những năm gần đây có một số tác giả đi sâu
nghiên cứu biện pháp tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo như: Thạc sĩ
Huỳnh Kim Vui với Một số biện pháp tổ chức trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo

4


bé nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho trẻ; Thạc sĩ Đặng Thị Sáu với
Một số biện pháp gây hứng thú đối với trò chơi dân gian cho trẻ mẫu giáo lớn…
Điểm qua các công trình nghiên cứu trên cho thấy, từ trước đến nay trò chơi
nói chung, trò chơi dân gian nói riêng được sử dụng nhiều trong các trường mầm
non Việt Nam và được coi là một bộ phận quan trọng trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ mầm non. Nhưng trên thực tế giáo viên chưa khai thác hết tiềm năng
của các loại trò chơi, đặc biệt là trò chơi nhằm mục đích phát triển trí tuệ, ngôn ngữ



NỘI DUNG
CHƢƠNG 1. CƠ Sở LÝ LUậN
1.1. Khái niệm chung về ngôn ngữ, phát triển ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm ngôn ngữ
V. Lênin đã khẳng định rằng: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan
trọng nhất của con người”. Ngôn ngữ là một hệ thống các ký hiệu có cấu
trúc, quy tắc và ý nghĩa. Đồng thời, ngôn ngữ cũng là phương tiện để phát
triển tư duy, truyền đạt và tiếp nhận những nét đẹp của truyền thống văn hóa lịch sử
từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cũng có khái niệm khác về ngôn ngữ, theo E. L.
Tikhêeva – Nhà giáo dục học Liên xô cũ đã khẳng định rằng: “Ngôn ngữ là công cụ
để tư duy, là chìa khóa để nhận thức, là vũ khí để chiếm lĩnh kho tàng kiến thức của
dân tộc, của nhân loại. Do ngôn ngữ giữ vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống
con người…”
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội, là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương
tiện giao tiếp cơ bản và quan trọng nhất của con người. Ngôn ngữ là phương tiện để
tư duy.
1.1.2. Bản chất và chức năng của ngôn ngữ
a. Bản chất của ngôn ngữ
* Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội
Con người khác với con vật ở chỗ là con người có ngôn ngữ. Ngôn ngữ của
con người không phải là một hiện tượng tự nhiên, cũng không phải là sự phản xạ có
tính bản năng như phản xạ có điều kiện ở một số sinh vật. Nó cũng không phải là
hiện tượng có tính cá nhân, Tuy rằng ngôn ngữ có liên quan tới mỗi cá nhân con
người, nhưng lại không lệ thuộc vào cá nhân con người. Ngôn ngữ là sản phẩm của
tập thể, nó tồn tại và phát triển với sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Ngôn ngữ chỉ sinh ra trong xã hội do ý muốn và nhu cầu của con người phải
giao tiếp với nhau trong quá trình sống, lao động, sinh hoạt, tồn tại và phát triển.



8


giao thông…), những kết hợp âm thanh của âm nhạc, sự pha trộn đường nét và màu
sắc của hội họa,… nhưng ngôn ngữ vẫn là phương tiện trọng yếu nhất.
Trong quá trình sống của mình, con người dùng ngôn ngữ với tư cách là một
công cụ để giao tiếp và tư duy, từ đó xác lập mối quan hệ với thế giới xung quanh,
với cộng đồng để nhận thức và cải tạo trở lại. Hai chức năng này của ngôn ngữ
được thể hiện không tách rời nhau, trong một số trường hợp nhất định chúng xuất
hiện cùng nhau bổ sung hỗ trợ cho nhau.
* Ngôn ngữ là phương tiện để tư duy
Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ gắn liền với chức năng thể hiện tư duy của
nó bởi vì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ có thể giúp ta trao đổi tư tưởng tình cảm với
nhau. Do đó chúng ta có sự hiểu biết lẫn nhau, cùng nhau tổ chức công việc chung
trên mọi lĩnh vực hoạt động nếu bản thân ngôn ngữ đó tích trữ kinh nghiệm, tư
tưởng, tình cảm của con người. Chức năng này thể hiện tư duy của ngôn ngữ ở hai
khía cạnh:
+ Ngôn ngữ là hiện thực trực tiếp của tư tưởng. Không có từ ngữ, không có
câu nói, câu văn nào biểu hiện được khái niệm hay tư tưởng của người nói, ngươi
viết. Ngược lại, không có ý nghĩ tư tưởng nào không tồn tại dưới dạng ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là biểu hiện thực tế của tư tưởng.
+ Ngôn ngữ trực tiếp tham gia vào quá trình hình thành tư tưởng. Mọi ý nghĩ,
tư tưởng chỉ trở nên rõ rang khi được biểu hiện bằng ngôn ngữ. Không có ngôn ngữ
thì không có tư duy. Không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những âm thanh trống
rỗng, vô nghĩa, thực chất là không có ngôn ngữ.
1.1.3. Phát triển ngôn ngữ
Khái niệm phát triển: Theo từ điển tiếng việt thì phát triển là sự mở mang, từ
bé thành lớn, từ yếu thành mạnh. Phát triển cũng có thể được hiểu là diễn biến khi
nó đứng trong chiều hướng tang từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ thấp đến cao, từ

Trong ngôn ngữ nói chung, sự lên xuống giọng nói luôn truyền tải ý nghĩa
nhất định. Chẳng hạn, ta thường lên giọng khi hỏi và hạ giọng khi ra lệnh hay có

10


một âm điệu đặc biệt khi cảm thán. Sự biến đổi giọng khi ấy tác động lên toàn bộ
câu nói và hiện tượng này gọi là ngữ điệu. Trẻ mầm non cũng vậy. Trẻ biết sử dụng
ngữ điệu khi giao tiếp hay khi kể chuyện, khi biểu lộ cảm xúc. Ngữ điệu của trẻ
thay đổi theo tâm trạng, đó là đặc điểm phổ biến nhất ở trẻ mầm non. Trẻ thường
nhẹ nhàng, ngọt ngào, trìu mến để biểu lộ sự yêu thương, nũng nịu khi giận dỗi hay
thô và mạnh khi giận dữ.
Về ngữ pháp:
Vào cuối tuổi mẫu giáo, trẻ đã có thể sử dụng câu Tiếng Việt một cách thành
thạo mặc dù quá trình đó diễn ra không có ý thức, khác với quá trình học ngữ pháp
ở phổ thông. Những trẻ tích cực giao tiếp, tích cực tìm hiểu các hiện tượng ngôn
ngữ thì không những trẻ hiểu từ ngữ và nắm một cách sâu sắc mà còn sáng tạo ra
những từ ngữ, những ý niệm, cách nói chưa hề có trong ngôn ngữ của người lớn.
Về sự phát triển ngôn ngữ mạch lạc:
Ngôn ngữ mạch lạc thể hiện tốc độ phát triển tương đối cao không những về
phương diện ngôn ngữ mà còn cả về phương diện tư duy. Đây chính là hình thức cao
nhất của ngôn ngữ, là kỹ năng khó nhất phải đến tuổi mẫu giáo lớn mới thể hiện rõ.
Ngôn ngữ mạch lạc của trẻ mẫu giáo lớn xuất phát từ nhu cầu vốn từ tăng
nhanh, trẻ muốn diễn đạt những suy nghĩ có liên quan đến nhau về một chủ đề nhất
định được diễn đạt bởi từ ngữ chính xác, có hình ảnh, trong đó câu nói được xây
dựng đúng theo các quy luật ngữ pháp, logic chặt chẽ.
Ngôn ngữ muốn được coi là mạch lạc cần đầy đủ những yếu tố sau:
+ Các câu phải đúng ngữ pháp và có nghĩa
+ Nội dung thông báo phải đầy đủ, khúc chiết, chính xác, hợp lí, có chủ đề
nhất định

thành những mối quan hệ qua lại trong nhóm trẻ em và những người xung quanh,
đặc biệt là đối với sự phát triển trí tuệ của trẻ em. Muốn cho ngôn ngữ được mạch
lạc thì những điều trẻ định nói ra cần phải được suy nghĩ kĩ càng, mạch lạc ngay từ

12


trong đầu, tức là cần được tư duy hỗ trợ. Mặt khác chính ngôn ngữ mạch lạc là
phương tiện làm cho tư duy của trẻ phát triển lên một chất lượng mới đó là việc nảy
sinh yếu tố tư duy logic, nhờ đó mà toàn bộ sự hát triển của trẻ nâng lên một trình
độ mới cao hơn.
Tóm lại, trong các độ tuổi của mẫu giáo, ngôn ngữ của trẻ được phát triển
dần dần về các mặt: vốn từ, ngữ âm, ngữ pháp và xuất hiện dần kiểu ngôn ngữ mạch
lạc. Đến cuối tuổi mẫu giáo (5 – 6 tuổi) trẻ đã có khả năng nắm được ý nghĩa của từ
vựng thông dụng, phát âm gần đúng sự phát âm của người lớn, biết dùng ngữ điệu
phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp và đặc biệt là nắm được hệ thống ngữ pháp phức
tạp bao gồm những quy luật ngôn ngữ tinh vi nhất về cú pháp, trẻ nói năng mạch lạc
và thoải mái. Trẻ đã thực sự nắm vững tiếng mẹ đẻ trong phong cách sinh hoạt và ở
một mức độ nào đó là phong cách nghệ thuật (tức là nói năng có văn hóa).
Tuy nhiên, trong thực tế còn khá nhiều trẻ em nói năng chưa đúng, phát âm
ngọng, dùng từ sai, nói câu què cụt, ngôn ngữ chưa mạch lạc, điều này đáng để cho
giáo dục phải suy nghĩ, cần phải có dạy đúng đắn để khi ra trường mẫu giáo, trẻ
nắm vững được tiếng mẹ đẻ, nếu không trẻ sẽ khó khăn trong những năm tháng học
tập phổ thông và trong bước đường trưởng thành sau này.
Để làm việc đó một cách tích cực, ở gia đình cũng như ở trường mẫu giáo
cần phải coi việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ là một trong những nội dung quan
trọng nhất của giáo dục mầm non và nhiệm vụ đó cần phải được thực hiện ngay từ
năm đầu tiên cho tới cuối tuổi mẫu giáo đặc biệt là thời kì phát cảm ngôn ngữ (2 – 5
tuổi). Tất nhiên sau này cá nhân cần phải học thêm nhiều ở trường phổ thông, trong
sách báo và ngoài cuộc sống để nắm vững một cách có ý thức hơn, toàn diện hơn,

việc tạo cho trẻ nghe hiểu và được nói là hết sức cần thiết trong giáo dục ngôn ngữ.
*Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục đạo đức

14


Ngôn ngữ đóng vai trò rất lớn trong việc điều chỉnh những hành vi và việc
làm của trẻ. Trong giao tiếp hàng ngày, thông qua chuyện kể, ca dao, đồng dao,…
trẻ cảm nhận được cái hay cái đẹp trong ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành
vi, cuộc sống.
Thông qua ngôn ngữ trẻ biết những gì nên – không nên, qua đó rèn luyện
những phẩm chất đạo đức tốt, dần dần hình thành những khái niệm ban đầu về đạo
đức: ngoan – hư, tốt – xấu,…
*Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thẩm mĩ
Trong giao tiếp với người lớn, trẻ nhận thức được cái đẹp trong thế giới xung
quanh, khiến tâm hồn trẻ càng thêm bay bổng, trí tưởng tượng thêm phong phú,
đồng thời trẻ biết yêu quý cái đẹp, trân trọng và có ý thức sáng tạo ra cái đẹp.
Thông qua ngôn ngữ văn học, trẻ cảm nhận được cái hay cái đẹp trong ngôn
ngữ tiếng mẹ đẻ, cái đẹp trong hành vi cuộc sống. Từ đó giáo dục trẻ có ý thức trân
trọng những sản phẩm văn hóa của dân tộc mình.
*Vai trò của ngôn ngữ đối với việc giáo dục thể lực
Trong các buổi tập thể dục, giáo viên dùng lời để diễn đạt, hướng dẫn, giải
thích cách thực hiện vận động. Trẻ nghe và điều chỉnh vận động theo yêu cầu của
giáo viên. Hàng ngày, giáo viên hướng dẫn trẻ làm vệ sinh cá nhân, cách sử dụng
thực phẩm, đồng thời giáo viên dùng lời nói hướng dẫn trẻ ăn uống có vệ sinh, có
văn hóa.
Như vậy, ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ. Sự phát
triển chậm trễ về ngôn ngữ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện cho trẻ.
Cho nên việc phát triển lời nói đúng lúc và phù hợp từng lứa tuổi là rất cần thiết.
Phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo lớn đóng vai trò quan trọng giúp các

và phát triển. Do vậy, chơi là hoạt động chủ đạo trong giáo dục trẻ em.
Tina Bruce, một tác giả hàng đầu về Giáo dục mầm non đã tóm tắt về giá trị
của việc chơi đùa như sau: "Các nghiên cứu về não bộ, cũng như nghiên cứu trong

16


các lĩnh vực khác, đã cho thấy ngày càng rõ hơn về nhu cầu được vui chơi của tuổi
thơ. Chơi đùa đóng vai trò là cơ chế tiếp sức cho những suy nghĩ mang tính can
đảm, sáng tạo và nghiêm túc ở tuổi trưởng thành". Vui chơi đóng vai trò quan trọng
đối với sự phát triển của trẻ vì thông qua đó trẻ học được rất nhiều thứ về môi
trường xung quanh, phát triển các giác quan, tìm hiểu sở thích của bản thân v. v. .
Cha mẹ cần hiểu về việc chơi đùa của trẻ cũng như vai trò của mình trong việc này.
Thay vì việc mua những đồ chơi đắt tiền và để đó cho trẻ chơi, người lớn cần chơi
cùng trẻ, hòa mình vào cuộc sống của trẻ thơ. Việc vui chơi cho phép trẻ hiểu được
tương tác xã hội là thế nào, để tìm ra cách giải quyết vấn đề, để tưởng tượng, để
khám phá và tìm ra những gì là an toàn và những gì thì không. Nói một cách khác,
trẻ em học thông qua việc chơi. Nhiều người trong chúng ta còn chưa đánh giá đúng
mức sự ích lợi của trò chơi trong việc giáo dục trẻ em. Đôi khi họ còn cho rằng đó
là một thứ công việc vô bổ, mất thời giờ. . . quan niệm đó hoàn toàn sai lầm.
Với người lớn, trò chơi là giải trí, thư giãn, giúp cho đầu óc bớt căng thẳng
sau những giờ làm việc mệt nhọc. Với trẻ em, ngoài sự giải trí, trò chơi còn là một
nhu cầu cần thiết cho sự phát triển trí, đức, thể và nhân cách con người. Đối với
việc phát triển ngôn ngữ, trò chơi là một con đường hiệu quả trong những phương
pháp giáo dục, giúp trẻ em rèn luyện ngôn ngữ và phát triển toàn mỹ các giác quan
chính, làm cho trẻ khéo léo hơn, trí tưởng tượng phong phú hơn. Trò chơi còn giúp
trẻ biết quan sát và phản ứng nhanh, biết tôn trọng kỷ luật, biết tự chủ, từ đó nảy nở
tình đồng đội, đoàn kết thương yêu nhau.
Trong phương pháp giáo dục hiện đại, trò chơi là một môn huấn luyện quan
trọng. Nước Bỉ đứng hàng đầu về tiến bộ sư phạm, thấy rõ sự quan trọng và ích lợi

như: chạy nhảy, kéo đẩy, mang vác…
- Luyện giác quan: Với những trò chơi phản ứng nhanh, ghi nhớ, nhanh mắt,
thính tai, lẹ tay, quan sát, tập trung tư tưởng… (trò chơi Kim, thò thụt, cái tát bất
ngờ, bịt mắt bắt dê...)

18


- Luyện ý chí và ý thức: Hăng say đua tranh để giành chiến thắng; tự chủ,
không rụt rè, sợ hãi, không bị lôi cuốn bởi nhiệt tình bồng bột; chấp hành kỷ luật
của trò chơi; kiên nhẫn trong khi chơi; biết sáng tạo, linh động.
- Luyện tính tình: Các em trở nên vui vẻ, sôi động; rèn luyện tính đồng đội,
biết đoàn kết gắn bó với nhau để giành chiến thắng, phát triển năng khiếu tốt, sự can
đảm, gan dạ, lòng vị tha…
Trò chơi còn giáo dục các em biết ý thức công dân, những em biết tự giác tôn
trọng luật chơi, khi lớn lên, cũng sẽ tự giác giữ đúng pháp luật của quốc gia, luật lệ
của hàng xóm... nếu các em không tự giác thì chúng ta phải uốn nắn dần dần.
Trò chơi cũng có thể chữa trị cho những em bị trầm uất, bị căng thẳng hay
suy nhược thần kinh… Đối với đối tượng nghiên cứu là trẻ mầm non, hoạt động vui
chơi mang lại những lợi ích đặc thù riêng biệt.
Hoạt động vui chơi là phương tiện giáo dục và phát triển toàn diện cho trẻ
mẫu giáo. Hoạt động vui chơi góp phần củng cố, chính xác hóa, cụ thể hóa, làm
phong phú vốn hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh vì nội dung hoạt động vui
chơi của trẻ phản ánh thế giới xung quanh sẽ giúp trẻ hiểu sâu sắc hơn về thế giới
xung quanh. Để thỏa mãn nhu cầu chơi, trẻ không những vận dụng những hiểu biết
đã có mà trong quá trình chơi hấp dẫn, sự hứng thú và tính chủ thể hoạt động thúc
đẩy trẻ tới chiếm lĩnh tri thức mới. Điều này ảnh hưởng tích cực đến nhu cầu nhận
thức của trẻ.
- Hoạt động vui chơi là mảnh đất tốt để phát triển hoạt động thức của trẻ như
cảm giác, tri giác, trí nhớ, tư duy, đặc biệt là trí tưởng tượng và ngôn ngữ.

học được cách giao tiếp có văn hóa với ngôn từ trong sang, giàu hình ảnh phù hợp
với lứa tuổi của mình.

20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status