biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5 6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề ở trường mầm non - Pdf 32

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Ngô Thị Bích Hồng

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH TỰ LỰC CHO TRẺ
MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG
VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Ngô Thị Bích Hồng

BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH TỰ LỰC CHO TRẺ
MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG
VAI THEO CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON
Chuyên ngành: Giáo dục học ( Mầm non)
Mã số: 60 14 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. Trương Thị Xuân Huệ

Thành phố Hồ Chí Minh – 2013

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện, các số liệu và
kết quả nghiên cứu trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa được công bố trong công
trình nghiên cứu nào.
Tác giả
Ngô Thị Bích Hồng

2


MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .............................................................................................................. 1
LỜI CAM ĐOAN ........................................................................................................ 2
MỤC LỤC .................................................................................................................... 3
PHẦN MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 5
1. Lý do chọn đề tài .............................................................................................................5
2. Mục đích nghiên cứu ......................................................................................................7
3. Nhiệm vụ nghiên cứu ......................................................................................................7
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu ..............................................................................8
5. Giả thuyết nghiên cứu ....................................................................................................8
6. Giới hạn và phạm vi nghiên cứu ...................................................................................8
7. Biện pháp nghiên cứu .....................................................................................................8
8. Những đóng góp mới của đề tài .....................................................................................9

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA BIỆN PHÁP GIÁO DỤC TÍNH TỰ LỰC
CHO TRẺ MẪU GIÁO 5-6 TUỔI TRONG TRÒ CHƠI ĐÓNG VAI THEO
CHỦ ĐỀ Ở TRƯỜNG MẦM NON ......................................................................... 10
1.1. Lịch sử nghiên cứu vần đề .......................................................................................10
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới .................................................................................10
1.1.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam ..................................................................................12

3.1. Cơ sở đề xuất biện pháp: ..........................................................................................60
3.1.1. Cơ sở thực tiễn: .....................................................................................................60
3.1.2. Cơ sở lý luận: ........................................................................................................60
3.1.3. Xây dựng một số biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo lớn trong trò
chơi đóng vai theo chủ đề................................................................................................61
3.1.4. Sự phối hợp giữa các số biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo lớn trong
trò chơi đóng vai theo chủ đề ..........................................................................................69
3.1.5. Điều kiện thực hiện các biện pháp giáo dục tính tự lực trong trò chơi đóng vai
theo chủ đề của trẻ mẫu giáo lớn:....................................................................................70
3.2.Tổ chức thử nghiệm: ..................................................................................................71
3.2.1. Mục đích thử nghiệm: ...........................................................................................71
3.2.2. Nội dung thử nghiệm: ...........................................................................................72
3.2.3. Tiến hành thử nghiệm: ..........................................................................................73
3.3. Phân tích kết quả thử nghiệm ..................................................................................74
3.3.1. Kết quả đo trước khi thử nghiệm ..........................................................................74
3.3.2. Kết quả đo sau khi thử nghiệm: ............................................................................77

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ................................................................................... 87
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................................ 89
PHẦN PHỤ LỤC ....................................................................................................... 94

4


PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải có những con người
độc lập, năng động sáng tạo, có trình độ khoa học công nghệ cao cùng với những phẩm chất
nhân cách phù hợp để có khả năng sáng tạo và áp dụng công nghệ hiện đại vào cuộc sống và
trong sản xuất. Để đạt được điều đó thì giáo dục là một trong những nhân tố cơ bản nhất

đo để đánh giá người khác và đánh giá bản thân. Tính tự lực sẽ điều chỉnh hành vi của trẻ
cho phù hợp với chuẩn mực và quy tắc xã hội, từ đó mà hành vi của trẻ mang tính chủ động
rõ nét hơn.
Tính tự lực liên quan trực tiếp đến quá trình phát triển tính tích cực sáng tạo của trẻ:
tính tự lực liên quan chặt chẽ đến tính tích cực. Tính tích cực và tính tự lực là hai tính cách
có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển nhân cách của trẻ. Bên cạnh đó, tính sáng tạo
cũng có liên quan đến tính tự lực. Những trẻ sáng tạo, có nhiều cách hoạt động mới riêng
biệt.
Tính tự lực thúc đẩy nhanh quá trình chuẩn bị cho trẻ vào lớp 1: Trong quá trình học
tập, để chiếm lĩnh tri thức khoa học đòi hỏi học sinh lớp 1 phải biết cách làm việc một cách
tự giác, độc lập, . . Điều đó đòi hỏi trẻ phải có tính tự lực cao. Tính tự lực sẽ giúp trẻ có tính
chủ động, bền bỉ, và sự nổ lực của ý chí trong quá trình hoạt động: tuân theo nội quy của
nhà trường và thực hiện những yêu cầu của giáo viên hay của tập thể lớp đề ra. Về thực tiễn:
* Giáo dục mầm non là bậc học đầu tiên của hệ thống giáo dục quốc dân và mục tiêu
trong chương trình giáo dục mầm non năm 2009 đã xác định “Cần phát triển một số giá trị,
nét tính cách phẩm chất cần thiết phù hợp của lứa tuổi như : mạnh dạn, tự tin, tự lực, sáng
tạo, linh hoạt, tự giác. Tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia vào cuộc sống, chuẩn bị cho
việc học tập ở lớp 1 và các bậc học sau này có kết quả . . .” Chính ở đây khẳng định, việc
giáo dục và hình thành tính tự lực cho trẻ nói chung và cho trẻ mẫu giáo nói riêng là rất cần
thiết.
Bên cạnh đó, trong bộ chuẩn phát triển trẻ 5 tuổi có đề ra các chỉ số 5, 16, 31, 33, 43,
118, 119 về tính tự lực như sau: chủ động làm một số công việc đơn giản hàng ngày, chủ
động giao tiếp với bạn, thực hiện một số công việc theo cách riêng của mình, thể hiện ý
tưởng của bản thân thông qua các hoạt động, . . .
Đồng thời, năm học 2012 – 2013 là năm mà Phòng Mầm non của Sở Giáo dục và
Đào tạo TP.HCM chọn Hoạt động vui chơi là chuyên đề trọng tâm, và chú trọng đến góc
phân vai (hay còn gọi là trò chơi đóng vai theo chủ đề). Trong đó có đưa ra các tiêu chí đánh
giá trẻ, và một trong những tiêu chí đó là khả năng tự lực của trẻ trong trò chơi.
6


Biểu hiện tính tự lực của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo
chủ đề.

-

Biện pháp mà giáo viên dạy lớp lá sử dụng trong quá trình giáo dục tính tự lực
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề tại một số trường
Mầm non TP. HCM.

3.3.

Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề.

7


3.4.

Tiến hành thử nghiệm sư phạm một số biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo chủ đề để kiểm nghiệm hiệu quả
các biện pháp đó.

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quá trình giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo
chủ đề ở trường mầm non.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Biệp pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo
chủ đề ở trường mầm non.

“Tính tự lực”, “Tính tự lực trong hoạt động của trẻ”, “Tính tự lực trong hoạt động vui chơi”,
“Tính tự lực trong trò chơi đóng vai theo chủ đề”, “Biện pháp”.
8


Làm rõ các lý luận về “Đặc điểm phát triển tính tự lực ở trẻ em”, “Đặc điểm tính tự lực
của trẻ 5-6 tuổi”, hệ thống hóa một số biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5-6
tuổi trong hoạt trò chơi đóng vai theo chủ đề..
7.2.

Biện pháp nghiên cứu thực tiễn

o Biện pháp quan sát:
- Quan sát những biểu hiện tính tự lực của trẻ mẫu giáo lớn trong trò chơi đóng vai
theo chủ đề.
- Quan sát biện pháp giáo dục tính tự lực trong quá trình tổ chức trò chơi đóng vai theo
chủ đề của giáo viên lớp lá đối với trẻ mẫu giáo lớn .
o Biện pháp điều tra: điều tra bằng phiếu hỏi để làm rõ nhận thức của giáo viên
dạy lớp lá về các biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo lớn trong quá trình tổ chức
trò chơi đóng vai theo chủ đề.
o Biện pháp thử nghiệm sư phạm: sử dụng các biện pháp giáo dục tính tự lực ở trẻ
5-6 tuổi trong quá trình tổ chức trò chơi đóng vai theo chủ đề.
o Biện pháp thống kê toán học:
- Tỉ lệ % trẻ có tính tự lực ở các mức độ phát triển khác nhau trong trò chơi đóng vai
theo chủ đề trước và sau thử nghiệm.
- Tỉ lệ % giáo viên sử dụng các biện pháp giáo dục tính tự lực trong quá trình tổ chức
trò chơi đóng vai theo chủ đề ở lớp Mẫu giáo lớn.

8. Những đóng góp mới của đề tài
Hai thang đánh giá biểu hiện tính tự lực của trẻ 5-6 tuổi trong trò chơi đóng vai theo

những quan điểm tính tự lực là một nét tính cách của nhân cách. Muốn hình thành nó phải
giáo dục cho trẻ thói quen hành động, suy nghĩ một cách độc lập, không ỷ lại vào người
khác.
T.I. Galina đề cập đến tính tự lực trong hành vi đạo đức. Theo tác giả, sự phát triển
của tính tự lực được hình thành trên cơ sở “Hình thức mới của tự ý thức”. Theo Galina, hình
thành và phát triển tính tự lực được thực hiện thông qua việc ý thức và đánh giá những hành
động của bản thân, quan hệ của bản thân với môi trường và những người xung quanh.
10


Một số nhà nghiên cứu gắn tính tự lực với các quá trình tâm lý như: tư duy ý chí, trí
nhớ, trong công trình của các tác giả: S.L. Rubinstein, T.I. Galina, I.U.A Đmitrieva. . .)
Theo các tác giả thì tính tự lực gắn chặt với ý chí và xem nó như một cấu trúc phức tạp,
nhưng khi đã hình thành thì tồn tại như một phẩm chất có tính cách bền vững và không thay
đổi.
S.L. Rubinstein nghiên cứu tính tự lực trong mối quan hệ với nhiệm vụ đặt ra. Theo
ông, tính tự lực gắn chặt với tư duy. Vì vậy giáo dục tính tự lực cho trẻ đòi hỏi trẻ phải biết
vận dụng những kiến thức , kỹ năng đã có vào tình huống mới.
1.1.1.2.Theo các nhà giáo dục hiện đại
T.I. Galina, R.G.Nhetrave, K.D.Usinxki, T.Guscova, quan tâm nghiên cứu quá trình
hình thành và phát triển tính tự lực ở trẻ nhỏ. Các tác giả đều khẳng định vai trò của người
lớn trong việc phát triển tính tự lực ở trẻ, đồng thời họ cũng nhận định rằng lao động của trẻ
có vai trò hết sức quan trọng đối với việc hình thành và phát triển tính tự lực. [10]
Khi nghiên cứu về tính tự lực trong mối quan hệ với lao động, T.I. Galina đã nghiên
cứu các hành vi của trẻ trong lao động và thấy được mối quan hệ tích cực đối với lao động
được phát triển ở mức độ cao khi kết quả lao động mang tính tự lực sáng tạo. Chính vì vậy
cần phải tạo điều kiện cho trẻ độc lập thực hiện những nhiệm vụ lao động vừa sức, tự đặt
nhiệm vụ và tìm cách thực hiện nhiệm vụ.
Nhiều nhà giáo dục học đã quan tâm đến sự hình thành tính tự lực của trẻ lứa tuổi
nhỏ, như: T.Guscova, A.A.Liublinxkaiai, K.D.Usinxki, Acxarina....trên cơ sở nghiên cứu

thân và hoạt động tự phục vụ là phương tiện hữu hiệu nhất để giáo dục tính tự lực cho trẻ
lứa tuổi ấu nhi”. [25].
- Tác giả Nguyễn Thị Kim Ngân cũng đã nghiên cứu một số biện pháp giáo dục tính
tự lực của trẻ 24-36 tháng trong hoạt động với đồ vật, qua đó kích thích và giáo dục tính tự
lực cho trẻ thông qua hoạt động với đồ vật.
- Tác giả Nguyễn Hồng Thuận cũng đã nghiên cứu một số biện pháp tác động của gia
đình nhằm phát triển tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi. Nguyễn Hồng Thuận đã đề xuất
và thực nghiệm có kết quả các nhóm biện pháp tổ chức hoạt động, hình thành ở trẻ kỹ năng
hoạt động một cách tự lực, nhóm biện pháp hình thành ý thức tự lực và nhóm biện pháp
kích thích hoạt động và điều chỉnh ứng xử của trẻ.
Như vậy, ở Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về tính tự lực của trẻ mẫu
giáo, các tác giả đã khái quát hóa những vấn đề về lý luận, đề ra các biện pháp hữu hiệu
nhằm giáo dục phẩm chất này trong các hoạt động khác nhau.

12


1.2. Lý luận về tính tự lực của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường Mầm non
1.2.1. Lý luận về tính tự lực
1.2.1.1. Khái niệm về tính tự lực
Trong Tự điển tiếng Việt do tác giả Nguyễn Như Ý chủ biên, định nghĩa về tính tự
lực như sau: Tự lực là tự sức mình làm lấy, không dựa dẫm nhờ vả người khác ( tự làm mọi
việc, tinh thần tự lực , tự cường ) [48, tr 1763 ].
Tự điển Việt – Anh ( tác giả Đặng Chấn Liêu và Lê Khả Kế ) giải thích:
+ “Tự lập” ( Independent ) có nghĩa là độc lập trong hành động
+ “Tự lực” ( Self-Reliant ) có nghĩa là tự lực cánh sinh bằng chính khả năng của mình
(reproach directed at one self )
Theo tự điển Anh – Anh của Nhà xuất bản Hồng Đức, Tự lực là “to be self reliant”:
reproach directed at one self: tự dựa vào sức mình.
Theo nghĩa phổ thông, tự lực, tự lập, độc lập là những từ cùng nghĩa đều chỉ hành

cá nhân lên việc mục đích hóa, động cơ hóa bên trong các nguồn lực, phương tiện để thực
hiện các chương trình hành động đã lựa chọn, không có sự tham gia từ bên ngoài.
1.2.1.2. Đặc điểm phát triển tính tự lực của trẻ mẫu giáo

 Tính tự lực và hành động nội tâm hóa
Có hai mối quan hệ giữa khái niệm "Hành động nội tâm hóa" («интерпсихическое
действие») và "Hành động tự lực" («самостоятельное действие»): 1) Khi hành động đang
còn nội tâm hóa, khi quá trình nội tâm hóa chưa kết thúc, thì hành động không chưa thể là
hành động tự lực; 2) Con người có thể thực hiện hành động đang nội tâm hóa cùng với
người khác, hành động mà anh ta không thể thực hiện một mình. [68]
Điều này có nghĩa là hành động làm cùng với người khác, hành động đang nội tâm
hóa thì không phải là hành động tự lực, nhưng là tiền đề của hành động tự lực.
Có thể hiểu tính tự lực của trẻ như là năng lực hành động mà không có sự trợ giúp
của người lớn, như là phần kết của quá trình nội tâm hóa hành động đang được nội tâm hóa.
Trẻ trở nên tự lực khi đã lĩnh hội nội dung, phương tiện và phương thức hành động nhất
định. Sự tương tác mang tính nội tâm hóa giữa trẻ và người lớn hoàn thành sứ mệnh và kết
thúc. Tới đây hành động tự lực đồng nghĩa với hành động bên trong. Hành động đã được
nội tâm hóa là hành động bên trong và nếu được trẻ tự xuất tâm thì chính là hành động tự
lực.
Vì vậy muốn có hành động tự lực trẻ phải học hành động từ người lớn.
 Tính tự lực và sự lĩnh hội hành động
Tính tự lực – khái niệm mang tính chủ thể, khác nhau khi đánh giá cùng một hành
động. Trẻ ba tuổi cột được dây giày là có tính tự lực, như trẻ vị thành niên cột được dây giày
thì không được thừa nhận là tự lực. Anh ta chỉ được thừa nhận là có tính tự lực khi biết tự
viết một bài diễn văn và tự nấu ăn.
15


Nói cách khác, tính tự lực – không chỉ là kỹ năng thực hiện một hành động không có
sự trợ giúp từ bên ngoài, mà còn là năng lực lựa chọn cái vượt khả năng của mình, đặt ra



Các chức năng tâm lý được hoàn thiện là điều kiện để tạo nền tảng nhân cách ban
đầu của con người, mà trong đó tính tự lực đóng vai trò quan trọng. Mặt khác, tính tự lực là
một trong những điều kiện quan trọng để nảy sinh tính sáng tạo và các thuộc tính tâm lý
khác.
Tính tự lực liên quan tới sự tích cực suy nghĩ, cảm xúc và ý chí. Mối liên hệ này
mang tính hai chiều:
1) Sự phát triển các quá trình trí não, cảm xúc và ý chí – là điều kiện không thể thiếu
của hành vì và nỗ lực tự lực; 2) Những phán đoán và hành động có trong hoạt động tự lực
không chỉ củng cố và hình thành năng lực giúp trẻ tiếp nhận những hành động có động cơ
có ý thức, mà còn nỗ lực thực hiện những quyết định có nhiều thử thách.[ 56] [57][71]
 Tính tự lực và các hoạt động khác nhau
Tính tự lực cũng như bất cứ phẩm chất nhân cách nào khác của nhân cách toàn vẹn
đều được hình thành, phát triển trong hoạt động và thông qua hoạt động của con người,
trong sinh hoạt cũng như trong giao tiếp với con người và thế giới xung quanh.
Các tác giả khẳng định, trẻ ở cuối độ tuổi nhà trẻ đã có biểu hiện tính tự lực và các
biểu hiện đó tiếp tục phát triển và chuyển hóa thành tính tự lực như một nét phẩm chất của
nhân cách trẻ ở cuối độ tuổi mẫu giáo. Tính tự lực cụ thể được biểu hiện trong hoạt động
của trẻ như: vui chơi, hoạt động học tập, lao động tự phục vụ, …
Mỗi loại hoạt động kể trên của trẻ đều có sự ảnh hưởng riêng đến sự tích cực của cá
nhân và khả năng chủ động, sự tìm tòi những phương thức giải quyết vấn đề, hình thành khả
năng tự kiểm tra, đánh giá những biểu hiện cơ bản của tính tự lực cũng như phẩm chất nhân
cách khác.
Tính tự lực – phẩm chất nhân cách luôn phát triển, những mầm mống đầu tiên của nó
được phát triển ở tuổi mẫu giáo. Những thông tin khoa học cho thấy: cuối tuổi mẫu giáo lớn,
trong điều kiện giáo dục và dạy học tối ưu trẻ có được những tiêu chí rõ nét của tính tự lực
trong các hoạt động khác nhau: trong trò chơi (N. Mikhailenco), trong lao động (М. Кrulext,
R. Bure), trong nhận thức (А Мchiukin, Z. Мikhailova, N. Paddiakov), trong giao tiếp (Е.
Кrasova, L. Аrtemova). [74]

những hiện tượng cho thấy tính chủ động của trẻ mẫu giáo thiếu hiểu biết và cho đó là đặc
điểm lứa tuổi của trẻ mẫu giáo.
Tính tự lực hình thành từ đâu? Tới một thời điểm nào đó tất cả các hành động của trẻ
đều đơn giản: bé trai đập bóng, vung chổi, bỏ đồ vật vào hộp. Những thao tác bắt chước đó
gọi là hành động “theo logic của sự vật”. Trẻ không suy nghĩ tại sao nó phải vung chổi, – nó
chỉ đơn giản làm hành động quen thuộc, không cần biết trong mỗi hành động có một ý
nghĩa: sau khi thực hiện hành động nhất định phải thu được một kết quả nhất định – sàn nhà
18


sạch. Chỉ khi trẻ biết xác định mục đích làm sạch sàn nhà và vì điều đó mà nó vung chổi, và
khi đó chúng ta nói: trẻ bước được bước đầu tiên đến tính tự lực, hành động “theo mục
đích”.
Tính mục đích của trẻ xuất hiện theo những ý tưởng nhất thời (không bền): giặt đồ
như mẹ, hoặc đóng đinh giống bố. Ở thời gian đầu không thành kỹ năng, không bền để củng
cố những hành động tự lực đó thì cần có sự hỗ trợ của người lớn. Nhưng phụ huynh thường
ngăn cản vì sợ tai nạn.
Nếu giúp đỡ trẻ hợp lý, thì trong hành động của trẻ sẽ có thành tố tự lực – tính mục
đích, xuất hiện mong muốn thu được kết quả nhất định. Đứa trẻ siêng năng, kiên trì, có tổ
chức. Sự thất bại không làm trẻ chùn bước, mà buộc trẻ nỗ lực hơn mà nếu cần trẻ có thể
tìm sự hỗ trợ từ phía người lớn.
Sự trợ giúp trẻ là điều kiện thiết yếu để phát triển tính tự lực. Trẻ từ chối sự trợ giúp
khi nó cảm thấy có thể tự làm được. Trẻ lĩnh hội thành tố thứ hai của tính tự lực – thực hiện
mục tiêu có định hướng (có trách nhiệm), trẻ kiên quyết không phụ thuộc vào người lớn, trẻ
có năng lực đối chiếu kết quả với “chuẩn”. Trẻ thường lĩnh hội được thành tố thứ hai này rất
sớm trong trò chơi, nhưng trẻ chưa đủ kinh nghiệm để tự giải quyết mọi tình huống. Người
có những kiến thức, người lớn, phải trợ giúp trẻ.
Từ 3,5 tuổi trẻ đã tự suy xét cái gì nên làm, cái gì xấu, trẻ biết xấu hổ. Năng lực này
là chức năng tự kiểm soát – mức độ hoàn thiện tính tự lực trong hoạt động với đồ vật. Khi
lĩnh hội năng lực tự lực lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát hoạt động với đồ vật, ở mức độ

Lời khuyên dành cho họ: hãy để trẻ tự do… tự do lựa chọn, tự do thực hiện mong
muốn, vì trẻ thích như vậy.
2 Loại người lớn thích trẻ nhanh chóng trở thành người lớn. Họ buộc trẻ thực hiện
những hành động quá lứa tuổi. Trẻ thường gặp thất bại và xuất hiện những rối loạn tâm lý
đáng tiếc. Lời khuyên cho những phụ huynh này là: hãy trợ giúp trẻ.
3 Loại người lớn hiểu : cái gì trẻ làm được và cái gì nó không thể làm được. những
người này để trẻ tự do làm và động viên khi trẻ thất bại.
Tóm lại, vai trò của người lớn trong việc hình thành tính tự lực là: hãy để trẻ tự do,
đừng đòi hỏi quá mức, biết động viên khi trẻ thất bại.
1.2.1.3. Đặc điểm phát triển tính tự lực của trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi
Đến tuổi mẫu giáo lớn, tính tự lực biểu hiện ở sự chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng tự
khẳng định mình trong tập thể, ở những dấu hiệu tự lực trên bình diện rộng và sâu hơn.
Những nghiên cứu về lĩnh vực giáo dục mầm non chỉ ra rằng: Đến cuối tuổi mẫu giáo lớn,
20


trong những điều kiện giáo dục đảm bảo , biểu hiện tính tự lực của trẻ được thể hiện rõ nét
trong các hoạt động: vui chơi, lao động, học tập, giao tiếp, . . [18].
Tính tự lực được hình thành từ thực tiễn cuộc sống của trẻ, nó góp phần phát triển
nhân cách con người. Ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi tính chủ định của các quá trình tâm lý đã phát
triển mạnh mẽ, trẻ có khả năng tự lực trong nhiều lĩnh vực hoạt động khác nhau của đời
sống xã hội. Chính ý thức về bản thân, nhu cầu muốn khẳng định mình là nguồn gốc làm
nảy sinh những ý muốn và hành động độc lập trong các hoạt động khác nhau.
Sự tự ý thức và nhu cầu khẳng định mình: Ở trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi nhu cầu tự khẳng
định mình phát triển rất mạnh mẽ, trẻ luôn muốn tự mình thực hiện những công việc vừa
sức trong tất cả các hoạt động trong sinh hoạt hàng ngày, tự mình lập kế hoạch cho các hoạt
động chơi. Nếu chúng ta không tạo điều kiện hình thói quen tự lực cho trẻ trong hoạt động
thì việc giáo dục trẻ sau này sẽ gặp nhiều khó khăn và hiệu quả giáo dục không cao.
Sự tự ý thức thể hiện rõ nhất trong việc trẻ tự đánh giá về mình, hiểu được mình là
người như thế nào, có những phẩm chất gì, những người xung quanh đối với mình ra sao và

một lần thay đổi – nghĩ theo cách khác. Vì cách nghĩ này có thể gây xung đột với trẻ.
Hôm nay «sẵn sáng», ngày mai «không». Không nên chờ đợi trẻ luôn tự lực.
 Tiêu chí và mức độ phát triển tính tự lực ở trẻ mẫu giáo
Không nên đánh giá tính tự lực ở các lứa tuổi khác nhau, mức độ phát triển trí tuệ
khác nhau, mức độ phát triển tâm lý khác nhau, tầng lớp giai cấp khac nhau bằng một tiêu
chuẩn. Mỗi con người có một hoàn cảnh riêng, nếu đổi chỗ cho nhau thì đều có thể trở nên
thiếu tự lực.
Không thể có tiêu chí đánh giá duy nhất và tuyệt đối tính tự lực. Khái niệm tính tự
lực mang tính tương đối – tùy vào từng nhóm người trong xã hội, sẽ có những dấu hiệu khác
nhau về tính tự lực (nhân chủng, lứa tuổi hoặc học vấn). Ví dụ, ở trẻ ba tuổi đi mẫu giáo: tự
chuẩn bị đi dạo, tự mang giày, ngồi đợi. Nhưng cũng trẻ đó lại không độc lập trong giờ học
và giờ vẽ…
Mặt khác, vẫn tồn tại những tiêu chuẩn chung của tính tự lực theo từng lứa tuổi. Dựa
vào khả năng của trẻ theo từng lứa tuổi các nhà giáo dục đưa ra các mốc dạy tính tự lực.
Các nhà nghiên cứu đưa ra tiêu chí đánh giá mức độ phát triển tính tự lực của trẻ
mẫu giáo lớn:
-

Nỗ lực giải quyết nhiệm vụ hoạt động của mình mà không có sự trợ giúp của những
người xung quanh;

-

Kỹ năng xác định mục tiêu của hoạt động;

-

Kỹ năng lập kế hoạch sơ đẳng;
22


ở chỗ người lớn biến những yêu cầu giáo dục thành nội dung của hoạt động vui chơi, và
hướng dẫn tổ chức cho trẻ vui chơi sao cho vừa thỏa mãn những nhu cầu, hứng thú của trẻ,
vừa đạt được những yêu cầu của giáo dục. Vui chơi càng mang tính chất tự nguyện bao
nhiêu thì càng phát huy ở trẻ tính tích cực, chủ động, độc lập và nảy sinh nhiều sáng kiến
bấy nhiêu. [17, tr 128-129]
Hệ thống phân loại trò chơi

23


Trích đoạn Nhận thức của giáo viên mầm non về tính tự lực và biện pháp phát triển tính tự Thực trạng giáo viên sử dụng biện pháp giáo dục tính tự lực cho trẻ mẫu giáo 5- Điều kiện thực hiện các biện pháp giáo dục tính tự lực trong trị chơi đĩng va Tiến hành thử nghiệm:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status