z
Ti u lu nể ậ
Phân tích hợp tác thương mại
Việt Nam- Liên minh Châu
Âu trong lĩnh vực dệt may. MỤC LỤC
Trang
Lời mở đầu 1
Chương 1. Một vài nét về liên minh Châu Âu (EU) 2
1.1. Sự hình thành và phát triển của liên minh Châu Âu 2
1.2. Chiến lược của liên minh Châu Âu đối với Châu Á 5
Chương 2. Thực trạng thương mại Việt Nam - EU trong lĩnh vực dệt may 8
2.1. Khái quát về ngành dệt may Việt Nam 8
2.2. Cơ cấu thị trường ngành dệt may Việt Nam 9
2.3. Cơ cấu ngành dệt may Việt Nam 10
2.4. Một số đánh giá về thực trạng thương mại dệt may Việt nam - EU 12
Chương 3. Các giải pháp thúc đẩy thương mại Việt Nam - EU trong lĩnh vực
dệt may
16
3.1. Định hướng của ngành dệt may Việt Nam 16
3.2. Định hướng thương mại dệt may Việt Nam - EU 18
3.3. Các giải pháp nhằm thúc đẩy hợp tác thương mại Việt Nam - EU trong lĩnh vực
dệt may
20
Kết luận 26
Tài liệu tham khảo 27
giới .
1.1. Sự hình thành và phát triển của liên minh Châu Âu .
Ngay từ thời Saclơ đại đế thuộc đế chế La Mã ( TK8 – Sau công nguyên ) những mơ tưởng về
thống nhất Châu Âu đã được hình thành . Tuy nhiên trong một thời gian dài , ý đồ thống nhất
Châu Âu chỉ thuộc về một vài nhà chính trị , quân sự có nhiều tham vọng và một bộ phận các
nhà tri thức . Đại bộ phận Châu Âu vẫn thờ ơ thậm chí không hề có ý tưởng gì về điều đó , mặc
dù Châu Âu đã mang sẵn trong mình các yếu tố thống nhất .
Đến năm 1923 , Bá Tước người Áo –Condenhve Kalerg đã đề nghị thành lập một liên minh
Châu Âu theo kiểu Liên Bang Thuỵ Sĩ năm 1648 hay liên bang Hoa Kỳ năm 1776 năm 1929 Bộ
trưởng Pháp lúc bấy giờ – Arstide Briand cũng đưa ra đề án thành lập liên minh Châu Âu .
Nhưng những ý tưởng này phải mãi đế sau chiến tranh thế giới thứ hai mới trở thành hiện thực .
Sau chiến tranh thế giới thứ hai các nước Tây Âu đều kiệt quệ về kinh tế . So với năm 1937
sản lượng của Đức 1946 chỉ bằng 31% , Italia 64% , Anh 96% . Trong khi đó nhờ chiến tranh
mà kinh tế Mỹ đã phát triển vượt bậc sức mạnh kinh tế của Mỹ còn lơns hơn sức mạnh kinh tế
của tất cả các nước Tây Âu gộp lại .Mặt khác sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất dưới
tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đặc biệt là sự phát triển lực lượng sản xuất ở Mỹ
đã khẳng định vị trí bá chủ toàn cầu của Mỹ . Chính bối cảnh ấy , buộc các quốc gia Tây Âu
phảI tăng cường hợp tác để thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển , thoát khỏi sự kiểm toạ của
Mỹ và cũng là làm dịu đi bầu không khí chính trị căng thẳng ở Tây Âu , đặc biệt là giữa Pháp và
Đức , phong trào giải phóng dân tộc đang dâng lên ở các nước thuộc địa và trên hết là phải đối
đầu với “cộng sản ” ở nửa kia Châu Âu – các quốc gia Tây Âu không còn sự lựa chọn nào khác
ngoài con đường hoà bình hợp tác với nhau .
Ngày 9/5/1950 Ngoại trượng Pháp – Rôbe Suman đã đưa ra một sáng kiến mới khởi đầu cho
tiến trình liên kết Châu Âu . Ông đề nghị “Đặt toàn bộ việc sản xuất than và thép của Đức vá
Pháp dưới một cơ quan quyền lực tối cao chung trong một tổ chức mở cửa cho các nước Tây Âu
khác tham gia ”
Trên cơ sở đề nghị đó ngày 18/4/1951 ,tại Paris ,6 quốc gia Tây Âu gồm : Pháp ,Đức , Italia ,
Bỉ ,Hà Lan , Luych Xăm Bua đã ký Hiệp ước thành lập cộng đồng than thép Châu Âu ( có hiệu
lực từ ngày 25/7/1952 ) mở ra một chương mới trong lịch sử quan hệ giữa các nước Tây Âu .
đầu có hiệu lực và EU cũng chính thức đổi thành liên minh Châu Âu ( European Union – EU ) .
Đồng thời , EU tiếp tục mở cửa lần thứ ba đến năm 1995 ba nước ở Tây Bắc Âu gồm : Áo, Phần
Lan , Thuỵ Điển đã trở thành thành viên chính thức của EU .
Như vậy , từ sáu nước thành viên đến nay EU đã mở rộng ra 15 nước và xu thế sẽ tiến tới 21
nước vào đầu thế kỷ 20 liên kết được mở rộng trên rất nhiều lĩnh vực kinh tế , chính trị ,khoa
học kỹ thuật , văn hoá , giáo dục.
Mục đích của liên minh Châu Âu là nhằm thiết lập và hoàn thiện thị trường nội bộ thống nhất
thông qua việc phát hành một đồng tiền thống nhất xoá bỏ hàng rào thuế quan giữa các nước
thành viên xây dựng một hàng rào thuế quan thống nhất đối với hàng hoá nhập từ ngoài vào ,xoá
bỏ những hạn chế đối với việc tự do di chuyển vốn sức lao động hàng hoá dịch vụ … nhằm tăng
cường hợp tác , liên kết giữa các quốc gia thành viên xây dựng Châu Âu thành một cực mạnh
trong nền kinh tế thế giới . Để đạt được mục tiêu này , EU có một hệ thống thể chế để hoạch
định , đIều hành và giám sát. Hệ thống này bao gồm năm cơ quan chính uỷ ban Châu Âu , Hội
đồng Châu Âu , Quốc hội Châu Âu , Toà án Châu Âu và toà kiểm toàn cùng với các bộ phận hỗ
trợ cho các cơ quan trên như uỷ ban kinh tế và xã hội , uỷ ban khu vực .
Vậy , thực chất của liên kết kinh tế EU là tạo lập một thị trường thống nhất với việc phát hành
một đồng tiền thống nhất là quá trình quốc tế hoá không chỉ lực lượng sản xuất mà cả quan hệ
sản xuất .
1.2. Chiến lược của liên minh Châu Âu đối với Châu Á .
Quan hệ kinh tế nói chung giữa các nước EU và các nước trong khu vực Châu Á đã có từ rất
lâu , nhưng trong một thời gian tương đối dài sau chiến tranh thế giới thứ hai , các nước lớn
trong EU rất ít chú ý đến Châu Á . Tốc độ tăng trưởng kinh tế cao với thị trường rộng lớn ở
Châu Phi đã hấp đẫn các nhà kinh doanh , đầu tư Châu Âu nhiều hơn khu vực Châu Á . Trong
giai đoạn này , quan hệ của các nước EU với khu vực châu Á chủ yếu là viện trợ kinh tế .Tuy
vậy từ sau thập kỷ 80 đến nay các nước Mỹ La Tinh đã bị lâm vào khủng hoảng nợ , trong khi
các nước đang phát triển Châu Á lạI có những chuyển biến trong phát triển kinh tế . Các NiEs và
ASEAN đã thực hiện thành công chính sách kinh tế hướng về xuất khẩu và đạt tốc độ tăng
trưởng kinh tế thế giới . Đồng thời sự suy sụp của Liên Xô và các nước Đông Âu đã làm cho cục
diện về kinh tế cũng như kinh tế của mình ở Châu Á nhằm duy trì ảnh hưởng của mình trong nền
kinh tế thế giới . Việc thiết lập được một sự hiện diện mạnh mẽ và đồng bộ tại các khu vực ở
khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN .
Tóm lại : Sau 40 năm hình thành và phát triển EU trở thành một siêu cường cả về kinh tế ,
chính trị , dân số , diện tích … và sẽ trở nên mạnh hơn khi đồng tiền chung Euro được sử dụng
trước một trật tự thế giới mới đang hình thành và đang đầy biến động phức tạp , EU đã chuyển
mình vươn lên tắch khỏi sự lệ thuộc với Mỹ, vươn tầm hoạt động sang trung và Đông Âu, Châu
Á, Châu Mỹ La Tinh, nhằm nâng cao hơn nữa vị thế của mình trước thềm thế kỷ XXI . chính
trong quá trình thực hiện chiến lược toàn cầu của mình nói chung và chiến lược mới với Châu Á
nói riêng, EU đã tìm thấy ở Việt Nam những ưu thế địa chính trị, địa kinh tế để lấy Việt Nam
làm đIểm tựa quan trọng trong chiến lược đối ngoại của mình với Châu Á.
Mối quan hệ Việt Nam – EU đã bắt đầu được thiết lập từ sau năm 1975, nhưng chỉ đơn thuần
là viện trợ kinh tế . Bước chuyển biến to lớn đánh dấu một thời kỳ mới trong quan hệ Việt Nam-
EU là việc hai bên thiết lập quan hệ ngoại giao tháng 10/1990. Trên cơ sở đó mối quan hệ Việt
Nam và EU đã phát triển nhanh chóng . Hai bbên đã có hàng loạt cuộc tiếp xúc gặp gỡ thăm
viếng hội thảo khoa học… nhằm trao đổi thông tin và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau . Quan
hệ Việt Nam –EU bước vào giai đoạn lịch sử mới khi .
Hiệp định khung hợp tác Việt Nam – EU được ký kết vào tháng 7/1995 . Hiệp định đã tạo ra
những yếu tố thuận lợi cho EU và mối nước thành viên EU trong quan hệ hợp tác thương mại và
đầu tư với Việt Nam . Có thể nói , hiệp định khung hợp tác Việt Nam – EU vừa là cơ sở pháp lý
vừa là động cơ thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa Việt Nam và EU phát triên mạnh mẽ và toàn diện
trên rất nhiều lĩnh vực : hợp tác thương mại, đầu tư khoa học kỹ thuật môi trường văn hoá giáo
dục y tế… đặc biệt là trng lĩnh vực dệt may. Bằng chứng là hai hiệp định dệt may Việt Nam –
EU giai đoạn 1993 – 1997 và 1998 – 2000 đã ký kết . nhờ đó kim ngạch hàng dệt may của Việt
Nam vào thị trường EU đã tăng lên nhanh chóng . Vẫn đề này sẽ được nghiên cứu kỹ ở chương
tiếp theo.
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM -EU TRONG LĨNH VỰC DỆT MAY
2.1. Khái quát về ngành dệt may Việt Nam .
Ngành dệt may là ngành công nghiệp truyền thống có lịch sử phát triển rất lâu đời ở nước ta .
Mạc dù thường xuyên phảI đối mặt với rất nhiều thử thách , song với đặc tính thu hút nhiều lao
may lớn Trung ương và địa phương đều đang cố gắng dành những năng lực tốt nhất cho sản xuất
hàng dệt may xuất khẩu , phần nào không xuất được thì để lại tiêu dùng trong nước . bằng chứng
là thỉnh thoảng mọt doanh nghiệp sản xuất hàng dệt may xuất khẩu nào đó lạI đưa ra “cửa hàng
giới thiệu sản phẩm” của mình những lô hàng kém phẩm chất bán cho hàng tiêu dùng , đó là
những chiếc quần áo rộng quá cỡ , khác biệt về màu sắc và kiểu mốt đối với người Việt Nam .
Hoạt động của ngành dệt may trên thị trường nội địa có thể được phản ánh như sau :