tiểu luận kinh tế học quốc tế II mô hình kinh tế chia sẻ tại việt nam và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về kinh tế chia sẻ theo định hướng xanh - Pdf 66

2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ CHIA SẺ
VÀ KINH TẾ XANH
1.1 Kinh tế chia sẻ
1.1.1 Khái niệm kinh tế chia sẻ
Trên thực tế có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kinh tế chia sẻ, hay nói một cách
khác là không có một định nghĩa chung cho tất cả mọi trường hợp hay mọi quốc gia. Mức
độ rộng hẹp của các định nghĩa cũng khác nhau, cũng như các định nghĩa có thể xuất phát
từ các góc nhìn khác nhau. Kinh tế chia sẻ (sharing economy) còn được gọi theo nhiều tên
khác nhau như kinh tế cộng tác (collaborative economy), kinh tế theo cầu (on-demand
economy), kinh tế nền tảng (platform economy), kinh tế truy cập (access economy), kinh tế
dựa trên các ứng dụng di động (app economy),… (theo Cristiano Codagnone and Bertin
Martens, 2016). Ranh giới giữa các khái niệm có sự đồng nhất ở một số khía cạnh, tuy
nhiên nhìn chung, tất cả các tên gọi khác của mô hình kinh tế chia sẻ đều có bản chất là:
“một mô hình kinh doanh mới của kinh doanh ngang hàng, tận dụng lợi thế của phát
triển công nghệ số giúp tiết kiệm chi phí giao dịch và tiếp cận một số lượng lớn khách
hàng thông qua các nền tảng số”. Đây là hệ thống kinh tế đề cao chia sẻ và hợp tác hơn tư
hữu. Con người thay vì sở hữu để thỏa mãn nhu cầu của mình thì sẽ tìm những nguồn lực
trong cộng đồng. Nền kinh tế chia sẻ đang phát triển vì nó tái phân phối tài nguyên đang
không được sử dụng hiệu quả (sản phẩm mua rồi nhưng không dùng, máy móc không được
khai thác tối đa thời gian sử dụng) sang chỗ mà nó được dùng hiệu quả hơn. Việc tái phân
phối này thực sự cần thiết để tiết kiệm tiền của người dùng và tài nguyên của xã hội.
1.1.2 Lịch sử ra đời của nền kinh tế chia sẻ
Nền kinh tế chia sẻ được bắt đầu manh nha khái niệm năm 1995, khởi điểm tại Mỹ
với mô hình ban đầu có tính chất “chia sẻ ngang hàng” nhưng không rõ rệt. Nó khởi đầu
bằng dịch vụ website thông tin cho thuê quảng cáo, người tìm việc, việc tìm người,… và
giúp cho những cá nhân có thể kiếm được việc làm, kiếm được tiền quảng cáo.
Mô hình kinh doanh này thực sự phát triển mạnh mẽ khi nền kinh tế Mỹ rơi vào
khủng hoảng năm 2008, người dân buộc phải thay đổi cách tiêu dùng để thích ứng với bối
cảnh khó khăn.

giới.
Tóm lại, nền kinh tế chia sẻ là một biểu hiện của việc áp dụng công nghệ nhằm giảm
sự lãng phí trong tiêu dùng, hướng tới cộng đồng, thành phố thông minh – tài nguyên được
dùng một cách hiệu quả.


4
Hình 1. So sánh tăng trưởng của mô hình kinh tế chia sẻ và truyền thống

1.1.3 Các loại hình kinh tế chia sẻ
Theo phương pháp phân loại dựa theo hình thức người sở hữu tài sản và người quyết
định giá của Judith Wallenstein và Urvesh Shelat (2017), mô hình kinh tế chia sẻ được chia
ra làm ba loại chính: Mô hình nền tảng tập trung (đơn vị cung cấp nền tảng vừa sở hữu tài
sản, vừa quyết định giá thành dịch vụ), mô hình nền tảng phi tập trung (đơn vị cung cấp
nền tảng chỉ tạo ra môi trường kết nối, người cung cấp dịch vụ là người sở hữu tài sản và
cũng là người quyết định giá thành dịch vụ), mô hình nền tảng hỗn hợp (chủ tài sản cung
cấp dịch vụ với giá do nền tảng đưa ra và nền tảng cũng đóng một phần vai trò trong việc
đảm bảo chất lượng sản phẩm được cung ứng ra ngoài thị trường).


5
1.2 Kinh tế xanh
1.2.1 Khái niệm kinh tế xanh
Có nhiều định nghĩa khác nhau về kinh tế xanh. Liên minh châu Âu (2010) cho rằng
“Kinh tế xanh là nền kinh tế tăng trưởng thông minh, bền vững và công bằng”. Nhóm Liên
minh kinh tế xanh (2012) định nghĩa kinh tế xanh là “nền kinh tế tạo ra chất lượng cuộc
sống tốt hơn cho tất cả mọi người trong giới hạn sinh thái của trái đất”. Phòng Thương mại
quốc tế (2012) xem xét kinh tế xanh từ góc độ kinh doanh và cho rằng “Kinh tế xanh là nền
kinh tế mà tăng trưởng kinh tế và trách nghiệm môi trường đi đôi với nhau và tương hỗ cho
nhau, đồng thời hỗ trợ quá trình phát triển xã hội”. Báo cáo của Vụ Liên hiệp quốc tế

giảm nghèo và cải thiện tổng thể chất lượng cuộc sống. Theo Trương Quang Học và Hoàng
Văn Thắng của Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường (2014), trong một kịch
bản đầu tư xanh, 2% GDP toàn cầu được phân bổ để “làm xanh” các lĩnh vực năng lượng,
giao thông, xây dựng, chất thải, nông nghiệp, thủy sản, nước và rừng. Kinh tế xanh sẽ cung
cấp các nguồn năng lượng có khả năng hỗ trợ cho 1,4 tỷ người hiện đang thiếu điện và cho
hơn 700 triệu người khác đang không được tiếp cận với các dịch vụ năng lượng hiện đại.
Công nghệ năng lượng tái tạo, như năng lượng mặt trời, năng lượng gió và các chính sách
hỗ trợ năng lượng hứa hẹn sẽ đóng góp đáng kể việc cải thiện đời sống và sức khỏe cho
một bộ phận người dân có thu nhập thấp, đặc biệt là cho những người hiện đang không có
khả năng tiếp cận với năng lượng. Hội nghị thượng đỉnh của Liên hợp quốc về phát triển
bền vững, Rio+20 năm 2012, đã nhất trí thông qua một văn kiện quan trọng có tựa đề
“Tương lai mà chúng ta mong muốn” và quyết định dành 323 tỷ USD cho sáng kiến của
Tổng Thư ký Ban Ki-Moon mang tên “Năng lượng bền vững cho tất cả” với mục đích đảm
bảo cho hơn 1,3 tỷ người tại các nước nghèo được tiếp cận năng lượng sạch và hiệu quả
vào năm 2030.
b. Kinh tế xanh giảm nhẹ biến đổi khí hậu
Theo tính toán của Trung tâm Nghiên cứu Tài nguyên và Môi trường, Đại học Quốc
gia Hà Nội (2014), chỉ cần đầu tư khoảng 1,25% GDP toàn cầu vào việc nâng cao hiệu quả
sử dụng năng lượng trong các ngành và phát triển năng lượng tái tạo, bao gồm cả nhiên
liệu sinh học thế hệ hai, mức độ tiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới có thể giảm đi 36%
vào năm 2030 và lượng khí CO2 thải ra hàng năm sẽ giảm từ 30,6 tỷ tấn năm 2010 xuống
20 tỷ tấn năm 2050. Thêm vào đó, nhờ vào nông nghiệp xanh, kịch bản kinh tế xanh ước
tính có thể giảm nồng độ khí nhà kính xuống 450ppm vào năm 2050, một mức độ được
o

cho là hợp lý và đủ để hạn chế sự nóng lên toàn cầu ở ngưỡng 2 C.
c. Kinh tế xanh duy trì và tăng cường vốn tự nhiên


7

Chương trình nghị sự Kinh tế Xanh. Ngoài ra, đầu tư xanh cũng nhằm giảm những hệ quả


8
tiêu cực do các yếu tố bên ngoài gây ra bởi việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên. Ví
dụ, đầu tư vào bảo vệ rừng không những duy trì một loạt các ngành và sinh kế của con
người mà còn bảo tồn 80% các loài trên cạn. Bằng cách thúc đẩy đầu tư vào lâm nghiệp
xanh, Chương trình nghị sự Kinh tế Xanh sẽ góp phần ổn định đời sống kinh tế của hơn 1
tỷ người hiện đang sinh sống bằng các sản phẩm từ gỗ, giấy và chất xơ, với tổng thu nhập
chỉ chiếm 1% GDP toàn cầu.
1.2.3 Xu hướng phát triển kinh tế xanh trên thế giới
Theo Phó giáo sư, tiến sĩ Kim Ngọc, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam
(2015), phát triển kinh tế xanh đang trở thành một xu hướng trên thế giới, giúp các nước
đối phó với các cuộc khủng hoảng hiện tại và ngăn chặn nguy cơ xảy ra các khủng hoảng
trong tương lai, bao gồm:
- Xây dựng và củng cố các thể chế, chính sách cho phát triển kinh tế xanh.
- Phát triển những công nghệ sạch, sản xuất tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải
carbon.
- Quan tâm đến các vấn đề xã hội trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh.
- Tăng cường hợp tác quốc tế trong phát triển kinh tế xanh.


9

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VỀ MÔ HÌNH KINH TẾ CHIA
SẺ TẠI VIỆT NAM
2.1 Một số mô hình kinh tế chia sẻ tiêu biểu tại Việt Nam
2.1.1 Mô hình Airbnb, Triip.me
Mô hình Airbnb chia sẻ nhà ở cho người đi du lịch, tận dụng nguồn tài nguyên đang
lãng phí là những căn phòng không dùng đến. Mô hình này kết nối người cần thuê nhà với

rộng rãi, cụ thể là Triip.me. Mô hình này đã biến những người địa phương bình thường
thành một hướng dẫn viên du lịch nghiệp dư. Triip.me cho phép bất kỳ ai cũng có thể tạo
một gói sản phẩm du lịch, đưa lên và bán cho khách du lịch trên trang web hoặc ứng dụng
trên iPhone. Triip.me được hình thành và xây dựng từ một nhóm người trẻ và đam mê du
lịch, họ đến từ nhiều quốc gia với những nền văn hóa khác biệt nhau. Điểm chung lớn nhất
của Triip.me là nơi kết nối mọi người, chia sẻ kinh nghiệm về du lịch qua đó góp phần bảo
tồn văn hóa tại các địa phương,…
2.1.2 Mô hình Uber, Grab
Nền tảng Uber, Grab tận dụng nguồn tài nguyên ô tô, xe gắn máy ít được đưa vào lưu
thông và người lao động không kiếm được việc làm trong cộng đồng. Thời gian đầu, Uber
và Grab chỉ kinh doanh trong lĩnh vực xe hạng sang, sau đó mở rộng ra các lĩnh vực khác
như xe bình dân, xe SUV, vận chuyển,… Mức giá của Uber, Grab thường rẻ hơn các dịch
vụ cung cấp bởi công ty truyền thống. Hiện nay, theo một nguồn đáng tin cậy, các dịch vụ
này được định giá 18,2 tỷ USD.
Tham gia mô hình này, chủ sở hữu xe ô tô, xe gắn máy thực hiện việc đăng ký trên
nền tảng, làm bài kiểm tra khả năng lái xe. Khách hàng muốn đặt xe thông qua nền tảng
này sẽ click vào nền tảng Uber hay Grab, chọn địa chỉ nơi đi, nơi đến và nhấn nút đặt xe,
ứng dụng này sẽ lựa chọn ngẫu nhiên một phương tiện gần với khách hàng nhất. Khi đã kết
nối, lái xe và người đặt xe liên lạc và thông báo điểm đón thông qua điện thoại di động.


11
Sau sử dụng dịch vụ, người lái xe và người sử dụng dịch vụ cũng có thể đánh giá lẫn nhau
trên nền tảng.
Hình 3. Thống kê số lượng taxi công nghệ và taxi truyền thống

(Nguồn: Sở Giao thông TP. Hồ Chí Minh (2017))

2.1.3 Dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ (peer-to-peer lending/P2P)
Là mô hình trong đó các đối tượng trong cộng đồng cho vay lẫn nhau, không thông

thác được tối đa các tiềm năng còn ẩn giấu và phần lợi ích tăng thuộc về khách hàng. Một
nghiên cứu của trường Đại học George Mason (2014) nhận xét, nền kinh tế chia sẻ có thể
nâng cao ích lợi cho người tiêu dùng khi đưa ra nhiều lựa chọn cải tiến hơn, nhiều sự khác
biệt hơn, giá cả cạnh tranh hơn và chất lượng dịch vụ cao hơn. Nhà nghiên cứu Christopher
Koopman, tác giả của nghiên cứu trên, nêu rõ nền kinh tế chia sẻ cho phép người tiêu dùng
được hưởng những lợi ích lớn từ một khoản chi khiêm tốn. Nói ngắn gọn là tối đa hóa
được lợi nhuận. Theo ông, mọi người đang lãng phí những phòng ngủ, xe hơi, các đồ đạc
mà họ không dùng tới và với mô hình làm ăn mới này, các thứ dư thừa đó có thể sinh lợi và
chủ của chúng sẽ là những doanh nhân thực sự.
Cách thức vận hành mới của các dịch vụ chung này đang tái cấu trúc nhiều ngành
nghề kinh tế với những hứa hẹn về nâng cao tính hiệu quả và sự linh hoạt. Tuy nhiên, sự
phát triển chóng mặt của các loại hình chia sẻ như đi chung, mua chung, ở chung… đã làm
đảo lộn những mô hình cũ, đồng thời kéo theo nhiều phàn nàn rằng những dịch vụ này
thiếu tính an toàn cũng như nguy cơ rò rỉ thông tin người tiêu dùng vẫn còn đáng lo ngại.
2.2.2 Tác động của mô hình kinh tế chia sẻ lên các doanh nghiệp
Nền kinh tế chia sẻ đã trở thành một khía cạnh ngày càng quan trọng của các doanh
nghiệp toàn cầu nhờ những lợi ích mà nó mang lại. Kinh tế chia sẻ giúp tiết kiệm chi phí,
bảo vệ môi trường, tăng tính hiệu quả của nền kinh tế, giảm bớt sự lãng phí tài nguyên xã
hội và sự dư thừa năng lực của các sản phẩm dịch vụ.


13
Hiện nay, có ba yếu tố giúp cho việc chia sẻ quyền sử dụng các hàng hóa và dịch vụ
mới được thuận lợi như:
Thứ nhất, hành vi của khách hàng đối với nhiều loại hàng hóa và dịch vụ được thay
đổi tính chất từ sở hữu đến chia sẻ.
Thứ hai, liên kết mạng lưới người tiêu dùng qua các mạng xã hội trực tuyến và thị
trường điện tử dễ dàng hơn.
Thứ ba, ứng dụng công nghệ thông tin qua các thiết bị di động và các dịch vụ điện tử
làm cho việc sử dụng, chia sẻ các hàng hóa và dịch vụ trở nên thuận tiện hơn.

bình đẳng, nếu không có biện pháp can thiệp kịp thời và đúng đắn, thì lối mòn về những
cuộc biểu tình phản đối Uber hay làn sóng tiền ẩn phản đối kinh tế chia sẻ giống như nhiều
quốc gia trên thế giới sẽ tiếp tục diễn ra tại Việt Nam.
2.3 Thành tựu và hạn chế của mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
2.3.1 Những thành tựu của mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam
Quy mô thị trường tăng trưởng một cách nhanh chóng: Đối với dịch vụ vận tải trực
tuyến. Theo số liệu thống kê của của Sở Giao thông Vận tải TP.HCM, đến năm 2017, có tới
tận 25.000 xe hợp đông điện tử dưới 9 chỗ ngồi đã được cấp phù hiệu và có đến 24.000
chiếc đang tham gia mạng lưới của Uber và Grab; trong khi đó, số xe taxi truyền thống chỉ
bằng 46% so với số xe tham gia mạng lưới của Uber và Grab (Cafebiz, 2017). Tại Hà Nội,
theo một báo cáo chỉ ra rằng, tính đến 20/12/2017, GrabTaxi có 11.474 xe tham gia thí
điểm trên địa bàn, chiếm 90,67% số lượng xe được cấp phép hoạt động trên địa bàn toàn
thành phố. Đối với dịch vụ cho thuê phòng ở, cho đến nay vẫn chưa có một cơ quan cụ thể
nào ở Việt Nam có một thống kê chính xác về số lượng đơn vị tham gia loại mô hình này.
Tuy nhiên, theo ông Kenneth Atkinson - Chủ tịch Grant Thornton, tính đến tháng 6/2017,
ước tính có khoảng 6.500 cơ sở tham gia Airbnb ở Việt Nam và có khoảng 80% số lượng
khách đặt phòng là người nước ngoài tại Việt Nam. Sau 2 năm thí điểm thì Uber, Grab đã
vận chuyển được hàng chục triệu lượt hành khách trong khi Nhà nước không hề mất tiền
để tài trợ phát triển loại hình này, mà hoàn toàn do xã hội hoá (Hiếu Công, 2018).
Kinh tế chia sẻ thuận tiện cho người sử dụng và ngày được đón nhận rộng rãi: Theo
một cuộc khảo sát của một công ty nghiên cứu thị trường và quảng bá toàn cầu Nielsen vào
năm 2014 đối với người tiêu dùng khu vực Đông Nam Á, cụ thể tại Việt Nam chỉ có 18%
người được hỏi từ chối chia sẻ tài sản cá nhân của mình, thấp hơn 14 điểm phần trăm so
với tỉ lệ trung bình trên toàn thế giới. Trong khi đó, số người được hỏi sẵnsàng tận dụng
các sản phẩm và dịch vụ chia sẻ tại Việt Nam lên tới 76%, cao hơn mức bình quân 66% của
toàn cầu (Nielsen, 2014). Bên cạnh đó, đối với dịch vụ vận tải trực tuyến, theo báo cáo 5
năm kể từ khi thành lập, Grab công bố đã thành công giúp khách hàng tiết kiệm rất nhiều


15

thông Vận tải đề xuất xếp vận tải Uber, Grab như taxi truyền thống (Kiều Linh, 2018). Bên


16
cạnh đó là sự lúng túng trong việc quản lý hoạt động kinh doanh theo loại hình mới này bởi
vì các hoạt động này hoạt động đan xen và giao thoa với các hoạt động kinh doanh truyền
thống; giữa chức năng quản lý của các Bộ/ngành với nhau.
Hiện nay còn thiếu các chính sách đảm bảo cạnh tranh công bằng giữa kinh tế truyền
thống và kinh tế chia sẻ trong từng ngành cụ thể, như sự bất bình đẳng trong đăng kí kinh
doanh, trong kiểm soát số lượng xe, trong việc xác định giá thành dịch vụ giữa Grab và các
doanh nghiệp taxi truyền thống. Có thể thấy rằng, các hãng taxi truyền thống đang bị kiểm
soát chặt chẽ và khắt khe hơn so với các taxi công nghệ, dẫn đến nhiều trường hợp như gia
tăng áp lực cho cơ sở hạ tầng giao thông vận tải vì số lượng xe Grab gia tăng ngày một
nhiều hay việc được đi vào những tuyến đường mà taxi truyền thống bị cấm,…
Hiện cũng còn thiếu các qui định về quản lý chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ để
bảo vệ người tiêu dùng, đặc biệt là xác định rõ hơn nghĩa vụ về bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng trong hoạt động thương mại điện tử có liên quan đến kinh tế chia sẻ. Nghị định số
52/2013/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2013 về Thương mại điện tử hiện nay còn chưa bao
quát được hết các hành vi thương mại điện tử trong kinh tế chia sẻ. Trong khi đó để quản lý
hoạt động Thương mại điện tử cần kết hợp với một số Nghị định khác như Nghị định số 86
của Bộ Giao thông vận tải và các Nghị định khác. Luật bảo vệ người tiêu dùng số
59/2010/QH12 ngày 17/11/2010 cũng cần được xem xét, bổ sung để có phạm vi điều
chỉnh, bổ sung rõ trách nhiệm các bên liên quan đối với người tiêu dùng trong các giao
dịch liên quan tới kinh tế chia sẻ.
Còn thiếu các cơ chế chính sách qui định trách nhiệm rõ ràng hơn của các bên trong
kinh tế chia sẻ. Do quan hệ hợp đồng mới trong kinh tế chia sẻ là quan hệ “3 bên” nên các
chính sách kèm theo cần xử lý được mối quan hệ này thay vì xử lý quan hệ giữa hai đối tác
trong hợp đồng kinh tế như trước đây. Nếu không có các qui định rõ ràng có thể dễ dẫn đến
tình trạng đùn đẩy trách nhiệm và cơ quan quản lý nhà nước không nắm được thông tin.
Trách nhiệm của các bên đối với nhà nước cũng cần được qui định rõ hơn, đặc biệt là với

giao kết một hợp đồng hay hai hợp đồng trong quá trình vận tải.
Về mặt thuế, đối với loại hình kinh doanh có đăng ký nào bất kể là theo mô hình kinh
tế chia sẻ hay theo mô hình kinh doanh truyền thống, Bộ Tài chính cũng có thể thu đủ theo
loại hình kinh doanh. Tuy nhiên, hiện nay đối với các doanh nghiệp có trụ sở ở nước ngoài
kinh doanh tại Việt Nam, có doanh thu tại Việt Nam, chỉ nộp được thuế thu nhập doanh
nghiệp theo phương thức trực tiếp do không quản lý được đầu vào ở nước ngoài và không
có trụ sở thường trú tại Việt Nam. Do vậy, gây ra sự bất bình đẳng giữa doanh nghiệp trong
nước và doanh nghiệp nước ngoài. Khoảng trống về nghĩa vụ thuế của các loại công ty này
trong kinh tế chia sẻ diễn ra tại Việt Nam cần được khắc phục. Hiện còn thiếu (hoặc


18
chưa hoàn thiện) các cơ chế, chính sách quản lý các giao dịch thanh toán điện tử xuyên
biên giới để có thể giám sát việc thực hiện nghĩa vụ thuế của các đối tác nước ngoài tham
gia vào các hoạt động kinh doanh ở Việt Nam.
Các quy định về thông tin trên mạng được quy định trong Luật Công nghệ thông tin
và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật hay Nghị định 52/2013/NĐ-CP về TMĐT mới chủ
yếu đề cập đến các cá nhân, tổ chức kinh doanh trong và ngoài nước (có chi nhánh hay đầu
tư ở Việt Nam) mà chưa có quy định pháp lý nào đối với các cá nhân hay tổ chức nước
ngoài có hợp tác, kinh doanh tại Việt Nam (không có văn phòng, đại diện tại Việt Nam).
Do vậy còn thiếu các qui định liên quan đến trách nhiệm của các nền tảng như Uber,
Airbnb,… về cung cấp thông tin cho các cơ quan quản lý. Ví dụ theo quy định của Bộ
Công thương, chỉ với các trang web thương mại điện tử có tên miền Việt Nam thì mới phải
kê khai thông tin trực tuyến nên nhiều trang không có tên miền Việt Nam nhưng vẫn phát
sinh giao dịch tại Việt Nam nên không bị quản lý.


19

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ

20
vụ trên thị trường, doanh nghiệp thu hộ thuế và nộp thuế GTGT 3% và thuế thu nhập cá
nhân 1,5% trên doanh thu cho các tài xế tham gia lái xe (Điều 76).
Đối với dịch vụ chia sẻ phòng ở tại Việt Nam: Mô hình này hiện nay đều phải
tuân thủ theo một số quy định về pháp luật về đăng ký kinh doanh như Luật Doanh
nghiệp (2014), và các quy định pháp luật chuyên ngành khác như Luật Du lịch (2017),
Luật Nhà ở (2014). Ngoài ra, do đây là một loại hình kinh doanh có điều kiện nên dịch
vụ chia sẻ/đặt phòng ở cũng tuân thủ theo các quy định cụ thể như sau: Dịch vụ chia sẻ
phòng ở là một trong những loại hình kinh doanh lưu trú du lịch, các loại cơ sở lưu trú
được cho phép quy định trong Luật Du lịch (2017) bao gồm: Khách sạn, biệt thự du
lịch, căn hộ du lịch, tàu thủy lưu trú dịch vụ, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho
khách thuê du lịch, bãi cắm trại du lịch, và các cơ sở khác,... (Điều 48). Điều kiện kinh
doanh đối với các dịch vụ lưu trú được quy định chi tiết tại Điều 49 trong Luật Du lịch
(2017). Trình tự thủ tục đăng ký đối với các đơn vị cho thuê là khách sạn, được quy
định rất rõ tại Điều 27 trong Luật Doanh nghiệp (2014) và các văn bản pháp qui hướng
dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp như: Nghị định 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 của
Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp; Thông tư 20/2015/TT-BKH ngày 1/12/2015 của
Bộ Kế hoạch Đầu tư hướng dẫn một số nội dung về trình tư, thủ tục đăng ký doanh
nghiệp theo quy định tại Nghị định 78/2015/NĐ-CP. Tuy nhiên, theo trong Luật Nhà ở
(2014): nếu đối tượng là cá nhân cung cấp nhà ở cho thuê thì không cần đăng ký kinh
doanh nhưng vẫn cần tuân thủ các quy định về chất lượng, an toàn cho bên thuê nhà ở,
có đầy đủ hệ thống điện, cấp, thoát nước, bảo đảm vệ sinh môi trường (Điều 118). Điều
kiện an ninh, trật tự; an toàn về phòng cháy và chữa cháy, bảo vệ môi trường; an toàn
thực phẩm theo quy định của pháp luật thì cá nhân hay tổ chức phải thỏa mãn các điều
kiện quy định tại Luật phòng cháy và chữa cháy (2001), Luật sửa đổi bổ sung phòng
cháy và chữa cháy (2013), Luật an toàn thực phẩm (2010), Nghị định số 96/2016/NĐCP, ngày 01/7/2016 của Chính phủ quy định điều kiện về an ninh, trật tự đối với một số
ngành nghề kinh doanh có điều kiện và các văn bản pháp qui hướng dẫn thi hành.Về
điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật, tại Điều 27 trong Nghị định 168/2017/NĐ-CP về
hướng dẫn thi hành Luật Du lịch có quy định chi tiết về điều kiện tối thiểu về cơ sở vật
chất kỹ thuật, dịch vụ đối với nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê phải có. Đối với

thống pháp luật và chính sách hiện hành để các hoạt động của kinh tế chia sẻ được quy
định và kiểm soát chặt chẽ tại Việt Nam, cụ thể trong các lĩnh vực như: đăng ký kinh
doanh, thực hiện nghĩa vụ thuế, nghĩa vụ tài chính, nghĩa vụ khai báo thông tin, nghĩa


22
vụ đáp ứng các điều kiện kinh doanh chuyên ngành, nghĩa vụ về thực hiện chính sách
bảo hiểm. Đặc biệt, cần quy định rõ trách nhiệm giữa các bên trong kinh tế chia sẻ,
trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý đối với mô hình kinh doanh
này. Đồng thời, cần có những đánh giá tác động của từng loại hình kinh tế chia sẻ tới
nền kinh tế để cơ chế quản lý phù hợp, cần quản lý những lĩnh vực có thể ứng dụng
được mô hình này, có lĩnh vực không cho phép để đảm bảo quyền lợi của người tiêu
dùng và tính ổn định về mặt kinh tế - xã hội.
3.2.2 Xây dựng môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các hoạt động kinh tế chia sẻ
và truyền thống
Cần phải khẳng định tận dụng tối đa tài nguyên vốn và lao động là một việc cần
thiết, tuy nhiên, Nhà nước cần phải đảm bảo đề ra được các tiêu chuẩn phù hợp với
từng lĩnh vực ngành nghề kinh doanh cụ thể, cùng với đó, người cung cấp dịch vụ phải
có trách nhiệm đảm bảo tiêu chuẩn được đề ra. Do vậy, để phát huy được lợi ích của
mô hình kinh tế chia sẻ, Nhà nước cần có các chính sách thúc đẩy mô hình này theo
hướng nới lỏng các điều kiện kinh doanh truyền thống áp dụng chung cho cả khu vực
truyền thống và khu vực kinh tế chia sẻ đồng thời nâng cao kiểm soát quản lý đối với
mô hình kinh tế chia sẻ trong việc cung ứng dịch vụ để tịnh tiến dần sự công bằng giữa
truyền thống và công nghệ, gia tăng tính cạnh tranh, công bằng và đảm bảo phân phối
hài hòa lợi ích cho các các nhân trong xã hội, tiến tới sự phái triển ổn định, bền vững.
3.2.3 Nâng cao năng lực quản lý của bộ máy nhà nước nhằm bắt kịp với xu hướng
phát triển của mô hình kinh tế chia sẻ
Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đang từng bước thay đổi bộ mặt
của nền kinh tế, cấp thiết cần nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý nhà nước để khuyến
khích và quản lý sự phát triển các hoạt động kinh tế chia sẻ hiện còn đang ở mức thấp,

hàng Nhà nước cấp phép hoạt động hoặc trực tiếp quản lý, thanh kiểm tra.
Thứ ba, cần xây dựng cơ chế phù hợp để các bên trong hoạt động kinh tế chia sẻ
có thể kiểm soát được việc sử dụng thông tin của các nền tảng, các doanh nghiệp sử
dụng dữ liệu cá nhân, tổ chức của mình theo đúng thỏa thuận giữa các bên. Có vậy, môi
trường an ninh mạng mới được đảm bảo minh bạch, rõ ràng, quyền lợi của các doanh
nghiệp và người tiêu dùng được đảm bảo, hạn chế việc phát sinh các mâu thuẫn nảy ra
từ sự phát triển của mô hình kinh tế mới mẻ và tương đối phức tạp này.
3.2.5 Tăng cường nhận thức của các bên trong nền kinh tế chia sẻ, bao gồm cả Nhà
nước, doanh nghiệp và người dân


24
Mô hình kinh tế chia sẻ là mọi người xây dựng niềm tin thông qua một mô hình
cho phép các giao dịch trên môi trường mạng để thu được những lợi ích của việc chia
sẻ và việc việc xếp hạng đánh giá ngang hàng, xác thực và trách nhiệm của bên thứ ba,
bảo hiểm là cách phổ biến nhất để thiết lập sự tin tưởng như vậy giữa người dùng và
nền tảng cũng như trong số những người dùng. Cụ thể:
Thứ nhất, cần quy định rõ trách nhiệm của các cá nhân và doanh nghiệp về khai
báo thông tin về các hoạt động của kinh tế chia sẻ cho các cơ quan quản lý Nhà nước,
bao gồm các thông tin hoạt động, nghĩa vụ thuế, và các quy định quản lý chuyên ngành.
Thứ hai, cần xây dựng cơ chế chia sẻ thông tin và dữ liệu giữa chính quyền các
cấp và các doanh nghiệp, các hiệp hội ngành nghề và các hộ kinh doanh.
Thứ ba, cần xây dựng cơ chế, chính sách giảm thiểu rủi ro cho các bên trong hoạt
động kinh tế chia sẻ bao gồm cảnh báo sớm cho người cung cấp dịch vụ, bảo vệ người
tiêu dùng.
3.2.6 Khuyến khích các doanh nghiệp theo mô hình kinh tế chia sẻ tiết kiệm tài
nguyên, sử dụng năng lượng tái tạo
Với tốc độ phát triển vô cùng nhanh chóng của mình, mô hình kinh tế chia sẻ
đang ngày càng trở nên phổ biến và tác động mạnh mẽ lên thói quen tiêu dùng của
người dân và xu hướng kinh doanh của các doanh nghiệp. Nhằm định hướng nền kinh

chia sẻ, đặc biệt là những lợi ích về tiết kiệm tài nguyên mà nó mang lại, đồng thời hạn
chế tới mức thấp nhất những bất cập. Do đó, cần thiết cần phải có những giải pháp điều
chỉnh và bổ sung kịp thời các văn bản pháp quy để quản lý tốt hoạt động kinh doanh
theo mô hình kinh tế chia sẻ và khai thác tối đa tiềm năng của mô hình này, qua đó giúp
nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế, phát triển kinh tế theo
xu hướng kinh tế xanh và bền vững.
Thừa nhận tính tất yếu của kinh tế chia sẻ, đồng thời có những biện pháp đảm bảo
môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa mô hình kinh tế chia sẻ và kinh tế truyền thống,
nâng cáo chất lượng đội ngũ quản lý trong thời đại công nghệ cũng như có những chính
sách khuyến khích các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình kinh tế chia sẻ tiết kiệm
tài nguyên, đẩy mạnh sử dụng năng lượng tái tạo là những giải pháp quan trọng nhằm
tạo dựng cho Việt Nam một nền kinh tế mới – nền kinh tế chia sẻ theo định hướng xanh
và bền vững.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status