TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG HÀ NỘI
KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHUYÊN NGÀNH TÀI CHÍNH QUỐC TẾ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
NHỮNG BẤT CẬP TRONG HỆ THỐNG THUẾ THU NHẬP TẠI
VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Thơm
Lớp: Anh 2
Khóa: 45
Giáo viên hƣớng dẫn: Th.S Nguyễn Thị Hiền
Hà Nội, tháng 05 năm 2010
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
ACCA: Association of Chartered Certified Accountants
(chứng chỉ kế toán của hiệp hội kế toán – kiểm toán Anh Quốc)
CFA: Chartered Financial Analyst
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………… 1
1.1. Thuế, nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nƣớc……………………… 4
1.1.1. Khái niệm về thuế………………………………………………………….….5
1.1.2. Đặc điểm của thuế………………………………………………………….…6
1.1.3. Phân loại thuế…………………………………………………… 7
1.1.3.1. Dựa theo phương thức đánh thuế………………………… ……… 8
1.1.3.2. Dựa theo cơ sở tính thuế…………………………………… ……… 9
1.1.3.3. Dựa theo phạm vi điều chỉnh của thuế…………………………….…10
1.1.4. Nguyên tắc đánh thuế………………………………………… …….…….10
1.1.4.1. Nguyên tắc lãnh thổ……………………………… ………………….10
1.1.4.2. Nguyên tắc đánh thuế theo quốc tịch …………………………….…12
1.1.4.3. Nguyên tắc đánh thuế theo nơi cư trú…………………………….…13
1.1.5. Vai trò của thuế đối với nền kinh tế quốc dân………………………….….14
1.1.5.1. Thuế là công cụ chủ yếu tập trung nguồn thu cho Ngân sách Nhà
nước………………………………………………………………………14
1.1.5.2. Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước……… 14
1.1.5.3. Thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trong
phân phối…………………………………………………………………15
1.1.5.4. Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản
xuất và kinh doanh. …………………………………………………… 16
1.2. Tổng quan về hệ thống thuế thu nhập……………………………………… 16
1.2.1. Khái niệm về hệ thống thuế thu nhập………………………………… …16 1.2.1.1. Tổng quan về hệ thống thuế………………………………………….16
1.2.1.2. Khái niệm về hệ thống thuế thu nhập………………………………….17
1.2.2. Các đặc điểm của thuế thu nhập…………………………………… ……18
1.2.3. Vai trò của hệ thống thuế thu nhập đối với nền kinh tế……………… …22
1.2.3.1. Thuế thu nhập là khoản thu quan trọng của NSNN…………….…22
2.3. Thực trạng những bất cập, vƣớng mắc trong hệ thống thuế thu nhập tại Việt
Nam………………………………………………………………………………49
2.3.1. Đối với luật thuế TNDN…………………………………………………… 49
2.3.1.1. Bất cập về các khoản chi được trừ và các khoản chi không được
trừ……………………………………………………………………………… 49
2.3.1.2. Bất cập liên quan tới thu nhập khác của doanh nghiệp……………50
2.3.1.3. Bất cập về ưu đãi thuế……………………………………………….53
2.3.1.4. Bất cập về vấn đề chuyển lỗ …………………………………………55
2.3.1.5. Bất cập về việc trích lập quỹ phát triển khoa học công nghệ……….57
2.3.2. Đối với luật thuế TNCN…………………………………………………… 58
2.3.2.1. Những bất cập trong đối tượng chịu thuế……………………………58
2.3.2.2. Những bất cập trong quy định đối tượng miễn thuế……………… 59
2.3.2.3. Bất cập trong cách tính thuế và căn cứ tính thuế ………………… 60
2.3.2.4. Bất cập ngưỡng thuế và biểu thuế suất. …………………………… 61
2.3.2.5. Bất cập về mức giảm trừ gia cảnh…………………………………….62
2.3.2.6. Bất cập về vấn đề đánh thuế thu nhập cá nhân khi chuyển nhượng
chứng khoán…………………………………………………………………… 64
2.3.2.7. Bất cập về thủ tục hành chính……………………………………… 66
Chƣơng 3: GIẢI PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG THUẾ THU
NHẬP TẠI VIỆT NAM………………………………………….………67
3.1. Định hƣớng nâng cao vai trò và vị thế của hệ thống thuế thu nhập đối với
nguồn thu NSNN và phát triển kinh tế……………………………………… 67 3.1.1. Xu hƣớng phát triển của thời cuộc………………………………….………67
3.1.2. Định hƣớng nâng cao vai trò của hệ thống thuế thu nhập……………… 68
3.2. Kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý đối với hệ thống thuế thu nhập tại Việt
Nam………………………………………………………………………………….71
3.2.1. kiến nghị đối với hệ thống pháp luật thuế TNDN…… ………………… 71
3.2.1.1. Liên quan tới các khoản chi phí được trừ và không được trừ……….71
chục năm. Loại thuế này đã, đang và sẽ tiếp tục đóng góp một tỷ trọng quan trọng
trong ngân sách nhà nước. Đồng thời, đó cũng là một trong những công cụ hữu
hiệu để nhà nước ta thực hiện những chính sách nhằm đảm bảo công bằng xã hội.
Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường phát triển như vũ bão hiện nay,
ngày càng nhiều các loại hình thu nhập mới được tạo ra khiến cho các luật thuế cũ
không còn phù hợp nữa. Cùng với đó, sự tinh vi trong gian lận cũng dẫn đến
những khoản thất thu lớn cho ngân sách nhà nước, gây ảnh hưởng nghiêm trọng
tới công bằng và trật tự xã hội.
Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã ban hành rất nhiều các luật thuế mới,
trong đó có luật thuế thu nhập doanh nghiệp 2008 và luật thuế thu nhập cá nhân
2007 nhằm đưa ngành thuế nước ta hội nhập với sự phát triển trong khu vực và
trên thế giới. Tuy nhiên, việc đưa các luật thuế này vào cuộc sống đã không dễ
dàng và suôn sẻ như ban đầu mong đợi. Đã có rất nhiều những bất cập, vướng mắc
trong việc thực hiện các luật thuế này gây một số khó khăn nhất định cho doanh
nghiệp và cá nhân. Bên cạnh đó, điều này cũng tạo điều kiện cho những kẻ cơ hội
lách luật nhằm trốn thuế.
Xuất phát từ thực tế trên, đề tài “Những bất cập trong hệ thống thuế thu
nhập tại Việt Nam và giải pháp hoàn thiện” sẽ đưa ra những điểm còn tồn tại
trong hệ thống thuế thu nhập và từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất đề hoàn
thiện hơn nữa hệ thống thuế thu nhập tại nước ta hiện nay.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tập trung đi sâu nghiên cứu những vấn đề cụ thể sau:
2
- Làm rõ những vấn đề cơ bản về thuế nói chung và hệ thống thuế thu
nhập nói riêng như: khái niệm, phân loại, nguyên tắc đánh thuế, vai trò của thuế,…
- Nghiên cứu những tiêu chí đánh giá tính hiệu quả của một sắc thuế: tiêu
chí công bằng, hiệu quả, chính xác, thuận tiện
- Nghiên cứu thực trạng hệ thống pháp luật về thuế thu nhập tại Việt Nam
hiện nay bao gồm thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp
Chƣơng 3: Một số kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện những bất cập,
vƣớng mắc trong hệ thống thuế thu nhập tại Việt Nam
Trong quá trình nghiên cứu, mặc dù đã rất cố gắng, tuy nhiên vẫn không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Do vậy rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ phía
người đọc để em có thể hoàn thiện đề tài hơn nữa. Nhân đây, em xin gửi lời cảm
ơn chân thành tới Cô giáo hướng dẫn Th.S Nguyễn Thị Hiền đã tận tình giúp đỡ
trong quá trình viết khóa luận.
Hà Nội tháng 5 năm 2010
Nguyễn Thị Thơm
4
Chƣơng1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ THUẾ VÀ HỆ
THỐNGTHUẾ THU NHẬP
1.4. Thuế - Nguồn thu chủ yếu của Ngân sách nhà nƣớc
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời là
một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời và tồn tại của Nhà nước. Để duy trì
Cho tới nay, các nhà học giả và trên các sách báo kinh tế trong nước và trên
thế giới vẫn chưa thống nhất quan điểm về khái niệm thuế.
Trong giáo trình thuế và hệ thống thuế của trường Đại học Ngoại thương:
“thuế là một phần thu nhập mà mỗi tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ đóng góp cho
Nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu theo chức năng của Nhà
nước. Người đóng góp được hưởng hợp pháp phần thu nhập còn lại”
(3)
.
Theo trang web http://vi.wikipedia.org/wiki/Thuế: “Thuế là số tiền thu của
các công dân, hoạt động và đồ vật (như giao dịch và tài sản) nhằm huy động tài
chính cho chính quyền, nhằm tái phân phối thu nhập, hay nhằm điều tiết các họat
động kinh tế - xã hội”.
Những khái niệm về thuế nêu trên tuy chưa thật thống nhất về thuế, nhưng
các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được khái niệm về thuế thì định
nghĩa về thuế phải nêu bật được những khía cạnh sau:
- Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng các quan hệ tiền tệ giữa Nhà nước
với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp.
- Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này là việc chuyển giao thu nhập có
tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của Nhà nước.
- Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã
được pháp luật quy định
Từ việc phân tích các định nghĩa trên, chúng ta có thể định nghĩa về thuế như
sau:
Thuế là một khoản đóng góp bắt buộc của các tầng lớp dân cư trong xã hội
cho Nhà nước theo pháp luật quy định về mức độ và thời hạn, không mang tính
hoàn trả trực tiếp, nhằm sử dụng cho mục đích chung của toàn xã hội.
(4)(3) GS. TS Bùi Xuân Lưu (chủ biên), TS Nguyễn Hữu Khải, ThS Nguyễn Xuân Nữ, Giáo trình thuế và
với những người vi phạm pháp luật.
(c) Thuế là hình thức chuyển giao thu nhập không mang tính hoàn trả trực
tiếp. Còn phí, lệ phí mang tính hòan trả trực tiếp cho người hưởng dịch vụ này
7
Tính chất không hoàn trả trực tiếp của thuế được thể hiện trên các khía cạnh:
Thứ nhất, Sự chuyển giao thu nhập thống qua thuế không mang tính chất đối
giá, nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong xã hội chuyển giao cho Nhà nước
không hòan toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và
hàng hóa công cộng do Nhà nước cung cấp. Người nộp thuế không có quyền đòi
hỏi Nhà nước cung cấp hàng hóa, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình thì mới
nộp thuế cho Nhà nước.
Thứ hai, các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được hoàn trả trực
tiếp cho người nộp thuế. Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hóa,
dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà
người nộp thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ
đã nộp cho Nhà nước. Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các
khoản phí, lệ phí và giá cả.
1.4.3. Phân loại thuế
Tùy theo điều kiện hòan cảnh của mỗi nước mà hệ thống thuế bao gồm nhiều
hay ít các loại thuế khác nhau. Để định hướng xây dựng và quản lý hệ thống thuế,
người ta tiến hành sắp xếp các sắc thuế có cùng tính chất thành những nhóm khác
nhau, gọi là phân loại thuế.
Có thể đưa ra khái niệm về phân loại thuế như sau: phân loại thuế là sự sắp
xếp các sắc thuế trong một hệ thống chính sách thuế có cùng tính chất thành
những nhóm khác nhau theo các tiêu thức nhất định.
(5)
1.1.3.1. Dựa theo phương thức đánh thuế
Các hình thức thuế, suy cho cùng đều đánh vào thu nhập của các tổ chức cá
Người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là người chịu loại thuế này.
Thuế gián thu có đặc điểm là người nộp thuế theo luật và người chịu thuế
không đồng nhất với nhau. Người nộp thuế là người sản xuất, kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hóa, dịch vụ đó, họ
mua hàng hóa với giá cả trong đó có cả thuế. Loại thuế này có sự dịch chuyển
gánh nặng thuế trong những trường hợp nhất định. Thuế gián thu ảnh hưởng tới
9
hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế giá cả thị trường. Loại thuế này
thường là các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là khoản thu nhập của dùng để tiêu
dùng. Ở nước ta, các sắc thuế gián thu bao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ
đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu,…
Ưu điểm của thuế gián thu là đối tượng chịu thuế rất rộng. Thuế gián thu
được che đậy qua giá bán hàng hóa, dịch vụ nên người chịu thuế ít có cảm giác
mình bị Nhà nước đánh thuế. Thuế gián thu đem lại nguồn thu thường xuyên và ổn
định cho Ngân sách Nhà nước. Đối tượng quản lý thu thuế cũng tập trung hơn,
nghiệp vụ tính và thu thuế đơn giản, nên chi phí quản lý thuế cùng thấp hơn so với
thuế trực thu.
Nhược điểm của loại thuế này là có tính chất lũy thoái nên không đảm bảo
tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế. Nếu tính tỷ lệ động viên thuế gián thu so
với thu nhập thì người giàu có tỷ lệ động viên thuế chịu thuế thấp hơn so với
người nghèo.
1.1.3.2. Dựa theo cơ sở tính thuế
Nếu căn cứ vào cơ sở đánh thuế, có thể chia các sắc thuế thành ba loại như
sau:
Thuế thu nhập: bao gồm các sắc thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm
được. Thu nhập kiếm được từ nhiều nguồn: từ lao động dời dạng tiền lương, tiền
công; thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh dưới dạng lợi nhuận, lợi tức cổ
phần,…do đó thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu
nhập công ty, thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài, thuế lợi tức cổ phần, …
1.4.4.1. Nguyên tắc lãnh thổ (nguyên tắc đánh thuế theo nguồn gốc
thu nhập)
Nguyên tắc này xuất phát từ quyền đánh thuế của một Nhà nước là không
hạn chế trong phạm vi biên giới quốc gia. Theo đó thì Nhà nước có quyền đánh
thuế không hạn chế đối với mọi khỏan thu nhập hay tài sản có nguồn gốc phát sinh
trong phạm vi lãnh thổ của Nhà nước đó. Vì lý do đó mà người ta còn gọi nguyên
tắc này là nguyên tắc đánh thuế theo nguồn gốc lãnh thổ hình thành thu nhập.
11
Bất luận thu nhập được tạo ra bởi công dân mang quốc tịch nào, hễ phát sinh
trong khuôn khổ lãnh thổ quốc gia nào thì phải nộp thuế cho chính phủ nuớc chủ
nhà bởi những bảo hộ, bảo đảm và tiện ích công cộng mà nước chủ nhà đã cung
cấp. Ví dụ, tại điều 2 của Luật Thuế Thu nhập cá nhân Việt Nam 2007: “ Đối
tượng nộp thuế thu nhập cá nhân là cá nhân cư trú có thu nhập chịu thuế phát sinh
trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế
phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam”.
Trường hợp xuất hiện xung đột giữa nguyên tắc quốc tịch và nguyên tắc lãnh
thổ thì các quốc gia và vùng lãnh thổ sẽ thỏa thuận tránh đánh thuế hai lần bằng
một hiệp định. Hiệp định không tạo ra các nghĩa vụ thuế mới, khác hoặc nặng hơn
so với luật thuế trong nước. Ví dụ: trường hợp tại Hiệp định có các quy định theo
đó Việt Nam có quyền thu thuế đối với một loại thu nhập nào đó nhưng Luật thuế
Việt Nam chưa có quy định thu thuế đối với thu nhập đó hoặc quy định thu với
mức thấp hơn thì áp dụng theo quy định của Luật thuế Việt Nam. Khi Việt Nam
thực hiện các quy định tại Hiệp định, vào từng thời điểm nhất định các từ ngữ
chưa được định nghĩa trong Hiệp định sẽ có nghĩa như quy định tại luật của Việt
Nam theo mục đích thuế tại thời điểm đó, trừ trường hợp ngữ cảnh đòi hỏi có sự
giải thích khác.
Một ví dụ khác nữa về nguyên tắc nguồn gốc được thể hiện tại điều 28, Thuế
đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn của Luật Thuế Thu nhập cá nhân: “Thuế
đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn của cá nhân không cư trú được xác định
hàng hóa đi ra khỏi một gia để vào đất nước khác thì xứ đi sẽ đánh thuế 0% hàm ý
loại bỏ toàn bộ VAT ra khỏi những bộ phận cấu thành giá trị hàng hóa. Đến khi
mặt hàng này được nhập khẩu vào xứ đến nó không còn chứa đựng bất kỳ một
đồng tiền thuế nào của xứ đi và nó sẵn sàng chịu VAT nơi đến. Đây cũng chính là
nguyên tắc nơi đến (destination principle) đang được thừa nhận rộng rãi.
Trong khi đó, ở Việt Nam có câu “Nộp thuế là nghĩa vụ và quyền lợi của
người dân” dễ khiến người dân thắc mắc về quyền lợi và mối tương quan giữa
quyền lợi-nghĩa vụ mà không phải ai cũng hiểu và đo được những lợi ích mà chính
phủ mang lại cho đất nước, như: sự ổn định về chính trị, sự vững mạnh về quốc
==========================================================
(6) http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2009/04/20/2704/
13
phòng, uy tín và vị thế cạnh tranh quốc gia, môi trường thiên nhiên,… Hơn nữa
câu khẩu hiệu của cơ quan thuế Việt Nam dễ khiến người ta quên mất một đặc
trưng cốt lõi của thuế là không đối giá.
1.4.4.3. Nguyên tắc đánh thuế theo nơi cư trú
Theo nguyên tắc này, quyền đánh thuế của Nhà nước được xác lập trên cơ sở
mối quan hệ kinh tế xã hội của đối tượng nộp thuế đối với quốc gia đó. Khi một tổ
chức sản xuất kinh doanh được xác định là “đối tượng cư trú” tại một nước thì có
nghĩa là đối tượng đó gắn chặt đời sống kinh tế của mình với quốc gia đó, được
hưởng các dịch vụ công cộng và cơ sở hạ tầng ở quốc gia đó cho nên phải có
nghĩa vụ nộp thuế đối với mọi khoản thu nhập của doanh nghiệp. Đối với “đối
tượng không cư trú” thì chỉ bị đánh thuế đối với phần thu nhập phát sinh trong
phạm vi lãnh thổ của nước đó. Theo thông lệ quốc tế và các hiệp định tránh đánh
thuế 2 lần của các nước ký kết, một công ty được coi là “cư trú” tại một nước nếu
công ty đó có “trụ sở điều hành thực tế” tại nước đó, còn nếu chỉ có “cơ sở thường
trú” thì được coi là “đối tượng không cư trú”
1.1.5.2. Thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước
Nền kinh tế thị trường, bên cạnh những mặt tích cực cũng chứa đựng những
khuyết tật vốn có của nó. Nhà nước sử dụng công cụ thuế để khắc phục những
khuyết tật của thị trường trên những mặt sau:
- Điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế: kinh tế phát triển theo chu kỳ với những giai
đoạn thăng trầm khác nhau là không thể tránh khỏi. Trong những năm khủng
hoảng và suy thoái kinh tế, Nhà nước có thể hạ thấp mức thuế, tạo ra những điều
kiện ưu đãi về thuế thuận lợi nhằm kích thích nhu cầu tiêu dùng để tăng đầu tư và
mở rộng sản xuất. Ngược lại, trong thời kỳ phát triển quá mức, có nguy cơ dẫn đến
mất cân đối, Nhà nước có thể tăng thuế, thu hẹp đầu tư mà vẫn giữ vững được
nhịp độ tăng trưởng theo mục tiêu đã đặt ra.
15
- Thuế còn góp phần hình thành cơ cầu ngành hợp lý theo yêu cầu phát triển
của nền kinh tế. Bằng việc ban hành hệ thống thuế, Nhà nước sẽ quy định đánh
thuế hoặc không đánh thuế, đánh thuế suất cao hoặc thấp vào các ngành nghề, các
mặt hàng cụ thể. Thông qua đó, Nhà nước có thể thúc đẩy sự phát triển của những
ngành kinh tế quan trọng hoặc san bằng tốc độ tăng trưởng giữa chúng, đảm bảo
sự cân đối giữa các ngành nghề trong nền kinh tế.
- Điều chỉnh tích lũy tư bản: Tích lũy tư bản có vai trò quan trọng trong việc
tái sản xuất nền kinh tế, góp phần tăng trưởng bền vững. Việc thay đổi các chính
sách thuế của Nhà nước có thể ảnh hưởng tới quy mô và tốc độ tích lũy tư bản, do
đó tác động tới quá trình đầu tư, tái sản xuất phát triển kinh tế
- Thuế có thể được sử dụng để điều tiết việc làm và thất nghiệp: khi nền kinh
tế có mức thất nghiệp cao thì cùng với việc mở rộng chi tiêu của chính phủ, việc
cắt giảm thuế là cần thiết để tăng tổng cầu và việc làm. Ngược lại, trong thời kỳ
lạm phát cao, thuế cần phải được gia tăng để giảm tổng cầu và bình ổn việc làm.
- Thuế được sử dụng như một công cụ có hiệu quả để góp phần thực hiện
chính sách đối ngoại và bảo hộ nền sản xuất trong nước và thúc đẩy sự hòa nhập
1.2.1.1 Tổng quan về hệ thống thuế
Trong nền kinh tế thị trường, thu nhập được tạo ra và luân chuyển theo một
dòng khép kín: người lao động nhận được tiền công, dùng tiền công này để mua
hàng hóa, dịch vụ của các công ty, đến lượt các công ty lại dùng số tiền thu được
để trả lãi cho vốn vay để đầu tư, tiền thuê đất, tiền nhân công,… và sau đó các đối
tượng có thu nhập này lại dùng thu nhập để chi tiêu dưới nhiều dạng để mua hàng
hóa, dịch vụ. Chính sự biến đối đa dạng này đã tạo ra những cơ sở đánh thuế khác
nhau, do đó rạo ra khả năng cho Chính phủ đánh thuế trên các cơ sở đánh thuế
khác nhau trên sự luân chuyển của dòng thu nhập khép kín. Hay nói cách khác là
xuất hiện các hình thức thuế khác nhau
Ta có thể hiểu, hệ thống thuế là tổng hợp ác hình thức thuế khác nhau với cơ
chế hoạt động, đối tượng điều chỉnh, phương pháp đánh thuế, mức độ điều tiết và
phương pháp thu nộp khác nhau. Các hình thức thuế có mối quan hệ mật thiết, tác
17
động lẫn nhau nhằm thực hiện mục tiêu điều chỉnh nền kinh tế vĩ mô của Nhà
nước.
Hệ thống thuế đề cập ở đây chủ yếu là hệ thống chính sách thuế, các luật
thuế, các hình thức thuế mà một quốc gia sử dụng để điều tiết nền kinh tế.
Số lượng các hình thức thuế trong hệ thống thuế nhiều hay ít phụ thuộc vào
các yếu tố cơ bản sau:
- Một là, sự vận động của dòng thu nhập trong nền kinh tế đơn giản hay phức
tạp.
- Hai là, khả năng kiểm soát và điều chỉnh sự vận động của dòng thu nhập
trong nền kinh tế của Chính phủ.
Tùy thuộc khả năng và ý đồ của Chính phủ trong việc điều chỉnh sự vận động
của dòng thu nhập ở những giai đoạn khác nhau mà hình thành các hệ thống thuế
khác nhau. Ngoài hệ thống chính sách thuế, để thực thi pháp luật về thuế, các quốc
gia còn phải có hệ thống các định chế về thuế. Đó là tổng hợp các quy định, các
biện pháp về nghiệp vụ, về tổ chức, về kinh tế, về hành chính,…và cơ chế vận
Ở Việt Nam, hệ thống thuế thu nhập hiện nay bao gồm hai loại thuế chủ yếu
đó là thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân.
1.5.2. Các đặc điểm của thuế thu nhập
- Là thuế trực thu và khó chuyển
Tính chất trực thu của loại thuế thu nhập được thể hiện ở khía cạnh đối tượng
nộp thuế và đối tượng chịu thuế là một. Thông thường, trong các quy định về luật
thuế thu nhập doanh nghiệp hay luật thuế TNCN thì đối tượng chịu thuế thường là
thu nhập của các tổ chức, cá nhân đó sau khi đã trừ đi các khoản chi phí. Còn đối
tượng nộp thuế chính là các tổ chức cá nhân có thu nhập chịu thuế.
Tính khó chuyển thể hiện ở chỗ: đây là thuế đánh vào thu nhập của đối tượng
nộp thuế nên đối tượng này phải kê khai và nộp thuế thu nhập. Không giống như
các loại thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng hay thuế tiêu thụ đặc biệt thì đối
tượng nộp thuế có thể chuyển, khấu trừ thuế thông qua các phương pháp nộp thuế
mà pháp luật quy định
19
- Có tính công bằng xã hội cao
Thuế thu nhập là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập chịu thuế của đối
tượng nộp thuế. Với các biểu thuế suất lũy tiến thì người có thu nhập cao theo đó
sẽ phải nộp một mức thuế cao hơn so với những người có mức thu nhập thấp hơn.
Và những người có mức thu nhập thấp hơn nữa thì không phải nộp thuế. Điều này
khác với các loại thuế gián thu đánh vào tiêu dùng. Theo đó, người giàu hay người
nghèo, có thu nhập cao hay thấp nếu tiêu dùng một lượng hàng hóa như nhau thì
phải chịu một mức thuế như nhau, tạo ra tính chất lũy thoái của thuế gián thu và
giảm đi tính công bằng của loại thuế này.
Như vậy, với việc quy định rõ các mức thuế suất cho các đối tượng có mức
thu nhập khác nhau. Thuế thu nhập là một loại thuế quan trọng góp phần điều hoà
công bằng xã hội.
- Tƣơng đối nhạy cảm