Khóa luận tốt nghiệp: Định hướng phát triển nghề môi giới chứng khoán tại Việt Nam - Pdf 14



TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
KHOA: KINH TẾ NGOẠI THƯƠNG
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

Đề tài:
ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NGHỀ MÔI
GIỚI CHỨNG KHOÁN TẠI VIỆT NAM

Sinh viên thực hiện : Nguyễn Nguyên Dung
Lớp : Anh 3
Khoá : K41A - KTNT
Giáo viên hướng dẫn : TS. Nguyễn Đình Thọ
chính nói chung. Chính vì thế, nghề môi giới chứng khoán cần đƣợc nhận
thức một cách đầy đủ từ mọi khía cạnh pháp lý, đạo đức, cá nhân và cộng
đồng, tích cực và tiêu cực… để từ đó có thể hoạch định một chƣơng trình
xây dựng và phát triển nghề môi giới chứng khoán nhƣ một bộ phận quan
trọng của chiến lƣợc phát triển tổng thể ngành chứng khoán.
Định hƣớng phát triển nghề môi giới chứng khoán tại việt Nam

2
Trên cơ sở nghiên cứu nghề môi giới chứng khoán cũng nhƣ phân
tích thực trạng nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam, đề tài “Định
hƣớng phát triển nghề môi giới chứng khoán ở Việt Nam” có ý nghĩa
thiết thực cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn, nhằm góp phần củng cố và
thúc đẩy nghề môi giới chứng khoán nói riêng và thị trƣờng chứng khoán
Việt Nam nói chung phát triển ổn định hơn.
2. Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận:
- Làm rõ bản chất của nghề môi giới chứng khoán qua việc phân tích
chức năng, bản chất, đặc trƣng và các loại môi giới chứng khoán cũng nhƣ
mâu thuẫn nội tại của nó trong nền kinh tế, nhất là trong giai đoạn phát
triển ban đầu của thị trƣờng chứng khoán Việt Nam, từ đó phân tích vai trò
của nghề môi giới chứng khoán trong nền kinh tế nói chung và trên thị
trƣờng chứng khoán nói riêng.
- Xem xét cơ cấu tổ chức và vận hành của các công ty môi giới
chứng khoán; các kỹ năng cần thiết của ngƣời môi giới chứng khoán và
những chuẩn mực nghề nghiệp của họ với tƣ cách là những cá nhân hành
nghề, đặt trong xu hƣớng phát triển của thế giới hiện đại.
- Đánh giá thực trạng thị trƣờng chứng khoán Việt Nam và nghề môi
giới chứng khoán của Việt Nam trong giai đoạn đầu hoạt động.
- Đề xuất một số giải pháp cho việc xây dựng và phát triển nghề môi
giới chứng khoán ở Việt Nam.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu:

4
CHƢƠNG I: TỔNG QUAN VỀ NGHỀ MÔI GIỚI
CHỨNG KHOÁN

I. VÀI NÉT VỀ NGHỀ MÔI GIỚI CHỨNG KHOÁN
1. Khái quát về thị trƣờng chứng khoán
1.1. Khái niệm và chức năng của thị trƣờng chứng khoán
1.1.1. Khái niệm thị trƣờng chứng khoán
Trong xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa ngày càng phát triển nhƣ hiện
nay, TTCK đã trở thành một yếu tố căn bản, không thể thiếu đƣợc của một
nền kinh tế hiện đại. TTCK đã và đang trở thành một định chế tài chính
quan trọng nhất đối với những nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển. Về
định nghĩa TTCK thì từ trƣớc tới nay cũng có rất nhiều định nghĩa khác
nhau về TTCK.
Theo tiếng Latin, TTCK có nghĩa là BURSA hay còn gọi là “sở giao
dịch chứng khoán”, nghĩa đen là ví đựng tiền, là một tổ chức hoạt động có
điều khiển. Theo chữ Hán, TTCK là giao dịch sở, sở có nghĩa là nơi chốn,
còn giao dịch có nghĩa là mua bán, đổi chác.
Từ điển Longman Dictionary of Business English, năm 1985, định
nghĩa TTCK nhƣ sau: “An organized market where securites are bought
and sold under fixed rules
1
”, dịch sang tiếng Việt có nghĩa là “TTCK là
một thị trƣờng có tổ chức, là nơi mà các chứng khoán đƣợc mua và bán
theo những nguyên tắc nhất định”. Cũng theo The America Heritage
Dictionary of the English Languahe, Dell, 1971, trong tiếng Anh, thì
securites có nghĩa là written evidence of ownership, có nghĩa tiếng Việt là
“chứng từ sở hữu bằng văn bản”
2


Thứ hai, TTCK cung cấp môi trƣờng đầu tƣ cho công chúng thông
qua TTCK, các nhà đầu tƣ có thể lựa chọn một loại hình chứng khoán phù
hợp để đầu tƣ nhằm nâng cao hiệu quả đầu tƣ và thu lợi nhuận.
Thứ ba, TTCK tạo tính thanh khoản cho các loại chứng khoán. Nhờ
có TTCK mà các nhà đầu tƣ có thể chuyển cổ phiếu họ đang sở hữu thành
tiền mặt hoặc các loại chứng khoán một cách dễ dàng. TTCK càng hoạt
động hiệu quả càng nâng cao đƣợc tính thanh khoản của các loại chứng
khoán và thu hút càng nhiều nhà đầu tƣ tham gia thị trƣờng.
Thứ tƣ, TTCK là thƣớc đo đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh
nghiệp. Hoạt động của doanh nghiệp đƣợc phản ánh một cách tổng hợp và
chính xác trên TTCK. Điều này tạo môi trƣờng cạnh tranh giữa các doanh 3
GS. NGƢT Đinh Xuân Trình và PGS.TS. Nguyễn Thị Quy, “Giáo trình thị trƣờng chứng khoán” của
Trƣờng ĐH Ngoại Thƣơng, NXB Giáo Dục, T.8

4
Nghị định số 48/ 1998/ NĐ - CP ngày 11/ 7/ 1998 của Chính phủ về chứng khoán và thị trƣờng chứng
khoán

Định hƣớng phát triển nghề môi giới chứng khoán tại việt Nam

6
nghiệp, là động lực cho doanh nghiệp phát triển. Các doanh nghiệp vì vậy
phải luôn nỗ lực, đổi mới trang thiết bị, nâng cao chất lƣợng hoạt động,
nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng.
Thứ năm, TTCK giúp cho chính phủ thực hiện quản lý vĩ mô nền kinh
tế. Chúng ta có thể thấy rằng TTCK với tính nhạy cảm vốn có, thì những
động thái trên TTCK phản ánh các biến động của nền kinh tế, qua đó chính

từ cổ tức, trái tức, nhƣng cũng có thể là từ chênh lệch giá do kinh doanh
chứng khoán đem lại.
Nhà đầu tƣ chứng khoán là những ngƣời có tiền nhàn rỗi, sử dụng tiền
đầu tƣ vào TTCK bằng cách thực sự mua các CK đang đƣợc phát hành trên
TTCK nhằm hƣởng lãi và lợi nhuận. Có thể chia nhà đầu tƣ chứng khoán
thành hai loại đó là:
 Nhà đầu tƣ cá nhân: nhà đầu tƣ cá nhân chính là công chúng, là
khối lƣợng công chúng đông đảo có thể cung cấp một lƣợng tiền tệ rất lớn,
từ những nguồn thu nhập thƣờng xuyên của mình. Đầu tƣ từ công chúng là
một nguồn cung cấp rất quan trọng và có xu hƣớng ngày càng gia tăng
cùng với sự tăng trƣởng GDP của mỗi quốc gia.
 Các tổ chức đầu tƣ: các quỹ hƣu bổng, quỹ tƣơng hỗ, các công ty
bảo hiểm, các ngân hàng thƣơng mại, các công ty đầu tƣ quốc gia, các quỹ
tài chính công, các quỹ bảo hiểm xã hội, các quỹ cứu trợ…Đây là những
nhà đầu tƣ có tiềm lực tài chính dồi dào, có kinh nghiệm và có những ảnh
hƣởng không nhỏ đến hoạt động của thị trƣờng chứng khoán.
Ở Việt Nam, “nhà đầu tƣ là tổ chức cá nhân Việt Nam và tổ chức cá
nhân nƣớc ngoài tham gia đầu tƣ trên TTCk”
6

1.2.3 Các trung gian chứng khoán
Trung gian là đƣa đƣờng dẫn lối để hai bên có thể gặp nhau. Nhà trung
gian chứng khoán có thể với tƣ cách là: nhà trung gian cá nhân hay các tổ
chức trung gian (pháp nhân) nhƣ các công ty chứng khoán.
Vai trò chủ yếu của nhà trung gian chứng khoán là: kinh doanh, môi
giới và bảo lãnh chứng khoán. TTCK hoạt động hiệu quả một phần là nhờ
sự thực hiện tốt vai trò của các trung gian chứng khoán. Hầu hết các công
ty chứng khoán đều vừa có hoạt động môi giới vừa có hoạt động kinh
7

MGCK là một hoạt động kinh doanh CK trong đó một công ty CK đại
diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở 7
Luật chứng khoán ngày 22 tháng 6 năm 2006, điều 6 khoản 20
Định hƣớng phát triển nghề môi giới chứng khoán tại việt Nam

9
giao dịch chứng khoán hay thị trƣờng OTC mà chính khách hàng sẽ phải
chịu trách nhiệm đối với hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
[
8
]
Với cách tiếp cận nhƣ vậy, ngƣời môi giới chứng khoán, hiểu theo
nghĩa rộng, là những ngƣời trung gian mua bán CK cho khách hàng để
hƣởng hoa hồng; trung gian mua bán CK bằng vốn của mình; và là ngƣời
bảo lãnh phát hành cho những tổ chức phát hành CK. Đó có thể là các tổ
chức tài chính quốc doanh, hoặc tổ chức tài chính thuộc khu vực kinh tế tƣ
nhân với hai hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.
Ở Việt Nam, khái niệm MGCK còn khá mới mẻ, nhiều ngƣời vẫn coi
môi giới chứng khoán nhƣ một loại trung gian, hay một loại “cò” nhƣ là cò
nhà, cò đất, cò xe mà không hiểu bản chất của Môi giới chứng khoán là
một tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc nhất định. Để trở thành một nhà
MGCK giỏi, có tiếng tăm và có nhiều khách hàng chỉ có thể làm đƣợc
nếu nhƣ khách hàng của nhà môi giới đó thu đƣợc nhiều lợi nhuận. ở các
TTCK có tổ chức, các nhà MGCK không hoạt động với tƣ cách cá nhân
độc lập. Mỗi cá nhân ngƣời MGCK dù hoạt động trong lĩnh vực nào cũng

1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của nghề môi giới chứng khoán
Nghề môi giới chứng khoán xuất hiện trƣớc đây khá lâu, lâu hơn nghề
tƣ vấn tài chính độc lập chuyên về hoạt động bảo hiểm rất nhiều. Ngay từ
trƣớc năm 1773 năm mà TTCK đƣợc hình thành, những ngƣời môi giới đã
tiến hành giao dịch cổ phiếu của các công ty tại các quán cafê của Anh.
Khi nhu cầu tài chính tăng lên, việc giao dịch các tài sản tài chính thƣờng
diễn ra trong các phòng trà trƣớc khi Sở giao dịch chứng khoán London
đƣợc thành lập. Tài sản tài chính ở đây chủ yếu là các cổ phiếu. Các công
ty thu hút vốn đầu tƣ bằng cách phát hành cổ phiếu và bán ở Sở giao dịch
chứng khoán. Trong khi đó, các nhà đầu tƣ chứng khoán thì kiếm tiền bằng
cách bán cổ phiếu ở mức giá cao hơn mức họ mua vào. Ban đầu, Sở giao
dịch chứng khoán London vận hành dựa vào hai đối tƣợng là các nhà môi
giới (stockbroker) và những ngƣời chạy việc (jobber). Những ngƣời chạy
việc chạy quanh sàn giao dịch để mua và bán cổ phiếu cho các nhà môi
giới. Họ kiếm tiền bằng khoản chênh lệch giữa mức mà nhà môi giới đồng
ý bỏ ra để mua cổ phiếu với mức mà họ mua vào. Trong khi các nhà môi
giới kiếm tiền bằng khoản phí hoa hồng họ đƣợc trả khi tiến hành giao dịch
mua bán cổ phiếu cho các nhà đầu tƣ.
Hệ thống vận hành nói trên của Sở giao dịch chứng khoán London
không thay đổi suốt từ những năm 1800 cho đến những năm 1980. Nhu cầu
sở hữu cổ phiếu của công chúng bắt đầu tăng lên. Các con số thống kê cho
thấy nếu những năm 1960, 30 tổ chức tài chính nắm giữ hầu hết các cổ
phiếu giao dịch trên thị trƣờng thì đến năm 1981 họ chỉ còn chiếm 58%
lƣợng cổ phiếu. Mà nhƣ thế nghĩa là Sở giao dịch chứng khoán London
Định hƣớng phát triển nghề môi giới chứng khoán tại việt Nam

11
phải giải quyết một khối lƣợng lớn các giao dịch. Thực tế nhƣ vậy đòi hỏi
Sở giao dịch chứng khoán London phải thay đổi lại cách thức hoạt động.
Những ngƣời chạy việc-jobber- đƣợc phép mua và bán chứng khoán nhƣ

Đầu những năm 1920, “thị trƣờng lề đƣờng” chuyển địa điểm tới nơi
mà ngày nay là số 86 Trinity Place, chấm dứt kiểu thị trƣờng giao dịch
ngoài hè phố. Nhiều năm sau đó, năm 1952, dựa trên cơ sở thị trƣờng vốn
có, Sở giao dịch chứng khoán Mỹ (AMEX) đã chính thức đƣợc thành lập.
Nghề môi giới càng có điều kiện phát triển mạnh hơn.
Cùng với sự phát triển của thị trƣờng chứng khoán ở một loạt các nƣớc
trên thế giới, nghề môi giới cũng ngày càng phát triển và không ngừng
hoàn thiện. Nghề môi giới chứng khoán từ chỗ diễn ra trên các đƣờng phố,
rồi tiến vào sàn giao dịch, ngày nay đã phát triển lên thành môi giới chứng
khoán trực tuyến. Nhà đầu tƣ với máy tính kết nối internet có thể giao dịch
chứng khoán qua mạng, vừa cập nhật thông tin vừa nhanh chóng, tiện lợi,
tiết kiệm đƣợc nhiều chi phí. Ngƣợc lại, với vai trò là nhịp cầu kết nối
ngƣời mua và ngƣời bán, tạo điều kiện thuận lợi để phát sinh các giao dịch,
các thƣơng vụ có thể nói nghề môi giới sẽ là nhân tố quan trọng thúc đẩy sự
phát triển và hoàn thiện của thị trƣờng chứng khoán.
2. Phân loại môi giới chứng khoán
2.1 Phân loại theo loại dịch vụ cung cấp
Có hai loại môi giới nếu đánh giá theo tiêu chí dịch vụ cung cấp:
10

2.1.1 . Môi giới toàn phần ( Full - service)
Là những ngƣời MGCK có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ có liên
quan đến chứng khoán cho khách hàng nhƣ: đại diện cho khách hàng để
thƣơng lƣợng mua hoặc bán chứng khoán; thay mặt khách hàng giải quyết
mọi vấn đề liên quan đến chứng khoán của khách hàng Họ cung cấp một
dải dịch vụ hoàn hảo, từ việc đƣa ra những kết quả nghiên cứu, phân tích,
cho lời khuyên, đến việc theo dõi tài khoản và kịp thời đƣa ra những
khuyến nghị cần thiết cho khách hàng. Tóm lại, với tƣ cách là một cố vấn
các lệnh mua bán cho các công ty chứng khoán hay khách hàng của công
ty trên sàn giao dịch (vì thế họ cũng đƣợc gọi theo một tên chung khác là
“môi giới trên sàn – floor brocker). Một CTCK thuê ngƣời để làm chủ một
chỗ ngồi của công ty tại sở GDCK.
2.2.2 Nhà môi giới độc lập (hay nhà môi giới hai đôla- $2 dollar broker) 11
GS Lê Văn Tƣ , “ Thị trƣờng chứng khoán” , 2004, NXB Thống Kê. TR. 177
Định hƣớng phát triển nghề môi giới chứng khoán tại việt Nam

14
Nhà môi giới 2 đôla là một thành viên của SGDCK, nhƣng là một nhà
môi giới chứng khoán độc lập, không thuộc về một công ty nào. Nhà môi
giới 2 đôla có thể sở hữu hoặc thuê chỗ cho mình, thực hiện các lệnh giao
dịch cho bất kỳ một công ty môi giới nào thuê mình. Trong trƣờng hợp một
nhà MGCK của một công ty CK không có khả năng thực hiện các lệnh giao
dịch của mình, hoặc vắng mặt trong phòng giao dịch, ngƣời này có thể
chuyển một số lệnh cho nhà môi giới độc lập. Công ty CK sẽ trả cho nhà môi
giới độc lập một khoản phí trên các dịch vụ của anh ta. Trƣớc đây, khoản phí
trả cho nhà môi giới độc lập là 2 đôla cho 100 cổ phiếu mua bán hộ công ty CK
(điều này giải thích tại sao lại có tên gọi là nhà môi giới 2 đôla). Tuy nhiên,
hiện nay, khoản phí của các nhà môi giới độc lập thƣờng lớn hơn 2 đôla.
Ngƣời môi giới 2 đôla thực hiện lệnh mua bán của những ngƣời môi giới
ủy nhiệm khi những ngƣời này quá bận rộn, không thể thực hiện hết tất cả các
lệnh nhận đƣợc từ công ty của họ. Ngƣời môi giới 2 đôla hoạt động cho bất cứ
công ty nào, bất cứ loại CK gì và sẽ đƣợc ăn hoa hồng.
2.2.3 Nhà giao dịch chứng khoán có đăng ký (Registered Floor Trader)
Một số ngƣời mua chỗ trên SGDCK chỉ nhằm mục đích mua bán
chứng khoán cho chính bản thân họ. Những ngƣời đó đƣợc gọi là “nhà giao

Ngƣời môi giới và các công ty chứng khoán giữ vai trò quan trọng trong quá
trình kết nối cung cầu chứng khoán. Họ góp phần đẩy nhanh quá trình lƣu thông
và phân phối chứng khoán, qua đó giúp cho các dòng chảy của nguồn vốn trên thị
trƣờng đƣợc liên tục.
3. Đặc trƣng của nghề môi giới chứng khoán
Đặc trƣng của nghề môi giới chứng khoán là những xung đột, tranh
chấp lợi ích không thể tránh khỏi trong lĩnh vực này. ở đây khái niệm tranh
chấp lợi ích không bao hàm hành vi của ngƣời môi giới hoặc khách hàng cố
tình vi phạm pháp luật để kiếm lời một cách bất chính. Tranh chấp hay
xung đột lợi ích có thể xảy ra trong những trƣờng hợp nhƣ việc ngƣời môi
giới không sẵn sàng thông báo với khách hàng của mình về những diễn
biến xấu của khoản đầu tƣ do chính anh ta khuyến nghị với khách hàng,và
Định hƣớng phát triển nghề môi giới chứng khoán tại việt Nam

16
khi khách hàng bị thiệt hại thì việc bắt lỗi và xử lý ngƣời môi giới là rất
khó. Hoặc có những trƣờng hợp khách hàng do không thực sự hiểu biết về
trách nhiệm và khả năng của ngƣời môi giới, nên đã kỳ vọng một cách
không hợp lý về những gì mà nhà môi giới có thể mang lại cho mình, và đã
khiếu nại khi thực tế xảy ra trái với những gì họ mong muốn.
Ngƣời môi giới sống bằng tiền hoa hồng hay là khoản chênh lệch giá
trong việc mua hoặc bán những lợi ích tài chính. Nhƣ thế, những lợi ích tài
chính của riêng họ có thể xung đột với nhu cầu và mục tiêu của khách
hàng. Với tƣ cách là ngƣời đại diện hay ngƣời đƣợc ủy quyền của khách
hàng, ngƣời môi giới luôn luôn phải dẹp đi xung đột này để phục vụ cho lợi
ích cao nhất của khách hàng là cái phải đƣợc ƣu tiên hàng đầu.
Các công ty môi giới có thể gây áp lực lớn buộc nhân viên môi giới
của mình phải bán đƣợc những sản phẩm nhất định hoặc đạt đƣợc mức tổng
sản lƣợng nhất định. áp lực nhƣ vậy có thể thấy dƣới nhiều hình thức, từ
việc cấp văn phòng riêng cho tới việc tiếp tục thuê nhân viên đó. Giải pháp

cấp cho khách hàng các báo cáo nghiên cứu và những khuyến nghị đầu tƣ.
Việc nghiên cứu này đƣợc tiến hành thông qua bộ phận nghiên cứu trong
công ty chứng khoán nghiên cứu các lĩnh vực chủ yếu nhƣ: diễn biến tổng
thể của thị trƣờng, động thái của từng khu vực riêng biệt trong thị trƣờng
đó, hay hoạt động của từng công ty trong khu vực. Những thông tin này các
nhà nghiên cứu cung cấp cho các nhà môi giới hàng tuần, kèm theo đó là
những khuyến nghị cụ thể về từng loại chứng khoán cần mua và cần bán.
Nhà môi giới sẽ sử dụng những thông tin này để cung cấp cho khách hàng
của mình theo những yêu cầu cụ thể.
Các nhà môi giới hàng ngày tiếp cận với một mạng thông tin điện tử
cung cấp các thông tin tài chính liên tục và đƣợc cập nhật về lãi suất, kinh
tế, thông tin thị trƣờng, và cũng đƣợc tiếp cận với tất cả các tin tức mới
nhất từ khắp nơi trên thế giới liên quan tới cổ phiếu của khách hàng.
Nhờ nguồn thông tin đƣợc thu thập và sử lý công phu này, ngƣời môi
giới có đủ tri thức để trở thành nhà tƣ vấn tài chính riêng của khách hàng.
Ngoài việc đề xuất với khách hàng những chứng khoán và dịch vụ đơn
thuần, ngƣời môi giới cũng có thể giới thiệu với khách hàng những cổ 12
TS Trần Thị Thái Hà, “Nghề môi giới chứng khoán”, (NXB Chính trị quốc gia Hà Nội, 2001) TR. 25
Định hƣớng phát triển nghề môi giới chứng khoán tại việt Nam

18
phiếu, trái phiếu mới phát hành, các chứng chỉ quỹ đầu tƣ và những công
cụ đầu tƣ khác, và quan trọng hơn là đề xuất một cách thức kết hợp các
chứng khoán đơn lẻ trong một tổng thể (danh mục đầu tƣ) để giảm thiểu rủi
ro và tăng tối đa lợi nhuận.
Ngƣời môi giới cho nhà đầu tƣ biết lúc nào thì họ nên mua, lúc nào thì
nên bán và đồng thời cung cấp cho họ những thông tin kinh tế tài chính trên

công ty đƣợc tổ chức theo những phòng ban chức năng phù hợp, với những
quy trình hoạt động chặt chẽ, khoa học.
5. Vai trò của nghề môi giới chứng khoán
5.1 Phát triển sản phẩm và dịch vụ trên thị trƣờng
Công ty môi giới chứng khoán và các nhân viên bán hàng của họ, khi
thực hiện vai trò làm trung gian giữa ngƣời mua (nhà đầu tƣ) và ngƣời bán
(nhà phát hành) có thể nắm bắt nhu cầu của khách hàng và phản ánh với
ngƣời cung ứng hàng hóa và dịch vụ, cung cấp những ý tƣởng thiết kế sản
phẩm và dịch vụ theo yêu cầu của khách hàng. Kết quả của quá trình đó là
đa dạng hóa sản phẩm và dịch vụ, phát triển cơ cấu khách hàng, thu hút
ngày càng nhiều nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội cho đầu tƣ và tăng
trƣởng.
Một ví dụ về sự thành công là công ty Merrill Lynch, trong thập niên
60, 70 trong khi hoạt động chủ yếu của các công ty chứng khoán mới chỉ là
buôn bán cổ phiếu và trái phiếu thì Merrill Lynch đã tìm kiếm những dịch
vụ mà khách hàng cần. Qua đó đã phát triển và tạo ra Tài khoản quản lý
tiền mặt (CMA) và Tài khoản tiếp cận vốn tự có. Nhờ vậy mà công ty này
đã vƣợt lên hẳn các đối thủ cạnh tranh vào thời kỳ đó.
5.2 Giảm chi phí giao dịch
Trên TTCK với đặc trƣng là một thị trƣờng của những sản phẩm và
dịch vụ bậc cao, để thẩm định chất lƣợng, giá cả của hàng hóa, ngƣời ta cần
một khoản chi phí khổng lồ để phục vụ cho việc thu thập và xử lý thông tin,
đào tạo kỹ năng phân tích và tiến hành quy trình giao dịch trên một thị
trƣờng đấu giá tập trung. Những chi phí đó chỉ có các công ty chứng khoán
Định hƣớng phát triển nghề môi giới chứng khoán tại việt Nam

20
hoạt động chuyên nghiệp trên quy mô lớn mới có khả năng trang trải. Mặt
khác, một tổ chức trung gian chuyên nghiệp nhƣ vậy làm cầu nối cho các
bên mua và bán gặp nhau sẽ làm giảm đáng kể chi phí tìm kiếm đối tác, chi

có tới 13000 nhân viên môi giới hay những công ty chứng khoán nhỏ khác
của Mỹ cũng có không dƣới 1000 nhân viên môi giới. Có thể nói, phát dịch
vụ môi giới chứng khoán đã góp phần tạo ra nhiều việc làm mới cho nên
kinh tế và cũng làm phong phú thêm môi trƣờng kinh doanh.
III. CÔNG TY CHỨNG KHOÁN VÀ NGƢỜI MÔI GIỚI CHỨNG
KHOÁN
1. Công ty chứng khoán với chức năng môi giới chứng khoán
1.1 Khái quát chung về công ty môi giới chứng khoán
1.1.1 Khái niệm công ty môi giới chứng khoán
Công ty chứng khoán có thể đƣợc hiểu là một định chế tài chính kinh
doanh chứng khoán trên thị trƣờng chứng khoán. Nếu coi thị trƣờng chứng
khoán là “chợ” thì “hàng hoá” là các loại chứng khoán và các công ty
chứng khoán là các “sạp hàng”.
Khi một doanh nghiệp muốn huy động vốn bằng cách phát hành CK,
họ cần phải nhờ đến những nhà chuyên nghiệp mua bán CK cho họ. Đó là
công ty CK - với nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm nghề nghiệp và bộ
máy tổ chức thích hợp, họ thực hiện đƣợc vai trò trung gian môi giới mua
bán, phát hành chứng khoán, tƣ vấn đầu tƣ và thực hiện một số dịch vụ
khác cho cả ngƣời đầu tƣ và ngƣời phát hành.
Các công ty chứng khoán là tác nhân quan trọng thúc đẩy sự phát triển
của nền kinh tế nói chung và của thị trƣờng chứng khoán nói riêng. Nhờ
các công ty chứng khoán mà các cổ phiếu và trái phiếu lƣu thông, buôn bán
tấp nập trên thị trƣờng chứng khoán, qua đó, một lƣợng vốn khổng lồ đƣợc
đƣa vào đầu tƣ từ những nguồn vốn lẻ tẻ trong công chúng hợp lại. Nhƣ
vậy, “Công ty chứng khoán là một tổ chức kinh doanh chứng khoán, có tƣ
Định hƣớng phát triển nghề môi giới chứng khoán tại việt Nam

22
cách pháp nhân, có vốn riêng hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế,
hoạt động theo giấy phép của UBCKNN cấp"

13
GS. NGƢT Đinh Xuân Trình và PGS.TS. Nguyễn Thị Quy, “Giáo trình thị trƣờng chứng khoán” của
Trƣờng ĐH Ngoại Thƣơng, NXB Giáo Dục, T.120
14
Luật chứng khoán ngày 22 tháng 6 năm 2006, điều 60
Định hƣớng phát triển nghề môi giới chứng khoán tại việt Nam

23
 Các nhà đầu tƣ ngắn hạn theo trƣờng phái kỹ thuật, họ tự mình vẽ
đồ thị cho các cổ phiếu, và tiến hành giao dịch trên cơ sở ngắn hạn, và họ
thƣờng sử dụng các công ty môi giới giảm giá.
 Những nhà đầu tƣ chỉ giao dịch một lần. Ví dụ nhƣ trƣờng hợp
một ngƣời nhận đƣợc một khoản thừa kế và muốn bán nó đi, ngƣời đó cần
một công ty môi giới giảm giá để giúp tiến hành giao dịch.
1.1.2.2. Công ty môi giới dịch vụ đầy đủ (full-service firm)
Đây là công ty chứng khoán cung cấp một dịch vụ hoàn hảo, từ việc
đƣa ra những kết quả nghiên cứu, phân tích, cho lời khuyên tới việc theo
dõi tài khoản và kịp thời đƣa ra các khuyến nghị cần thiết cho khách hàng.
Những nhà đầu tƣ sử dụng ngƣời môi giới dịch vụ đầy đủ là:
 Những ngƣời đánh giá cao sự thuận tiện của việc luôn luôn có
sẵn một cố vấn chuyên nghiệp hƣớng dẫn những quyết định mua bán của
họ. Những nhà đầu tƣ này coi ngƣời môi giới của họ cũng giống nhƣ luât
sƣ riêng hay kế toán riêng, họ thừa nhận những hạn chế của bản thân trên
thị trƣờng chứng khoán đầy phức tạp và coi ngƣời môi giới nhƣ là những
chuyên gia, những ngƣời giữ vai trò quan trọng để khoản đầu tƣ của họ
không ngừng tăng lên.
 Là những ngƣời cần có sự quan tâm cá nhân của một ngƣời
môi giới đầy đủ. Họ muốn có một ngƣời môi giới luôn để mắt tới tài khoản
của mình, thông tin ngay khi cần thiết và quan tâm tới các vấn đề của họ.
1.2 Hoạt động môi giới của một công ty chứng khoán

hiện giá cân bằng, thực hiện lệnh, báo cáo giao dịch, giám sát và thông tin
thị trƣờng. Những công việc và hệ thống này có thể từ những thủ tục giấy
tờ đơn giản đến các hệ thống thông tin và xử lý bằng máy điện tử, phụ
thuộc vào yêu cầu của từng thị trƣờng. Các giao dịch giữa một khách hàng
và một ngƣời MGCK nói chung đƣợc thực hiện trực tiếp giữa hai bên. Trái
lại, giao dịch giữa hai ngƣời MGCK thƣờng đƣợc thực hiện thông qua một
cơ chế thị trƣờng, chẳng hạn nhƣ một sở buôn bán trung tâm nơi ngƣời mua
và ngƣời bán gặp nhau, thị trƣờng qua quầy truyền thống, hoặc hệ thống
thực hiện giao dịch tự động. Trong toàn bộ quy trình giao dịch, bộ phận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status