Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt.............................................................................................3
Danh mục các bảng và hình..........................................................................................4
Lời mở đầu....................................................................................................................5
Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu...........7
1. Tổng quan nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài............................................7
1.1.
Các nghiên cứu ở nước ngoài.......................................................................7
1.2.
Một số nghiên cứu trong nước......................................................................8
1.3.
Một số ví dụ về tác động của nợ công tới tăng trưởng kinh tế của các nước
trên thế giới............................................................................................................9
2. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích...................................................................12
2.1.
Cở sở lý thuyết...........................................................................................12
2.2.
Khung phân tích.........................................................................................21
3. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................22
3.1.
Tóm lược kết quả nghiên cứu.....................................................................33
1.2.
Những hạn chế trong nghiên cứu................................................................33
1.3.
Hướng nghiên cứu trong tương lai.............................................................34
2. Gợi ý chính sách và kiến nghị giải pháp...........................................................34
1
Lời kết......................................................................................................................... 38
Tài liệu tham khảo.......................................................................................................38
Danh mục các chữ viết tắt
GDP
Tốc độ tăng trưởng kinh tế
PD
Tỷ lệ nợ công
K
Tỷ lệ vốn đầu tư khu vực tư nhân
Lời mở đầu
Tính cấp thiết của đề tài
Về mặt lý thuyết, nợ công có thể tác động tích cực hoặc tiêu cực đến mức tăng
sản lượng của nền kinh tế. Xét về tác động tích cực, chính phủ các quốc gia sử dụng
nợ công như một công cụ tài trợ vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư, khuyến khích phát triển
sản xuất và kích thích tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nợ công cũng có thể kìm hãm
tăng trưởng.
Như vậy, nợ công là một trong những nhân tố tạo ra động lực tăng trưởng kinh
tế cho một quốc gia, tuy nhiên khi nợ công tăng cao thì nó có thể được xem như một
mối nguy tiềm ẩn với nền kinh tế quốc gia đó. Vì lẽ đó, mối quan hệ giữa nợ công với
tăng trưởng kinh tế đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên
cứu.
Cụ thể, nhiều nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, ở mức thấp, nợ công không đe
dọa, thậm chí còn tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, khi đã vượt
qua một ngưỡng nhất định, việc tiếp tục gia tăng quy mô nợ công sẽ kìm hãm tốc độ
tăng trưởng kinh tế. Trong thời gian qua, cả thế giới đã chứng kiến sự lao dốc về kinh
tế của một số quốc gia, mà nguyên nhân chính là do khủng hoảng nợ công. Tỷ lệ nợ
công/GDP cao luôn là một trong những nguy cơ đe dọa tính bền vững của tăng trưởng
kinh tế. Thời gian gần đây, vấn đề nợ công của Việt Nam cũng đang trở thành một
trong số những vấn đề nóng hổi nhất trên các diễn đàn kinh tế. Quy mô nợ công của
Việt Nam hiện đang có xu hướng gia tăng ngày càng nhanh, đặc biệt là sau cuộc
khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008. Trong khi đó, nền kinh tế vẫn đang ở trong
giai đoạn tăng trưởng chậm. Tới cuối năm 2016, nợ công đã lên tới gần 64%, nghĩa là
chỉ còn cách khoảng 1% so với mức trần mà Quốc hội đặt ra. Năm 2017 dự trù lên đến
64,8% GDP, đó là chưa kể tới cách hạch toán nợ công của Việt Nam hiện nay còn
chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Nợ công của Việt Nam sẽ vượt mức an toàn vào
năm 2018, theo dự báo của ngân hàng thế giới (WB) nêu ra trong bản cập nhật tình
hình kinh tế của Việt Nam công bố trong tháng 7-2017.
Có thể thấy, nợ công gia tăng là một trong những nguyên nhân đe dọa tính bền
vững của tăng trưởng kinh tế.Tuy nhiên tỷ lệ nợ công/GDP liên tục gia tăng vẫn chưa
Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và
phương pháp nghiên cứu
1. Tổng quan nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài
Nợ công là một trong những vấn đề mang tầm vĩ mô được chính phủ, các nhà
kinh tế học và người dân thuộc tất cả các quốc gia quan tâm. Đặc biệt cuộc khủng
hoàng nợ công của Hy Lạp xảy ra càng khiến nợ công trở nên nóng bỏng hơn bao giờ
hết. Để đánh giá tác động của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế, hàng loạt các công
trình nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới đã được thực hiện.
1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài
Trên thế giới, vấn đề tác động của nợ công đối với sự phát triển của một quốc gia
nhận được sự quan tâm của rất nhiều nhà kinh tế học nổi tiếng. Rất nhiều nhận định
khác nhau đã được đưa ra. Trong nghiên cứu của Al-Zeaud, 2014; Fincke & Greiner,
2015b; Spilioti & Vamvoukas, 2015 đã cho thấy tác động dương của nợ công lên tăng
trưởng kinh tế. Trong khi đó hàng loạt công trình lại chỉ ra rằng nợ công có ảnh hưởng
âm đối tăng trưởng kinh tế như Calderón & Fuentes, 2013; Fincke & Greiner, 2015a;
Szabó, 2013; Časni et al., 2014; Bal & Rath, 2014; Lof & Malinen, 2014; PuenteAjovin & Sanso-Navarro, 2014; Zouhaier & Fatma, 2014; Akram, 2015; Eberhardt &
Presbitero, 201; Lee & Ng, 2015; Mitze & Matz, 2015.
Một vài nhà kinh tế học khác lại phát hiện ra nợ công có tác động phi tuyến lên
tăng trưởng phải kể đến Eberhardt, 2013; Égert, 2013; Kourtellos et al., 2013;
Mencinger et al., 2014; Wright & Grenade, 2014; Topal, 2014; Lopes da Veiga et al.,
2014; Real et al., 2014; Afonso & Alves, 2014.
Woo & Kumar(2010) phát hiện một mối quan hệ đối nghịch giữa nợ công và tăng
trưởng kinh tế nếu như nợ công vượt quá 90% GDP và tác động của nợ công ở các
nền kinh tế mới nổi lớn hơn so với các nền kinh tế phát triển. Cụ thể, nếu quy mô nợ
công tăng thêm 10% GDP, tăng trưởng kinh tế sẽ suy giảm từ 0,15% - 0,2% tại các
nền kinh tế phát triển, trong khi con số này tại các nền kinh tế mới nổi là từ 0.3% 0.4%. Ngoài ra, các phát hiện của nghiên cứu cũng cho thấy rằng nợ công cao sẽ làm
giảm đầu tư, làm chậm tốc độ tăng trong lượng vốn tư bản cho mỗi lao động, dẫn đến
6
tế sẽ giảm ngày càng mạnh.
Trong bài nghiên cứu “Mối quan hệ của nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế VN”
đăng tải trên “Phát triển và Hội nhập” – số 4(14) – tháng 5-6/2012, tác giả Nguyễn
7
Hữu Tuấn đã tìm thấy “sự tồn tại của đường cong Laffer nợ và mối quan hệ phi tuyến
ảnh hưởng của nợ nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế VN giai đoạn 1986-2009. Đỉnh
của đường cong Laffer nợ cũng chính là ngưỡng nợ tối ưu để thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, giá trị ước lượng của ngưỡng nợ tối ưu khoảng 65%. Mức độ nợ nước ngoài
thấp hơn giá trị ngưỡng sẽ đóng góp tích cực vào sự tăng trưởng trong khi ở mức độ
nợ cao hơn giá trị ngưỡng sẽ đóng góp tiêu cực đối với tăng trưởng”.
Đây là một vài nghiên cứu trong số rất nhiều công trình về ảnh hưởng của nợ công
đối với tăng trưởng kinh tế mà nhóm tác giả đã tìm thấy. Từ kết quả của những nghiên
cứu này nhóm tác giả thấy rằng vẫn chưa có một kết luận thống nhất về tác động của
nợ công lên tăng trưởng kinh tế đặc biệt là tại các nước đang phát triển như Việt Nam.
Với hi vọng tìm lời giải đáp cho vấn đề này, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên
cứu tác động của nợ công đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam” để phân tích và
nghiên cứu.
1.3.Một số ví dụ về tác động của nợ công tới tăng trưởng kinh tế của các
nước trên thế giới
Hậu quả của nợ công là có thể hủy diệt sự phồn thịnh, làm cạn kiệt sức dân.
Ngay cả khi các biện pháp cắt giảm chi tiêu và tăng thuế làm vơi đi một phần núi nợ
công, chúng sẽ khiến cho các hộ gia đình chẳng còn tiền để tiêu. Chi tiêu của các hộ
gia đình giảm sút ắt sẽ dẫn đến tăng trưởng chững lại hoặc giảm theo.
Khi nợ công tăng cao, vượt quá xa giới hạn được coi là an toàn, nền kinh tế rất
dễ bị tổn thương và chịu nhiều sức ép cả bên trong và bên ngoài. Nợ công không chỉ
là vấn đề của những nước chậm hoặc đang phát triển. So khoản nợ công với GDP,
hiện nay, gánh trên vai gánh nặng nợ công lớn nhất là các nền kinh tế phát triển, trong
của nền kinh tế, hay tình trạng "sức khỏe" nói chung của nền kinh tế; lượng dự trữ
quốc gia… Chẳng hạn, hiện nay, dư luận đang lo ngại liệu Nhật Bản có thể trở thành
“một Hy Lạp thứ hai”, thế nhưng, một số nhà phân tích, khi phân tích nợ công của
Nhật Bản đã cho thấy có sự khác biệt khá lớn giữa nợ công của nước này với nợ công
của Hy Lạp, thể hiện ở chỗ, 95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân
nước này nắm giữ, trong khi 70% nợ chính phủ Hy Lạp do người nước ngoài nắm giữ.
Bên cạnh đó, Nhật còn tự chủ về tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ của Nhật cũng ở mức
rất cao (theo con số mà Bộ Tài chính Nhật Bản công bố ngày 12-5, tính đến cuối
tháng 4-2010, dự trữ quốc gia của Nhật là 1.046,873 tỉ USD). Do vậy, nền kinh tế
Nhật Bản, mặc dù ngoài nợ công cao còn đứng trước nhiều khó khăn khác nữa, nhưng
vẫn được dự báo là khó có thể trở thành mục tiêu tấn công của giới đầu cơ quốc tế.
Như vậy, việc đánh giá đúng nợ công và “thực chất” nợ công của một nền kinh
tế, một quốc gia là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong những thời điểm nhạy cảm. Bởi
lẽ, nếu chỉ chú trọng vào con số tỷ lệ nợ công cao một cách thuần túy sẽ gây nên hiệu
ứng tâm lý hoang mang, kích động, thiếu tin tưởng, làm gia tăng căng thẳng xã hội, bị
10
giới đầu cơ lợi dụng tấn công, dễ gây rối loạn nền kinh tế, thậm chí dẫn nền kinh tế
đến bên bờ vực phá sản. Ngược lại, nếu yên tâm với tỷ lệ nợ công còn trong giới hạn
an toàn, mà không phân tích cẩn trọng, chú ý đúng mức đến khoản nợ đó được hình
thành như thế nào, bằng cách nào, thực trạng nền kinh tế ra sao và khả năng trả nợ thế
nào…, cũng sẽ dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy thâm hụt ngân sách – "thắt lưng
buộc bụng" – tác động tiêu cực đến tăng trưởng
2. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
2.1. Cở sở lý thuyết
Khái niệm nợ công
Tại hầu hết các nước trên thế giới, Luật quản lí nợ công đều xác định nợ công gồm
nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh. Một số nước, nợ công còn bao gồm
chính phủ khi nói đến tổng nợ công. Khi chính phủ phát hành một tỷ đô la trái phiếu ở
nước ngoài, ai cũng biết nó được tính vào tổng nợ công nhưng khi đọc tin một doanh
nghiệp thu xếp kí kết một khoản vay 2 tỉ đô la với một ngân hàng nước ngoài nào đó,
có sự bảo lãnh của chính phủ, có thể có người vẫn nghĩ đó là nợ doanh nghiệp, không
phải nợ công.
Ngoài ra cần chú ý thêm khái niệm “nợ nước ngoài của quốc gia”, là tổng các
khoản nợ nước ngoài của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh
nghiệp và tổ chức khác vay theo phương thức tự vay, tự trả (Luật quản lí nợ công năm
2009). Vốn vay từ ADB hay WB đương nhiên là nợ nước ngoài nhưng một doanh
nghiệp vay từ đối tác nước ngoài vài trăm triệu đô la, chẳng hạn, dù có hay không có
bảo lãnh của chính phủ, thì khoản tiền đó vẫn phải tính vào tổng nợ nước ngoài của
quốc gia.
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của chính phủ, khi chi tiêu của chính phủ
lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được, Nhà nước phải đi vay trong hoặc ngoài nước để
trang trải thâm hụt ngân sách. Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến
hạn, Nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp. Vì vậy, suy cho cùng nợ công chỉ
là sự lựa chọn thời gian đánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác.
Vay nợ thực chất là cách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng
để tài trợ cho các hoạt động chi ngân sách. Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển giao của
cải từ thế hệ sau (thế hệ phải trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế).
Theo IMF (2010), nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công. Đi
kèm với đó là định nghĩa cụ thể về khu vực công, bao gồm khu vực Chính phủ và khu
vực các tổ chức công.
Khu vực công
Khu vực chính phủ
Chính phủ Trung Ương
quốc doanh hay tư doanh đã được chấp nhận là công ty trách nhiệm hữu hạn, thì khi
phá sản, người chủ sở hữu không chịu trách nhiệm gì về nợ nần của các công ty này
ngoài tài sản đã góp. Thực tế khác hẳn. Thứ nhất, nhiều công ty quốc doanh không
phải là công ty trách nhiệm hữu hạn. Thứ hai, dù là công ty trách nhiệm hữu hạn, về
mặt chính trị, nhà nước không thể thoái thác trách nhiệm nợ.
Số liệu nợ mà Bộ Tài chính Việt Nam phổ biến hiện nay là nợ nhà nước chứ không
phải là nợ công. Nợ công chắc chắn sẽ lớn hơn nhiều.
Hình 2: Nợ nhà nước năm 2009
Thứ hạng
1
2
4
5
6
7
8
Quốc gia
Zimbabwe
Nhật Bản
Lebanan
Jamaica
Singapore
Italy
Hy Lạp
% GDP
304
192
37
38
40
41
42
44
45
46
47
48
49
50
51
56
57
Sudan
Bỉ
Iceland
Nicaragua
Sri Lanka
Ai Cập
Pháp
Israel
Đức
Bồ Đào Nha
Canada
Jordan
Anh
Ghân
80
80
78
77
75
72
70
69
68
67
64
64
62
60
60
59
59
56
55
54
54
53
52
50
50
49
49
49
48
48
việc tính này đã thành luật. Đó là lí do các nước này đều có tỉ lệ nợ trên GDP cao hơn
50% nhiều. Tỷ lệ trên 100% đối với các nước này là bắt đầu vượt ngưỡng an toàn.
Còn đối với các nước đang phát triển, khi không tính nợ hưu trí thì có lẽ là 50% (tất
nhiên là tùy từng nước, tùy theo nước đó có chính sách hưu trí cho công chức không
và tỉ lệ nằm trong diện công chức lớn như thế nào). Ở các nước phát triển, tỉ lệ nợ
công có thể bằng hoặc gần bằng với tỉ lệ nợ nhà nước vì khu vực quốc doanh không
đáng kể, và do đó họ vẫn chỉ tập trung vào nợ Nhà nước.
Bản chất kinh tế của nợ công
Xét về bản chất kinh tế, nợ công xuất phát từ thâm hụt Ngân sách Nhà nước
(việc chi tiêu vượt quá khả năng của nguồn thu từ thuế, lệ phí, phí và các khoản thu
khác). Để làm mức thâm hụt NSNN, Chính Phủ buộc phải cắt giảm chi tiêu hoặc tăng
15
nguồn thu ngân sách. Thu nhiên việc cắt giảm chi tiêu rất khó thực hiện và kết quả là
tăng nguồn thu ngân sách là biện pháp chủ yếu mà Chính Phủ thực hiện. Chính phủ có
thể tăng nguồn thu từ hai cách; tăng thuế (hạn chế) và vay nợ (chủ yếu). Chính việc
vay nợ này khiến nợ công gia tăng. Ngoài ra sự dễ dàng của vay nợ để đầu tư cũng
làm gia tăng thêm nợ công. Như vậy có thể thấy nợ công là hậu quả trực tiếp của bội
chi ngân sách.
Một số quan điểm về nợ công
Trên thực tế, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nợ công cũng như việc đi
vay của Chính phủ. Các nhà kinh tế học cổ điển như Adam Smith, David Ricardo, và
John Stuart Mill (Tsoulfidis, 2007) nêu bật một nguyên tắc quan trọng và nhất quán về
quản lý ngân sách là nguyên tắc ngân sách cân bằng: thu và chi bằng nhau. Họ không
đồng tình với việc chính phủ đi vay để chi tiêu.
Trong khi đó, John Maynar Keynes và những người thuộc trường phái
Keynes lại ủng hộ việc vay nợ của chính phủ để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông
qua chi tiêu (Theocarakis, 2014). Theo họ, gia tăng đầu tư của chính phủ trong tình
hình suy thoái vào các dự án công sẽ giúp nền kinh tế nhanh chóng phục hồi. Chi tiêu
đến hoạt động kinh tế. Trong khi đó, các hoạt động chi chuyển nhượng như thuế, phúc
lợi xã hội sẽ có tác động yếu hơn. Ở một trường hợp khác, khi các nước đang rơi vào
tình trạng khủng hoảng nền kinh tế, Chính phủ có thể vay nợ để gia tăng chi tiêu, đầu
tư vào các công trình công cộng nhằm kích thích tăng trưởng kinh tế.
Bên cạnh những tác động tích cực, sự gia tăng nợ công sẽ gây ra nhiều tác động
tiêu cực đáng quan ngại đến sự tăng trưởng của nên kinh tế. Chúng ta có thể giải tích
những tác động này thông qua cơ chế truyền dẫn.
Các cơ chế truyền dẫn
Trong nghiên cứu của mình năm 2011, Nautet & Van Meensel đã chỉ ra rằng nợ
công tăng có thể tác động âm lên hoạt động kinh tế trong dài hạn và ngược lại. Họ đã
đưa ra 3 cơ chế truyền dẫn:
Thứ nhất, nợ công tăng làm tiết kiệm chính phủ giảm dẫn đến tiết kiệm ròng quốc
gia giảm, lãi suất vì vậy mà tăng lên, từ đó làm giảm đầu tư và nguồn vốn, cuối cùng
làm chậm sự đổi mới và giảm năng suất lao động. Tác động lên lãi suất phụ thuộc vào
quy mô của khu vực bị tác động bởi nợ công tăng. Nếu sự gia tăng đó được giới hạn
trong một nền kinh tế mở nhỏ, tác động lên lãi suất thị trường chỉ vừa phải. Ngược lại,
nếu nợ tăng lên cùng lúc ở các quốc gia hình thành nên khu vực kinh tế chung, áp lực
lên lãi suất thị trường sẽ rất lớn.
Thứ hai, nợ công tăng làm chi phí trả lãi cao hơn. Để bù đắp cho các chi phí này
phải cắt giảm chi tiêu cho năng suất (như cắt giảm đầu tư vào cơ sở hạ tầng, tăng thuế,
tạo nên sự bóp méo của thuế)
Thứ ba, nợ công tăng đưa đến rủi ro vỡ nợ, làm tăng chi phí rủi ro từ đó làm tăng
chi phí tài trợ, đe dọa đến khả năng thanh toán của khu vực công và có thể dẫn đến
việc tăng lãi suất dành cho các nhân và doanh nghiệp.
18
Hình 4. Sơ đồ chỉ các cơ chế truyền dẫn (nguồn: Nautet & Van Meensel, 2011)
1. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (ký hiệu là GDP, đơn vị%)
2. Tỷ lệ nợ công (PD) : bao gồm cả nợ trong nước và nợ nước ngoài, được xác
định bằng % nợ công/ GDP
3. Tỷ lệ đầu tư khu vực tư nhân (K) : được xác định bằng % giá trị đầu tư khu vực
tư nhân/ GDP
4. Độ mở nền kinh tế (O): được xác định bằng % tổng giá trị xuất nhập khẩu hàng
hóa/ GDP
Phương trình kiểm định mô hình sẽ có dạng:
GDP= α1+ α2PD+ α3K+ α4O + φ
3.2.Phương pháp thu thập số liệu
Để phục vụ cho quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng số liệu thứ cấp trong
chuỗi thời gian từ năm 2000 đến năm 2016 (số liệu năm 2016 là số liệu sơ bộ, chưa có
báo cáo chính thức). Những số liệu này được lấy từ các nguồn gồm Worldbankdata,
Tổng Cục Thống Kê và Hải Quan Việt Nam. Nhóm tác giả tính toán và xử lý lại số
liệu tỷ lệ độ mở nền kinh tế (O).
Chương 2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
1. Kết quả nghiên cứu
20
Hình 5: Thống kê mô tả các biến (từ năm 2001 – 2016)
Bảng thống kê mô tả của các biến cho thấy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt
Nam trong giai đoạn năm 2001 – 2016 có giá trị lớn nhất vào khoảng 8,64% (năm
2007) và đạt giá trị nhỏ nhất là 5,3% (năm 2012). Tỷ lệ vốn đầu tư khu vực tư nhân có
giá trị lớn nhất là 16,42% (tính trên GDP, năm 2007), thấp nhất vào năm 2001 với chỉ
khoảng 8% tính trên GDP. Độ mở thương mại của Việt Nam khá cao (tuy nhóm tác
giả mới chỉ tính toán trên lưu lượng hàng hóa xuất nhập khẩu, chưa tính đến giá trị
xuất nhập khẩu khu vực dịch vụ). Độ mở thương mại có giá trị lớn nhất là 100,31%
Prob.*
22
GDP
K
-1,748403
-2,099071
0,3891
0.2477
O
-3,506521
0,0231
PD
2,468638
0,9998
Hình 7. Kiểm định nghiệm đơn vị (nhóm tác giải xử lý bằng eview 8)
Từ bảng kết quả kiểm định nghiệm đơn vị ( bảng 2) ta thấy, các biến GDP, K PD
đều có p – value > α= 10% nên chúng đều là những chuỗi không dừng. Chỉ có chuỗi
dữ liệu O có p – value= 0,0231 < α= 10% nên nó là chuỗi dừng. Vì chuỗi giá trị của
các biến GDP, K, PD đều không dừng nên nhóm tác giả sẽ lấy sai phân cấp 1 và được
JB=2,029313
Prob=0,362527
Chi2=0.0315
Prob=0,0591
Chi2=0,9530
Prob=0,9664
chuẩn
Kiểm định tự tương
quan Breusch-Godfrey LM
Kiểm định phương sai
thay
đổi
–
Hteroskedasticity
Hình 10: Kiểm định sự phù hợp của mô hình
Kết quả kiểm sự phù hợp của mô hình đã cho chúng ta thấy các giá trị p-value của
kiểm định phân phối chuẩn (p-value=0,362527), kiểm định tự tương quan BreuschGodfrey LM (p-value=0,0591), Kiểm định phương sai thay đổi – Hteroskedasticity
((p-value=0,9664) đều lớn hơn 5%. Từ kết quả này chúng ta có thể khẳng định rằng
mô hình là phù hợp, không hề xảy ra hiện tượng đa cộng tuyến, phương sai số thay
đổi hay tự tương quan.
24