ĐỀ TÀI: tác động của thương mại đối với tăng trưởng kinh tế việt nam
A.LỜI MỞ ĐẦU
Thương mại đã ra đời rất lâu và nó đã tồn tại qua các phương thức sản xuất xã
hội. Xuất hàng hoá và lưu thông hàng hoá. Vì thế hoạt động thương mại vừu chịu
sự chi phối của các quy luật của nền sản xuất hàng hoá,vừa chịu sự chi phối của các
quy luật kinh tế vốn có của mỗi chế độ xã hội.Bên cạnh đó thương mại cũng tác
động ngược trở lại nền kinh tế , xã hội và môi trường. Những tác động ấy có tính
hai mặt: vừa có những tác động tích cực, vừa có những tác động tiêu cực, thể hiện
trên nhiều phương diện, nhiều mức độ khác nhau.Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay
khi nước ta đang tiến hành hội nhập quốc tế thì những tác động của thương mại
đến tình hình kinh tế đất nước nhất là sự tăng trưởng kinh tế càng thể hiện rõ nét
hơn.Vậy cụ thể đó là những tác động như thế nào, chúng ta sẽ cùng nhau tìm hiểu
qua bài thảo luận “ Tác động của thương mại đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam.”
B. THÂN BÀI
Phần 1: Khái quát chung về thương mại và tăng trưởng kinh tế
I. Thương mại
1.Bản chất kinh tế của thương mại
Bản chất kinh tế của thương mại được xem xét và nghiên cứu theo nhiều cách tiếp
cận khác nhau.
a. Tiếp cận thương mại với tư cách là một hoạt động kinh tế
Nếu nhìn dưới góc độ một hoạt động kinh tế thì thương mại là một trong những
hoạt động kinh tế cơ bản và rất phổ biến trong nền kinh tế thị
trường.
Mọi hoạt động thương mại đều bắt đầu bằng hành vi mua hàng và kết thúc bằng
hành vi bán. Có thể tóm tắt hoạt động thương mại bằng công thức sau: T - H T' .
Đối tượng mua bán của các hoạt động thương mại là các hàng hóa vá dịch vụ.
Chủ thể của hoạt động thương mại gồm những người bán (người sản xuất hàng
hóa, người cung ứng dịch vụ, thương gia ) và những người mua( người sản xuất,
thương gia, những người tiêu dùng). Tuy nhiên tham gia vào hoạt động thương
Nếu nhìn dưới giác độ phân công lao động xã hội thì thương mại được coi là
một ngành kinh tế độc lập của nền kinh tế. Ngành thương mại chuyên đảm nhận
chức năng tổ chức lưu thông hàng hóa và cung ứng các dịch vụ cho xã hội thông
qua việc thực hiện mua bán nhằm sinh lợi.
Từ đó có thể rút ra bản chất kinh tế chung của Thương mại là: Thương mại là
tổng hợp các hiện tượng, các hoạt động và các quan hệ kinh tế gắn và phát sinh
cùng với trao đổi hàng hóa và cung ứng dịch vụ nhằm mục đích lợi nhuận.
2. Cơ sở luận nghiên cứu tác động của thương mại
a. Thương mại là một hoạt động kinh tế cơ bản và phổ biến
- Hoạt động kinh tế cơ bản - liên quan đến nhiều hoạt động kinh tế khác trong nền
kinh tế :đầu tư,kinh doanh, bất động sản.
- Hoạt động kinh tế phổ biến- liên quan đến nhiều chủ thể khác nhau trong nền kinh
tế.
- Trong nền kinh tế thị trường mọi hoạt động kinh tế đều gắn với hoạt động thương
mại, vì thế thương mại trở thành hoạt động kinh tế cơ bản và phổ biến của nền
kinh tế. Chủ thể hoạt động thương mại là những người mua và những người bán.
- Hoạt động thương mại phản ánh mối quan hệ kinh tế của các chủ thể tham gia
mua, bán. Chúng chịu sự dẫn dắt của “ bàn tay vô hình” , chi phối của cơ chế thị
trường. Cơ chế thị trường lấy cạnh tranh làm cạnh tranh làm động lực và lấy lợi
ích làm mục đích, vì thế tác động của thương mại tới các chủ thể mua án rất linh
hoạt, nhanh nhạy song cũng chứa đựng rất nhiều những yếu tố tự phát và nhiều
khi gây ra những lãng phí.
b. Thương mại là một khâu trao đổi của quá trình tái sản xuất xã hội
- Cùng với phân phối thương mại là một trong hai khâu trung gian của quá trình
tái sản xuất xã hội
- Thương mại giữ vai trò cầu nối trong khâu sản xuất và khâu tiêu dùng. Một mặt
thương mại chịu sự chi phối của sản xuất và tiêu dùng, mặt khác thương mại cũng
có tác động tới quy mô, cơ cấu và sự phát triển của sản xuất và tiêu dùng xã hội
môi trường tự nhiên.
II. Tăng trưởng kinh tế
1, Khái niệm tăng trưởng kinh tế, mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và
phát triển kinh tế
a, Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng
sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu
người (PCI) trong một thời gian nhất định
b, Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế .
Quy mô của một nền kinh tế thể hiện bằng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng
sản phẩm quốc gia (GNP), hoặc tổng sản phẩm bình quân đầu người hoặc thu nhập
bình quân đầu người.
Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản sản phậm
trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản
xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là
một năm tài chính).
Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền của
tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một
thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản
phẩm quốc nội cộng với thu nhập ròng.
Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số. Tổng
thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân số.
Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay đổi về lượng của nền kinh tế. Tuy vậy ở một số
quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân
đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống trong tình trạng nghèo khổ.
Phát triển kinh tế mang nội hàm rộng hơn tăng trưởng kinh tế. Nó bao gồm tăng
trưởng kinh tế cùng với những thay đổi về chất của nền kinh tế (như phúc lợi xã
hội, tuổi thọ, v.v.) và những thay đổi về cơ cấu kinh tế (giảm tỷ trọng của khu vực sơ
nên vẫn có nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới về quy mô.
Tư bản: là một trong những nhân tố sản xuất, tùy theo mức độ tư bản mà người
lao động được sử dụng những máy móc, thiết bị...nhiều hay ít (tỷ lệ tư bản trên
mỗi lao động) và tạo ra sản lượng cao hay thấp. Để có được tư bản, phải thực
hiện đầu tư nghĩa là hy sinh tiêu dùng cho tương lai. Điều này đặc biệt quan trọng
trong sự phát triển dài hạn, những quốc gia có tỷ lệ đầu tư tính trên GDP cao
thường có được sự tăng trưởng cao và bền vững. Tuy nhiên, tư bản không chỉ là
máy móc, thiết bị do tư nhân dầu tư cho sản xuất nó còn là tư bản cố định xã hội,
những thứ tạo tiền đề cho sản xuất và thương mại phát triển. Tư bản cố định xã hội
thường là những dự án quy mô lớn, gần như không thể chia nhỏ được và nhiều khi
có lợi suất tăng dần theo quy mô nên phải do chính phủ thực hiện. Ví dụ: hạ tầng
của sản xuất (đường giao thông, mạng lưới điện quốc gia...), sức khỏe cộng đồng,
thủy lợi....
•
•
•
•
Công nghệ: trong suốt lịch sử loài người, tăng trưởng kinh tế rõ ràng không
phải là sự sao chép giản đơn, là việc đơn thuần chỉ tăng thêm lao động và tư bản,
ngược lại, nó là quá trình không ngừng thay đổi công nghệ sản xuất. Công nghệ
sản xuất cho phép cùng một lượng lao động và tư bản có thể tạo ra sản lượng cao
hơn, nghĩa là quá trình sản xuất có hiệu quả hơn. Công nghệ phát triển ngày càng
nhanh chóng và ngày nay công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật
liệu mới... có những bước tiến như vũ bão góp phần gia tăng hiệu quả của sản
I.Thực trang nền kinh tế Việt Nam hiện nay
Nền kinh tế nước ta năm 2014 diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới phục hồi
chậm sau suy thoái toàn cầu. Các nền kinh tế lớn phát triển theo hướng đẩy nhanh tăng
trưởng nhưng có nhiều yếu tố rủi ro trong việc điều chỉnh chính sách tiền tệ. Trong khi
đó, nhiều nền kinh tế mới nổi gặp trở ngại từ việc thực hiện chính sách thắt chặt để
giảm áp lực tiền tệ. Bên cạnh đó, khu vực đồng EURO bị ảnh hưởng mạnh bởi các
biện pháp trừng phạt kinh tế giữa các nước trong khu vực do tình hình chính trị bất ổn
tại một số quốc gia, nhất là khu vực châu Âu. Dự báo tăng trưởng năm 2014 và 2015
của hầu hết các nền kinh tế Đông Nam Á cũng được điều chỉnh giảm. Điểm nổi bật
trong những tháng cuối năm là giá dầu mỏ trên thị trường thế giới giảm sâu và vẫn
đang tiếp tục giảm. Đối với các quốc gia nhập khẩu dầu, giá dầu giảm giúp thúc đẩy
tiêu dùng và đầu tư tư nhân cũng như cải thiện cán cân thanh toán. Tuy nhiên, đối với
các nước sản xuất dầu, thực trạng thị trường giá dầu mỏ giảm sẽ tác động mạnh đến
kinh tế theo chiều hướng thuận lợi và khó khăn đan xen.
Ở Việt Nam, sản xuất kinh doanh chịu áp lực từ những bất ổn về kinh tế và
chính trị của thị trường thế giới, cùng với những khó khăn từ những năm trước chưa
được giải quyết triệt để như áp lực về khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế chưa
cao;sức ép nợ xấu còn nặng nề; hàng hóa trong nước tiêu thụ chậm; năng lực quản lý
và cạnh tranh của doanh nghiệp thấp... Trước bối cảnh đó, Chính phủ, Thủ tướng
chính phủ ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, quyết định nhằm tiếp tục ổn định vĩ
mô, tháo gỡ khó khăn và cải thiện môi trường kinh doanh, tạo đà tăng trưởng, bảo
đảm công tác an sinh xã hội cho toàn dân. Trọng tâm là Nghị quyết số 01/NQ-CP
ngày 02 tháng 01 năm 2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu
chỉ đạo điều hành thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân
sách nhà nước năm 2014; Nghị quyết số 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ
về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia; Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 25/8/2014 của Chính
phủ về một số giải pháp về thuế tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy mạnh sự phát
quan; sản xuất giấy; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (Trừ máy móc thiết bị);
sản phẩm điện tử máy tính; sản xuất xe có động cơ là những ngành có đóng góp lớn
vào tăng trưởng với chỉ số sản xuất tăng khá cao ở mức trên 10%. Ngành khai khoáng
tăng 2,40%, có đóng góp của dầu thô và khí đốt tự nhiên. Ngành xây dựng đã có dấu hiệu
phục hồi với mức tăng 7,07%, tăng cao so với mức 5,87% của năm 2013, chủ yếu do đóng
góp của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với giá trị sản xuất xây dựng
khu vực này tăng mạnh ở mức 58%.
Trong khu vực dịch vụ, đóng góp của một số ngành có tỷ trọng lớn vào mức tăng
trưởng chung như sau: Bán buôn và bán lẻ chiếm tỷ trọng lớn nhất, đạt mức tăng 6,62%
so với năm 2013, đóng góp 0,91 điểm phần trăm vào mức tăng trưởng chung; hoạt động
tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 5,88%; hoạt động kinh doanh bất động sản được
cải thiện hơn với mức tăng 2,85%, cao hơn mức tăng 2,17% của năm trước với nhiều
tín hiệu tốt trong hỗ trợ thị trường bất động sản nói chung và phân khúc nhà chung cư
giá trung bình và giá rẻ nói riêng, trong đó giá trị tăng thêm của khấu hao nhà ở dân cư
tăng 2,93%.
Cơ cấu nền kinh tế năm nay tiếp tục theo hướng tích cực. Khu vực nông, lâm
nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 18,12%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm
38,50%; khu vực dịch vụ chiếm 43,38% (Cơ cấu tương ứng của năm 2013 là: 18,38%;
38,31%; 43,31%).
Xét về góc độ sử dụng GDP năm 2014, tiêu dùng cuối cùng tăng 6,20% so với
năm 2013, đóng góp 4,72 điểm phần trăm vào mức tăng chung (Tiêu dùng cuối cùng
của dân cư tăng 6,12%, cao hơn mức tăng 5,18% của năm trước); tích lũy tài sản
tăng 8,90%, đóng góp 2,90 điểm phần trăm
Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nướccác năm 2012, 2013 và 2014
Tốc độ tăng so vớinăm trước (%) Đóng góp của các
Năm 2012 Năm 2013 Năm 2014
2,75
Dịch vụ
5,90
6,57
5,96
2,62
Tổng số
II. Tác động tích cực của thương mại đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
1, Thương mại tạo ra khả năng huy động các nguồn lực sẵn có của quốc gia, tác
động đến việc di chuyển các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia.
Thương mại tạo khả năng huy động các nguồn lực sẵn có của quốc gia cũng như tác
động tới việc di chuyển các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia. Nhờ vậy mà góp phần
to lớn vào mở rộng quy mô sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia,
góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.
Ví dụ :
- Hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài đã bước đầu được triển khai. Các
doanh nghiệp Việt Nam đã có một số dự án đầu tư ra nước ngoài như khai thác dầu ở
An-giê-ri, Xin-ga-po, Vê-nê-du-ê-la; trồng cao su ở Lào…
-Về nguồn lực tài nguyên thiên nhiên : Với trữ lượng dầu thô ước tính đạt 4,4 tỷ
thùng, Việt Nam là nước đứng thứ nhì ở khu vực Đông Á về trữ lượng dầu, chỉ thua
Trung Quốc. Khai thác dầu ngoài việc đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước thì nước
ta còn xuất khẩu sang các nước khác như : Mỹ, Nga, Ấn Độ…Nhờ đó mà đóng góp
không nhỏ vào nguồn thu ngân sách nhà nước và tạo được công ăn việc làm cho người
thích các công ty trong nước nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình.
3.Tác động đến khả năng tiêu dùng.
Thương mại tác động đến khả năng tiêu dùng của một số nước và gián tiếp sản
xuất ra các sản phẩm có hiệu quả hơn là tự sản xuất.
Mặc dù sức cạnh tranh của sản phẩm Việt Nam còn hạn chế so với các nước, song
trong bối cảnh biến động kinh tế và khủng hoảng tài chính thế giới năm 2008, các sản
phẩm có lợi thế của Việt Nam vẫn có được thị trường, giữ được mức tăng trưởng khá.
Tuy chưa có đột biến, song xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản và công nghiệp chế
biến có hàm lượng lao động cao thực sự có cơ hội tăng mạnh
Tăng trưởng kinh tế chủ yếu do tăng trưởng tiêu dùng cuối cùng.điều đó được lí giải
là do quy mô GDP của Việt Nam còn thấp, nên tỷ trọng tiêu dùng cuối cùng hiện đang
chiếm tỷ trọng lớn trong GDP (trên dưới 70%); mức tiêu dùng bình quân đầu người
trong nhiều năm còn thấp nên nhu cầu và tốc độ tăng thường khá cao (mấy năm liên
tục tăng trên 7%,gần bằng với tốc độ tăng của GDP).
Một nét quan trọng là tiêu dùng cuối cùng thông qua mua bán trên thị trường ngày
một chiếm tỷ trọng lớn, do tốc độ tăng qua các năm (đã loại trừ yếu tố giá) mấy năm
nay liên tục tăng hai chữ số (năm 2002 tăng 11,2%, năm 2003 tăng 15,2%, năm 2004
tăng 10,8%, năm 2005 tăng 11,3%, năm 2006 yăng 12,5%, năm 2007 tăng 11,4%).
Khi tiêu dùng cuối cùng thông qua mua bán trên thị trường tăng nhanh và trở thành
động lực của tăng trưởng kinh tế thì một mặt nó hấp dẫn các nhà đầu tư.
4.Thương mại gia tăng GDP
Thương mại một mặt trực tiếp làm tăng GDP nhờ chính hoạt động của mình,mặt khác
gián tiếp tác động đến việc gia tăng GDP của các ngành nhờ ảnh hưởng có tính lan
truyền.
Tại Hội thảo, các đại biểu đã tập trung phân tích, đánh giá tác động của việc gia nhập
WTO tới các lĩnh vực thương mại, đầu tư, tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô,
xã hội, thể chế kinh tế...
Báo cáo "Tác động hội nhập đối với nền kinh tế sau hai năm Việt Nam gia nhập
hai năm 2006-2007, Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao, đặc biệt trong năm
2007, tốc độ tăng trưởng GDP đạt 8,46%, cao hơn 0,23 điểm % so với năm 2006 và là
mức cao nhất trong vòng 11 năm. Tuy nhiên từ năm 2008, do những tác động của bối
cảnh kinh tế thế giới và những khó khăn nội tại của nền kinh tế, đặc biệt là tình hình
lạm phát cao vào năm 2008 và khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới từ
cuối năm 2008, tốc độ tăng trưởng kinh tế đã chậm lại, tăng trưởng GDP năm 2008
chỉ đạt 6,31%, năm 2009 đạt 5,32%. Năm 2010, kinh tế đã có xu hướng phục hồi và
đạt mức tăng trưởng khoảng 6,7%, cao hơn mức tăng trưởng của 2 năm trước, nhưng
vẫn thấp hơn mức tăng trưởng thời kỳ 2000-2007.
Trong 3 năm sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới, lạm phát đã
tăng liên tục từ 6,4% vào 1/2007 và đạt đỉnh 28,3% vào tháng 8/2008 rồi hạ xuống 6%
vào tháng 5/2009 . Ngoài việc chịu tác động mạnh hơn từ sự tăng mạnh của giá cả thế
giới do kết quả của việc hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng hơn, khủng hoảng tài chính
toàn cầu đã có những tác động khác nhau đối với giá cả ở Việt Nam. Dưới tác động
của các nhân tố này, lạm phát đã thay đổi theo những chiều hướng khác nhau. Tuy
nhiên, quá trình hội nhập không phải là nguyên nhân duy nhất gây ra những diễn biến
lạm phát trong mấy năm vừa qua. Trên thực tế, diễn biến lạm phát còn chịu tác động
của nhiều yếu tố nội tại, trong khi đó, công tác điều hành chính sách kinh tế vĩ mô
chưa được điều chỉnh một cách linh hoạt nên đã làm cho lạm phát tăng cao trong năm
2008.
Do kết quả của hội nhập kinh tế quốc tế, sự tham gia rộng hơn của các định chế tài
chính nước ngoài và các dòng vốn đầu tư nước ngoài vào thị trường Việt Nam đã có
tác động tích cực đến hệ thống tài chính của Việt Nam, không chỉ theo chiều rộng mà
cả theo chiều sâu, thể hiện ở tỷ lệ tăng trưởng tiền gửi/GDP, tín dụng/GDP, vốn hóa thị
trường, số công ty niêm yết, giá trị niêm yết trái phiếu. Tuy vậy, công tác duy trì ổn
định kinh tế vĩ mô trong những năm vừa qua vẫn còn một số vấn đề nhất định. Việc
thực hiện mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế cao và ổn định dựa nhiều vào đầu tư,
đặc biệt là đầu tư công, qua đó gây sức ép đối với thâm hụt ngân sách nhà nước và ổn
Tình trạng bày bán, tiêu thụ hàng giả, hàng kém chất lượng không đảm bảo vệ sinh
an toàn thực phẩm … được xem là hoạt động xâm hại đến lợi ích hợp pháp của doanh
nghiệp và người tiêu dùng. Các mặt hàng được làm giả rất đa dạng từ hàng tiêu dùng
thông dụng như: Quần áo, dày dép, nước uống đóng chai, bột ngọt,… đến các mặt
hàng có giá trị cao như: Mỹ phẩm, thực phẩm chức năng… đang hàng ngày đánh lừa
người tiêu dùng và quan trọng hơn là phá hoại nền sản xuất trong nước. Theo số liệu
thống kê của Đội Quản lý thị trường số 1, trong 6 tháng đầu năm 2015, Đội đã kiểm
tra, lập biên bản xử lý 71 lượt vụ vi phạm gian lận thương mại, tịch thu và tiêu hủy
321 bao thuốc lá nhãn hiệu 555, 128 bao thuốc lá nhãn hiệu ESSE, 20 bao thuốc lá
điếu Marlboro; 15,7kg mỳ chính nhãn hiệu AJINOMOTO giả bao bì nhãn hiệu của
Công ty AJINOMOTO Việt Nam, xử phạt hành chính nộp vào ngân sách Nhà nước
trên 100 triệu đồng.
Tình trạng sản xuất, bày bán, tiêu thụ hàng kém chất lượng diễn ra tại nhiều địa
phương và có diễn biến khá phức tạp, hàng giả, hàng nhái đang thách thức các cơ
quan chức năng, đẩy người tiêu dùng vào tình trạng khó phân biệt “vàng thau lẫn lộn”
đây thực sự là hiện trạng rất đáng báo động. Thực tế nhức nhối ấy đang đòi hỏi công
tác chống hàng giả, hàng nhái, gian lận thương mại phải có bước chuyển biến mới và
quyết liệt hơn.
Hàng giả hiện nay được làm rất tinh vi về chất lượng khiến người tiêu dùng rất khó
phân biệt, chúng không chỉ được bày bán ở các cửa hàng nhỏ lẻ mà len lỏi vào cả các
siêu thị lớn. Mới đây, cuộc thanh tra ở thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, đơn cử nhãn
hiệu thời trang Valentine được bán trong các shop sang trọng phần lớn đều là hàng giả.
Thành phố Hà Nội đã từng phát hiện ngay tại Tràng Tiền Plaza bán túi sách hiệu L.V
giá hàng triệu đồng một chiếc nhưng cũng là hàng giả xuất xứ từ Trung Quốc. Chanel,
một hãng nước hoa và thời trang danh tiếng đang hối thúc các luật sư Việt Nam xử lý
việc vi phạm nhãn hiệu này trên thị trường Việt Nam, bởi gần đây từ trung tâm thương
mại, siêu thị đến các shop mỹ phẩm thời trang, mua hàng Chanel thật còn khó hơn
mua hàng Chanel giả
Với hàng giả sản xuất trong nước thì thường được làm giả về nhãn hiệu, kiểu dáng
tương tự, giống hệt thật, hoặc sản xuất hàng giả dùng mác thật có cả chỉ dẫn địa lý.
hạn trên bao bì, nhãn hàng, các pano quảng cáo ...) gây ra sự nhầm lẫn về tên thương
mại, logo, chỉ dẫn địa lý ... để làm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa,
dịch vụ của mình.
- Ví dụ : Sản phẩm trà chanh Nestea của Nestle và trà chanh Freshtea của Công ty
Thuý Hương.
Sản phẩm trà chanh Nestea hiện được ưa chuộng trên thị trường nhưng không ít khách
hàng, nhất là khách hàng ở các tỉnh, bị nhầm lẫn với Freshtea của công ty Thuý
Hương.
Theo tài liệu của Công ty sở hữu trí tuệ Banca được công bố công khai trong cuộc hội
thảo do Bộ Công thương tổ chức thì, công ty Thuý Hương (Thanh Trì, Hà Nội) đã có
hành vi cạnh tranh không lành mạnh.
Cụ thể, Thuý Hương đã sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn giữa Freshtea và
Nestea. Sự tương tự về phần chữ: Cấu tạo, cách phát âm và tương tự cả về cách trình
bày, bố cục, mầu sắc. Trông bề ngoài, nếu không để ý sẽ khó phát hiện hai gói trà
chanh này là do hai công ty khác nhau sản xuất. Một số người tiêu dùng được hỏi thì
cho rằng, cả Freshtea và Nestea cùng là sản phẩm của công ty Nestle, vì trông chúng
rất... giống nhau!
- Hay cùng nằm trong dòng sản phẩm của công ty Nestlé, sản phẩm sữa Milo bị tới hai
hãng khác cạnh tranh không lành mạnh thông qua các chỉ dẫn thương mại gây nhầm
lẫn. Sản phẩm sữa Good Cacao của Cty Mina được sản xuất với những điểm tương tự
sữa Milo như: Tương tự về bao gói sản phẩm, cách thức trình bày, bố cục, mầu sắc.
Ví dụ về quảng cáo sai chỉ dẫn địa lý, xuất xứ : Một doanh nghiệp bán nước mắm ghi
là "Nước mắm Phú Quốc" nhưng thực chất đóng chai tại TP.HCM.
* Xâm phạm bí mật kinh doanh là việc doanh nghiệp có các hành vi như tiếp cận, thu
thập thông tin thuộc bí mật kinh doanh của doanh nghiệp khác, tiết lộ, sử dụng thông
tin, bí mật kinh doanh mà không được phép của chủ sở hữu chân chính...
* Ép buộc trong kinh doanh là việc doanh nghiệp ép buộc, đe dọa khách hàng, đối tác
kinh doanh của doanh nghiệp đối thủ không cho họ giao dịch hoặc phải ngừng giao
dịch với doanh nghiệp đó.
* Gây rối hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác là việc một doanh nghiệp có
- Tổ chức khuyến mại mà gian dối về giải thưởng, không trung thực hoặc gây nhầm
lẫn về hàng hoá, dịch vụ để lừa dối khách hàng.
- Phân biệt đối xử đối với các khách hàng như nhau tại các địa bàn tổ chức khuyến
mại khác nhau trong cùng một chương trình khuyến mại;
- Tặng hàng hoá cho khách hàng dùng thử nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá
cùng loại do doanh nghiệp khác sản xuất mà khách hàng đó đang sử dụng để dùng
hàng hóa của mình;
Ví dụ về khuyến mãi không đúng : Bột nêm massan
Theo một công bố của Ban Điều tra và Xử lý các hành vi cạnh tranh không lành
mạnh, thì Công ty Massan đã đưa ra chương trình khuyến mại nhằm cạnh tranh không
lành mạnh tại TP. Hồ Chí Minh.
Cụ thể, công ty này đưa ra chương trình khuyến mại bột canh, người tiêu dùng có thể
đem gói bột canh dùng dở đến đổi lấy sản phẩm Massan. Hành vi này được quy định
là một trong các hành vi khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh: “Tặng hàng
hoá cho khách hàng dùng thử, nhưng lại yêu cầu khách hàng đổi hàng hoá cùng loại
đang sử dụng do doanh nghiệp khác sản xuất”.
Công ty Unilever Bestfood đã khiếu nại về chương trình khuyến mại này tới Sở
Thương mại TP.Hồ Chí Minh. Thanh tra Sở đã lập biên bản và yêu cầu đình chỉ
chương trình khuyến mại.
Phần 3: Một số giải pháp nhằm phát huy tác động tích cực và hạn chế tác
động tiêu cực của thương mại đối với tăng trưởng kinh tế Việt Nam
-
-
-
-
không đầu tư thêm vốn cho những chương trình, dự án kinh tế không có khả
năng thu hồi vốn, không có lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế, mà việc
đầu tư hàng tỷ đô là trong chương trình mía đường của ta không mang lại hiệu
quả kinh tế là bài học nhãn tiền. Nếu cũng với số vốn đó dùng để đầu tư cho
các ngành công nghệ cao thì chắc chắn rằng hiệu suất đầu tư vốn sẽ đạt cao hơn
nhiều.
Đẩy mạnh việc phát triển và nâng cao trình độ nguồn nhân lực cho nền kinh tế:
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã
hội và nó cũng quyết định đến quá trình đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
-
hoá đất nước nhằm nhanh chóng hoà nhập nền kinh tế nước ta với khu vực và
quốc tế, vì suy cho cùng chính con người mới là yếu tố cơ bản nhất và quan
trọng của toàn bộ lực lượng sản xuất. Nhưng trong một thời gian dài vừa qua,
vấn đề đào tạo nguồn nhân lực nhìn chung chưa được quan tâm đúng mức và
cũng chưa có các bước đi thích hợp. Đặc biệt là tại khu vực sản xuất kinh
doanh, nơi trực tiếp tạo ra sản phẩm và các hoạt động dịch vụ cho toàn xã hội
lại càng chưa được quan tâm một cách thích đáng, chưa xem đấy là động lực
thúc đẩy sản xuất phát triển. Nhất là trong bối cảnh thế giới ngày nay đang có
sự tiến bộ vượt bậc của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật, nhờ đó mà trình độ
kỹ thuật, quy trình công nghệ ngày càng được đổi mới một cách hết sức mau lẹ,
thì vấn đề quan tâm đến đào tạo nguồn nhân lực cho nền kinh tế để tương thích
với sự thay đổi nhanh chóng của máy móc thiết bị được đặt ra như một nhu cầu
bức xúc.
Cải thiện môi trường đầu tư: Việc cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao
năng lực cạnh tranh quốc gia là nhiệm vụ gắn bó chặt chẽ với các nhiệm vụ
phát triển kinh tế-xã hội. So với yêu cầu đặt ra, nhất là hiện nay trong thể chế
luật pháp, cơ chế chính sách, thủ tục hành chính, thực thi công vụ vẫn còn
buôn bán hàng giả hàng nhái, nách luật , trốn thuế.
-
Ngoài ra, Chính phủ cần thực hiện nhất quán mục tiêu tăng cường ổn định kinh
tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, tập trung tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh
doanh, xử lý nợ xấu, phát triển thị trường, tăng sức mua, đẩy mạnh tiêu thụ
hàng hóa.Tiếp tục thực hiện có hiệu quả các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho
sản xuất kinh doanh theo Nghị quyết của Quốc hội, Nghị quyết số 01 và 02 của
Chính phủ, nhất là các chính sách giãn, hoãn, miễn, giảm thuế và chính sách hỗ
trợ tín dụng...;bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội, tăng cường phòng,
chống thiên tai, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh
cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường phòng
chống tham nhũng, lãng phí; tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo đảm trật tự,
an toàn xã hội; nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại.
C. KẾT LUẬN
Như vậy , từ những gì phân tích phía trên ta thấy , những tác động của thương mại đến
tăng trưởng kinh tế một mặt tạo ra khả năng huy động các nguồn lực sẵn có của quốc
gia , nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng khả năng tiêu dùng, tăng GDP , một mặt lại dẫn
đến nền kinh tế nóng hàng giả hàng nhái, cạnh tranh không công bằng. Muốn đất nước
phát triển thì cần thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế đi lên và bền vững. Vì thế mỗi
chúng ta hãy cố gắng tìm hiểu thật sâu và nắm rõ những tác động tích cực cũng như
như tiêu cực của thương mại đối với tăng trưởng kinh tế để có thể góp chút phần sức
lực của mình vào công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước.