Ảnh hưởng của tính bất cân xứng trong dòng tiền đến sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-----------------------

LÊ THỊ HỮU

ẢNH HƯỞNG CỦA TÍNH BẤT CÂN XỨNG TRONG
DÒNG TIỀN ĐẾN SỰ THAY ĐỔI
TRONG LƯỢNG TIỀN MẶT NẮM GIỮ CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. HỒ CHÍ MINH – NĂM 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ kinh tế với đề tài “Ảnh hưởng của tính bất
cân xứng trong dòng tiền đến sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ của các
doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam” là kết quả nghiên cứu và làm việc của chính cá
nhân tác giả dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Uyên Uyên – Giảng viên
Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh.
TP.HCM, ngày tháng
Tác giả

Lê Thị Hữu

năm 2015


MỤC LỤC


Mô hình kiểm định sự ảnh hưởng của tính bất cân xứng trong dòng tiền đến

sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ khi xem xét đến vấn đề đại diện ............. 43
3.4 Phương pháp nghiên cứu và cách thức thực hiện bài nghiên cứu ...................... 45
3.4.1

Phương pháp nghiên cứu ............................................................................. 45

3.4.2

Cách thức thực hiện bài nghiên cứu ............................................................. 46


CHƢƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..............................................................49
4.1 Thống kê mô tả dữ liệu và kiểm định sự phù hợp của mô hình nghiên cứu ...... 49
4.1.1

Thống kê mô tả dữ liệu ................................................................................ 49

4.1.2

Ma trận hệ số tương quan............................................................................. 51

4.1.3

Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến ........................................................... 54

4.1.4


5.2.2

Hướng nghiên cứu tiếp theo ......................................................................... 71

TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Tóm tắt các nghiên cứu trên thế giới về những yếu tố ảnh hưởng đến
lượng tiền mặt nắm giữ của các doanh nghiệp..........................................................23
Bảng 3.1. Kỳ vọng dấu của các biến nghiên cứu ......................................................45
Bảng 4.1. Mô tả thống kê các biến nghiên cứu .........................................................49
Bảng 4.2. Ma trận hệ số tương quan giữa các biến nghiên cứu ................................53
Bảng 4.3. Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến với phần mềm Stata ..........55
Bảng 4.4. Kết quả kiểm định Breusch-Godfrey ........................................................56
Bảng 4.5. Kết quả kiểm định White ..........................................................................56
Bảng 4.6. Kết quả kiểm định các giới hạn xác định vượt quá của phương pháp
GMM .........................................................................................................................57
Bảng 4.7. Kết quả hồi quy về ảnh hưởng của tính bất cân xứng trong dòng tiền lên
sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ .................................................................59
Bảng 4.8. So sánh kết quả hồi quy đối với kỳ vọng của Luận văn về ảnh hưởng của
tính bất cân xứng trong dòng tiền đến sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ ....63
Bảng 4.9. Kết quả hồi quy về ảnh hưởng của tính bất cân xứng trong dòng tiền lên
sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ khi xem xét đến vấn đề hạn chế tài chính
...................................................................................................................................65
Bảng 4.10. Kết quả hồi quy khi xem xét yếu tố chi phí đại diện ..............................67


1

nghiên cứu mối quan hệ giữa việc nắm giữ tiền mặt với giá trị doanh nghiệp, có
những bài nghiên cứu đi vào xem xét sự ảnh hưởng của việc nắm giữ tiền mặt đối
với thành quả hoạt động của công ty. Những nghiên cứu này phát hiện ra rằng giá
trị thị trường của các công ty được tính bằng Tobin’q có mối quan hệ tuyến tính với
mức độ tiền mặt được nắm giữ (Saddour 2006), hoặc là việc nắm giữ tiền mặt chỉ
làm gia tăng giá trị của các doanh nghiệp bị hạn chế tài chính (Mulligan 1997), có
nghiên cứu lại cho rằng hiệu quả hoạt động của các công ty có lượng tiền mặt nắm
giữ nhiều tốt hơn hiệu quả hoạt động của các công ty khác có cùng quy mô và
ngành nghề nhưng có lượng tiền mặt nắm giữ ít hơn (Mikkelson và Partch 2002).
Bên cạnh những nghiên cứu về mối quan hệ giữa việc nắm giữ tiền mặt và giá trị
doanh nghiệp, có nhiều bài nghiên cứu đi sâu vào nghiên cứu những yếu tố tác động
đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp. Các kết quả nghiên cứu phát hiện
ra rằng mối quan hệ giữa giá trị thị trường và giá trị sổ sách, tình hình luân chuyển
tiền, mức độ đầu tư vào vốn luân chuyển, mức độ đòn bẩy tài chính mà doanh
nghiệp sử dụng, quy mô công ty, vấn đề chi trả cổ tức, quy mô hội đồng quản trị,
giám đốc điều hành kiêm nhiệm chủ tịch hội đồng quản trị, cấu trúc sở hữu của
công ty, sức mạnh kiểm soát của ngân hàng, rủi ro của ngành là các yếu tố ảnh
hưởng đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp. Nhưng gần đây nhất, từ
năm 2004, nổi lên những bài nghiên cứu nghiên cứu về ảnh hưởng của sự bất cân
xứng trong dòng tiền đến sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ và những nghiên
cứu này mở ra một hướng nghiên cứu rất mới. Trong đó nổi bật là bài nghiên cứu
của Bao và cộng sự (2012), kết quả cho thấy sự bất cân xứng trong dòng tiền có ảnh
hưởng đến sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ và kết quả này vẫn đúng khi


3

các tác giả xem xét đến vấn đề hạn chế về tài chính của doanh nghiệp. Các doanh
nghiệp Việt Nam với những đặc thù của những doanh nghiệp ở một thị trường mới
nổi với nhiều tiềm năng tăng trưởng nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro thì liệu có hay

kiểm soát bên ngoài (tỷ lệ sở hữu cổ phần của cổ đông tổ chức nhỏ hơn) hay không?
1.3

Dữ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu

Dựa trên dữ liệu bảng của 602 công ty phi tài chính niêm yết trên hai sàn chứng
khoán ở thị trường Việt Nam là HSX và HNX trong giai đoạn từ năm 2005-2013,
bài nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy OLS và GMM4 kế thừa nghiên cứu
của Dichu Bao và các cộng sự (2012) tiến hành kiểm định ảnh hưởng của tính bất
cân xứng trong dòng tiền đến sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ của các
doanh nghiệp Việt Nam.
Dữ liệu các doanh nghiệp được lấy từ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính, các
thông tin được công bố chính thức, website của các doanh nghiệp, website của Sở
giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
1.4

Ý nghĩa nghiên cứu của đề tài

Về mặt học thuật, với kết quả nghiên cứu của bài nghiên cứu này tác giả mong
muốn mở rộng ra các bằng chứng thực nghiệm về ảnh hưởng của tính bất cân xứng
trong dòng tiền đến lượng tiền mặt nắm giữ đến những quốc gia ở các thị trường
mới nổi mà đặc biệt là ở Việt Nam.
Về mặt thực tế, tác giả kỳ vọng với kết quả nghiên cứu này sẽ giúp ích cho các
doanh nghiệp Việt Nam trong vấn đề quản trị tiền mặt bởi vì phần lớn các nghiên
cứu về quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp tại Việt Nam hiện nay chỉ đi
vào phân tích các yếu tố tác động đến lượng tiền mặt nắm giữ mà chưa đi sâu vào
bản chất tác động của từng yếu tố quan trọng đến lượng tiền mặt nắm giữ, trong đó
có yếu tố dòng tiền. Đề tài này sẽ giúp các doanh nghiệp có cái nhìn rõ hơn về ảnh
hưởng của dòng tiền đến lượng tiền mặt nắm giữ, từ đó tạo ra nền tảng giúp cho các
doanh nghiệp có sự điều chỉnh về chính sách quản lý tiền mặt hợp lý hơn hướng đến

trình bày những hạn chế của bài nghiên cứu.


6

CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY
2.1

Các động cơ nắm giữ tiền mặt

Quản trị tiền mặt là một trong các chiến lược tài chính quan trọng đối với bất kỳ
doanh nghiệp nào bởi lẽ tiền mặt là loại tài sản ngắn hạn có tính thanh khoản cao
nhất và là thước đo khả năng chi trả của doanh nghiệp. Ngoài việc đảm bảo khả
năng thanh toán các giao dịch trong kinh doanh, việc nắm giữ tiền mặt còn giúp
doanh nghiệp xử lý những tình huống bất ngờ. Chính vì tầm quan trọng của việc
nắm giữ tiền mặt nên vấn đề về lợi ích và động cơ của việc nắm giữ tiền mặt đã
nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu.
Năm 1936, trong tác phẩm “General theory of employment, interest and money –
Học thuyết chung về công ăn việc làm, lãi suất và tiền tệ”, J. M. Keynes đã nêu lên
3 động cơ cho việc nắm giữ tiền.
Nắm giữ tiền mặt là vì động cơ giao dịch: Tiền mặt được nắm giữ là để đáp ứng cho
nhu cầu giao dịch hàng ngày. Baumol (1952), Miller và Orr (1966) đã tìm ra được
các mô hình có thể xác định được lượng tiền mặt nắm giữ tối ưu bằng cách cân
bằng giữa chi phí chuyển đổi một tài sản tài chính không bằng tiền mặt thành tiền
mặt và lợi ích của việc sử dụng tiền mặt để thanh toán cho các giao dịch hàng ngày.
Nắm giữ tiền mặt là vì động cơ dự phòng: Keynes đã thừa nhận rằng ngoài việc nắm
giữ tiền để tiến hành các giao dịch hàng ngày, các doanh nghiệp còn nắm giữ tiền để
đáp ứng cho nhu cầu của những khoản chi tiêu phát sinh ngoài dự kiến trong tương
lai. Năm 1999, Opler và các cộng sự cũng đã khẳng định lại lần nữa động cơ dự
phòng của việc nắm giữ tiền mặt, việc nắm giữ tiền mặt sẽ giúp các doanh nghiệp


dòng tiền đến sự thay đổi trong lƣợng tiền mặt nắm giữ
Lượng tiền mặt nắm giữ của một doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng, có thể
làm ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp. Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới
đã kiểm định sự ảnh hưởng trực tiếp của việc nắm giữ tiền mặt đến giá trị doanh
nghiệp chẳng hạn như nghiên cứu của Ditmarr và Mahrt-Smith năm 2005, nghiên


8

cứu của Faulkender và Wang năm 2006, Lee và Powell năm 2010, Autukaite và
Molay năm 2011, nghiên cứu của Cristina Martinez-Sola và cộng sự năm 2013.
Năm 2005, Ditmarr và Mahrt-Smith phát hiện ra rằng vấn đề quản trị doanh nghiệp
có tác động đáng kể đối với giá trị doanh nghiệp thông qua việc ảnh hưởng đến giá
trị tiền mặt được nắm giữ của doanh nghiệp. Theo đó, giá trị thị trường của lượng
tiền mặt dư thừa sẽ mất đi một nửa giá trị khi lượng tiền mặt này được nắm giữ bởi
các công ty có năng lực quản trị kém. Các tác giả còn tìm được bằng chứng cho
thấy các công ty với cơ chế quản trị yếu kém thường dùng tiền mặt dư thừa để đầu
tư vào các dự án có tỷ suất sinh lợi thấp.
Năm 2006, Faulkender và Wang đã nghiên cứu về việc thị trường ấn định giá trị bao
nhiêu cho 1 đồng tăng thêm trong lượng tiền mặt được nắm giữ của công ty. Các tác
giả đã tìm được kết quả cho thấy các cổ đông đã định giá 1 USD tăng thêm trong
quỹ tiền mặt của doanh nghiệp chỉ có giá trị tương đương 0.75 USD. Ngoài ra, các
tác giả còn tìm được bằng chứng chứng tỏ là giá trị biên tế của tiền mặt có mối quan
hệ với cả lượng tiền mặt hiện có và đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp. Sau khi mở
rộng mô hình, các tác giả đã ước tính được giá trị biên tế của tiền mặt cho các doanh
nghiệp vừa không có tiền mặt vừa không có đòn bẩy tài chính là 1.44 USD. Các tác
giả lập luận rằng các doanh nghiệp có lượng tiền mặt dư thừa có khả năng sẽ phân
phối lượng tiền mặt dư thừa cho các cổ đông dưới hình thức cổ tức hoặc mua lại cổ
phần, tuy nhiên các hình thức này đều phải chịu thuế cho nên chỉ có một phần trong

nghiên cứu này đã cảnh tỉnh các nhà quản lý không nên xem nhẹ tầm quan trọng
của việc quản lý tiền và vốn luân chuyển. Hơn nữa, kết quả còn khuyến khích các
nhà đầu tư nên theo dõi hoạt động quản trị của công ty nhằm tìm kiếm cơ hội tối đa
hóa thu nhập từ hoạt động đầu tư của họ.
Năm 2013, Martinez – Sola và cộng sự dựa trên việc sử dụng dữ liệu bảng không
cân bằng của 472 công ty của ngành Công nghiệp Mỹ giai đoạn 2001 – 2007 để
trưng ra bằng chứng cho thấy tồn tại mối quan hệ phi tuyến giữa giá trị doanh
nghiệp và lượng tiền mặt nắm giữ. Theo đó, các doanh nghiệp sẽ điều chỉnh lượng
tiền dự trữ để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp. Khi doanh nghiệp có lượng tiền mặt
dự trữ ít, chi phí của việc nắm giữ tiền mặt sẽ ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp.


10

Từ đó, nếu doanh nghiệp nắm giữ càng nhiều tiền, giá trị doanh nghiệp sẽ càng
tăng. Tuy nhiên, sau khi mức độ tiền mặt đạt đến mức tối ưu, giá trị doanh nghiệp
sẽ giảm nếu lượng tiền mặt nắm giữ tiếp tục tăng. Ngoài ra, nghiên cứu thực nghiệm
của các tác giả cũng đã đưa ra mức nắm giữ tiền mặt tối ưu cho các công ty trong
ngành công nghiệp Mỹ là khoảng 14%.
Kết quả của những nghiên cứu này đều cho thấy rằng vấn đề quản trị tiền mặt có tác
động đối với giá trị của doanh nghiệp, mà trọng tâm là giá trị tiền mặt do doanh
nghiệp nắm giữ. Như vậy, việc nghiên cứu để tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến
lượng tiền mặt nắm giữ của doanh nghiệp là rất quan trọng. Trong phần này, các kết
quả nghiên cứu của nhiều tác giả sẽ được trình bày lại để người đọc có một cái nhìn
bao quát về vấn đề nắm giữ tiền mặt và những yếu tố tác động đến việc nắm giữ
tiền mặt của doanh nghiệp. Các kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày theo thứ tự
thời gian như sau:
Nadiri, năm 1969, là người tiên phong trong nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng
đến việc nắm giữ tiền mặt bằng cách thu thập dữ liệu từ các doanh nghiệp thuộc
lĩnh vực Sản xuất ở Mỹ trong giai đoạn 1948-1964 để ước lượng mô hình liên quan

tiền mặt nhằm đảm bảo cho nhu cầu đầu tư khi dòng tiền được tạo ra thấp hơn so
với nhu cầu đầu tư thực tế, trong khi việc huy động nguồn tài trợ bên ngoài lại rất
tốn kém.
Một đề tài khá mới mẻ khác nghiên cứu về tác động của quyền lực của ngân hàng
lên lượng tiền mặt nắm giữ của các doanh nghiệp với dữ liệu của các công ty trong
ngành Công nghiệp ở Mỹ, Đức và Nhật. Các tác giả, Pinkowitz và Williamson
(2001), đã tìm thấy bằng chứng chứng tỏ rằng các công ty Nhật có mức tiền mặt
được nắm giữ nhiều hơn các công ty ở Mỹ và Đức. Lý giải cho điều này, các tác giả
cho rằng là do mức độ độc quyền của các ngân hàng ở Nhật cao hơn, hay nói cách
khác là quyền lực của các ngân hàng ở Nhật cao hơn các ngân hàng ở Mỹ và Đức,
do đó các ngân hàng ở Nhật thường đánh giá cao các công ty nắm giữ lượng lớn
tiền mặt để dễ dàng thanh toán các khoản lãi vay cho ngân hàng và để giảm các
khoản chi phí giám sát các khoản nợ vay của ngân hàng.


12

Mikkelson và Partch (2002) đã trưng ra bằng chứng cho thấy thành quả hoạt động
của các công ty Mỹ có lượng tiền mặt được nắm giữ cao là tốt hơn các công ty khác
trong cùng ngành và có cùng quy mô nhưng lại có lượng tiền mặt được nắm giữ
thấp hơn. Kết quả này không ủng hộ quan điểm cho rằng các nhà quản lý ưa thích
một chính sách tài chính bảo thủ hơn là các cổ đông. Hơn nữa, các tác giả cũng phát
hiện được rằng các yếu tố về quyền sở hữu, hay cấu trúc của ban quản trị không giải
thích được sự khác biệt trong lượng tiền mặt được nắm giữ của các công ty. Các tác
giả cũng cho rằng những doanh nghiệp nắm giữ một lượng tiền mặt lớn thường có
một cơ hội đầu tư lớn hơn, hoặc có những khoản chi tiêu cho nghiên cứu và phát
triển nhiều hơn, hoặc là có sự gia tăng trong quy mô doanh nghiệp. Thêm vào đó,
năm 2002, Aydin và Neslihan cũng đã đưa ra những nghiên cứu về các yếu tố tác
động đến lượng tiền mặt nắm giữ của các doanh nghiệp dựa trên nghiên cứu thực
nghiệm của các doanh nghiệp tại Anh. Nghiên cứu này dựa trên quy mô mẫu 1029

các doanh nghiệp tại Nhật, Pháp, Đức, Anh trong khoảng thời gian từ 1983-2000.
Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc luật pháp của quốc gia và cơ cấu sở hữu
doanh nghiệp đóng vai trò quyết định đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh
nghiệp. Những bằng chứng tìm được chỉ ra rằng một doanh nghiệp có mức độ bảo
vệ quyền cổ đông cao hơn thì mức độ nắm giữ tiền mặt sẽ thấp hơn, ngược lại một
doanh nghiệp có mức độ bảo vệ quyền của chủ nợ cao hơn thì mức độ nắm giữ tiền
mặt sẽ cao hơn và quyền sở hữu tập trung có quan hệ nghịch biến với lượng tiền
mặt được nắm giữ. Bên cạnh đó, kết quả phân tích mô hình quản lý tiền mặt động
cũng thể hiện rằng các doanh nghiệp có xu hướng điều chỉnh lượng tiền mặt theo
một cơ cấu mục tiêu. Kết quả cho thấy tần số điều chỉnh quỹ tiền mặt tại Pháp, Đức,
Nhật là tương đồng trong khi các doanh nghiệp tại Anh lại thay đổi lượng tiền mặt
được nắm giữ của họ một cách thường xuyên hơn.
Năm 2004, Ferreira và Vilela đã xem xét các yếu tố quyết định đến việc nắm giữ
tiền mặt bằng cách sử dụng mẫu 400 doanh nghiệp ở các quốc gia trong Hiệp Hội
Kinh Tế và Tiền Tệ (EMU) trong giai đoạn 1987 đến 2000. Tương tự như phát hiện
trước đó của Opler và các cộng sự (1999) về các yếu tố quyết định đến việc nắm giữ
tiền mặt, kết quả tìm được chứng minh được rằng lượng tiền mặt nắm giữ gia tăng
cùng với sự gia tăng trong cơ hội đầu tư và dòng tiền; và lượng tiền mặt nắm giữ


14

giảm đi khi doanh nghiệp có sự gia tăng trong tính thanh khoản, tỷ lệ nợ trong cấu
trúc vốn và quy mô doanh nghiệp. Nợ ngân hàng và lượng tiền mặt nắm giữ có
tương quan âm, điều này chứng minh khi có mối quan hệ chặt chẽ với các ngân
hàng, doanh nghiệp sẽ có nhiều thuận lợi hơn khi muốn huy động thêm nguồn vốn,
điều này sẽ cho phép các doanh nghiệp nắm giữ tiền ít tiền mặt hơn. Ngoài ra, các
công ty tại các quốc gia có chính sách bảo vệ tốt cho nhà đầu tư và cơ cấu sở hữu
tập trung sẽ nắm giữ tiền mặt ít hơn, điều này chứng tỏ rằng chi phí đại diện có tác
động đến lượng tiền mặt được nắm giữ của các công ty. Ferreira và Vilela cũng

được nắm giữ cao hơn so với các công ty đã phát triển. Đối với các công ty đang
phát triển, lượng tiền mặt nắm giữ sẽ giảm khi có sự gia tăng trong các chỉ tiêu tài
chính sau đây của công ty: quy mô, mức độ thanh khoản của tài sản và nợ ngắn hạn.
Lượng tiền mặt nắm giữ của các công ty đã phát triển tăng lên cùng với quy mô
công ty, mức độ đầu tư, và thanh toán cho cổ đông dưới hình thức cổ tức hoặc mua
lại cổ phiếu; và lượng tiền mặt giảm tương ứng với tín dụng thương mại và các chi
phí cho nghiên cứu và phát triển.
Afza và Adnan (2007) tập trung vào các công ty phi tài chính ở Pakistan. Các tác
giả đã sử dụng mẫu dữ liệu từ 1998 đến 2005 để nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu
tố quy mô công ty, cơ hội tăng trưởng, dòng tiền, vốn luân chuyển ròng, đòn bẩy tài
chính, mức độ thay đổi của dòng tiền và chi trả cổ tức đến lượng tiền mặt được nắm
giữ của doanh nghiệp. Bài nghiên cứu chỉ ra rằng lượng tiền mặt nắm giữ của doanh
nghiệp sụt giảm khi doanh nghiệp có sự gia tăng trong cơ hội đầu tư, vốn luân
chuyển ròng, đòn bẩy tài chính, chi trả cổ tức, và lượng tiền mặt nắm giữ sẽ gia tăng
cùng với sự gia tăng trong quy mô công ty và dòng tiền. Năm 2007, Drobetz và
Grüninger cũng đã nghiên cứu các yếu tố tác động đến việc nắm giữ tiền mặt với
mẫu dữ liệu của 156 công ty phi tài chính Thụy Sĩ từ năm 1995 đến năm 2004.
Thông qua phân tích hồi quy tác giả tìm thấy tài sản hữu hình và quy mô công ty
đều có tác động ngược chiều đến nắm giữ tiền mặt, việc chi trả cổ tức và dòng tiền
hoạt động có tác động cùng chiều đến việc nắm giữ tiền mặt. Ngoài ra, các tác giả
cũng nhận thấy một mối tương quan cùng chiều giữa vai trò kép của CEO và lượng
tiền mặt nắm giữ, và mối quan hệ không đáng kể giữa quy mô hội đồng quản trị và
vấn đề nắm giữ tiền mặt của công ty. Điều này có nghĩa là vai trò kép của CEO dẫn


16

đến lượng tiền mặt được nắm giữ cao hơn đáng kể và quy mô hội đồng quản trị
không có tác động đến việc nắm giữ tiền mặt của các công ty.
Hardin, Highfeild, Hill và Kelly năm 2009 sử dụng mẫu gồm 1114 quan sát theo

Kinh doanh nhà hàng với triển vọng đầu tư lớn có xu hướng nắm giữ tiền mặt nhiều
hơn. Đồng thời các doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ nắm giữ các loại tài sản khác có
tính thanh khoản cao nhiều hơn là tiền mặt; các công ty với chi phí sử dụng vốn cao
hơn, và các công ty thực hiện chính sách thiên về chi trả cổ tức sẽ nắm giữ lượng
tiền mặt ít hơn. Kim và các cộng sự mô tả rằng cả hai động cơ phòng ngừa và động
cơ giao dịch đều đóng vai trò quan trọng trong việc giải thích các yếu tố quyết định
đến việc nắm giữ tiền mặt của các doanh nghiệp trong lĩnh vực Kinh doanh nhà
hàng. Bài nghiên cứu của các tác giả Rizwan và Javed (2011) được dựa trên dữ liệu
của 300 công ty Pakistan niêm yết trên sàn chứng khoán Karachi (KSE) trong giai
đoạn 1998-2007. Các tác giả đã tìm thấy bằng chứng cho rằng việc nắm giữ tiền
mặt của các công ty Pakistan tăng lên cùng với sự gia tăng trong dòng tiền và tỷ số
giá trị thị trường trên giá trị sổ sách. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đã chứng minh
rằng các tài sản có tính thanh khoản khác và đòn bẩy tài chính có tương quan âm
với lượng tiền mặt được nắm giữ của các công ty Pakistan. Năm 2011, Wenfeng
Wu, Oliver M. Rui, Chongfeng Wu cũng đã nghiên cứu về các yếu tố tác động đến
lượng tiền mặt được nắm giữ của các doanh nghiệp bao gồm tín dụng thương mại,
khả năng tiếp cận với nguồn tài trợ từ các ngân hàng và những thay đổi trong chính
sách của chính phủ đến các công ty thuộc các ngành nghề truyền thống ở Trung
Quốc. Các tác giả đã thu thập dữ liệu gồm 13229 quan sát từ 1626 công ty trong
giai đoạn 1999-2009. Kết quả hồi quy mô hình cho thấy tín dụng thương mại có tác
động nghịch chiều với lượng tiền mặt được nắm giữ. Bài nghiên cứu cũng phát hiện
ra rằng các công ty ở những khu vực có khả năng tiếp cận với các nguồn tài trợ từ
bên ngoài cao hơn có xu hướng nắm giữ ít tiền mặt hơn. Các khoản tín dụng thương
mại cũng được xem như là một khoản dự phòng lớn cho nhu vầu về tiền mặt của
các công ty.


18

Năm 2012, Gill và Shah đã mở rộng nghiên cứu của Adnan (2007). Các tác giả đã

19

trình bày các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về ảnh hưởng của tính bất cân
xứng trong dòng tiền đến sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ.
Năm 2004, Almeida, Campello và Weisbach trong bài nghiên cứu “The Cash Flow
Sensitivity of Cash”, các tác giả đã xây dựng một mô hình về nhu cầu thanh khoản
của các doanh nghiệp để thực hiện kiểm định thực nghiệm mới về những tác động
của hạn chế tài chính lên những quyết định tài chính của doanh nghiệp. Tác động
của hạn chế về tài chính được tập trung vào xu hướng nắm giữ tiền mặt của doanh
nghiệp khi dòng tiền thay đổi như thế nào. Bài nghiên cứu sử dụng mẫu dữ liệu của
những doanh nghiệp sản xuất từ năm 1971 đến năm 2000 và đã tìm thấy nhiều bằng
chứng cho thấy đối với những doanh nghiệp hạn chế tài chính luôn có sự gia tăng
trong lượng tiền mặt được nắm giữ khi dòng tiền tăng, trong khi những doanh
nghiệp không bị hạn chế tài chính không có tác động nào từ dòng tiền đến sự thay
đổi trong lượng tiền mặt được nắm giữ của các doanh nghiệp.
Phát triển hơn nữa từ những nền tảng lý thuyết và các nghiên cứu thực nghiệm về
sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ dưới tác động của dòng tiền, năm 2006,
Inder K. Khurama, Xiumin Martin và Raynolde Pereira đã công bố bài nghiên cứu
“Financial Development and the Cash Flow Sensitivity of Cash”. Bài nghiên cứu
kiểm định ảnh hưởng của dòng tiền lên sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ
dưới tác động của mức độ tăng trưởng công ty. Các tác giả đã thu thập dữ liệu của
12782 doanh nghiệp của 35 quốc gia trong giai đoạn 1994-2002. Kết quả bài nghiên
cứu cho thấy mức độ thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ khi dòng tiền thay đổi
giảm dần theo mức độ tăng trưởng của công ty, và các tác giả đã lý giải rằng mức
độ tăng trưởng của công ty có thể giúp công ty cải thiện khả năng tiếp cận với các
nguồn tài trợ bên ngoài.
Yi-Chen Lin, năm 2007, đã thu thập dữ liệu của 988 công ty tại Đài Loan để kiểm
định mối tương quan giữa sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ và dòng tiền.
Kết quả cho thấy những công ty bị hạn chế về tài chính và những công ty không bị
hạn chế về tài chính đều thể hiện mối tương quan dương giữa sự thay đổi trong

quan dương giữa sự thay đổi trong lượng tiền mặt nắm giữ với dòng tiền đối với các
doanh nghiệp bị hạn chế về tài chính. Các doanh nghiệp bị hạn chế về tài chính gia



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status