BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KHƯU HUY
TÁC ĐỘNG CỦA MỨC ĐỘ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC
ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN KHƯU HUY
TÁC ĐỘNG CỦA MỨC ĐỘ SỞ HỮU NHÀ NƯỚC
ĐẾN HÀNH VI ĐIỀU CHỈNH LỢI NHUẬN CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS BÙI THỊ MAI HOÀI
2.3.4. Lợi nhuận ................................................................................................17
2.2. Bằng chứng thực nghiệm .............................................................................17
CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP HỒI QUY ....26
3.1 Mô hình nghiên cứu ......................................................................................26
3.2. Đo lường biến và kỳ vọng về dấu ................................................................27
3.2.1. Quản trị lợi nhuận ...................................................................................27
3.2.2. Sở hữu nhà nước .....................................................................................30
3.2.3. Kiệt quệ tài chính ....................................................................................31
3.2.4. Quy mô doanh nghiệp .............................................................................31
3.2.5. Cơ hội tăng trưởng ..................................................................................32
3.2.6. Đòn bẩy ...................................................................................................33
3.2.7. Lợi nhuận ................................................................................................33
3.2.8. Thành viên hội đồng quản trị độc lập .....................................................34
3.2.9. Chất lượng kiểm toán ..............................................................................34
3.3. Phương pháp hồi quy ...................................................................................37
3.4. Dữ liệu nghiên cứu .......................................................................................38
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU..............................................................40
4.1. Thống kê mô tả và ma trận tương quan ....................................................40
4.2. Kết quả kiểm định tự tương quan và phương sai thay đổi ......................48
4.3. Thảo luận kết quả nghiên cứu.....................................................................50
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ......................................................................................58
5.1 Kết luận ..........................................................................................................58
5.2. Khuyến nghị ..................................................................................................60
5.3. Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo ..........................................62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
HNX
Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hà Nội
VIF
Hệ số phóng đại phương sai
CFO
Giám đốc tài chính
EPS
Lợi nhuận trên cổ phần
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số thứ tự
Tên Bảng Biểu
1.1
Số lượng doanh nghiệp sở hữu nhà nước tại
hai sàn giao dịch chứng khoán HOSE và HNX
TÓM TẮT
Luận văn phân tích tác động của tỷ lệ sở hữu nhà nước đến hành vi quản trị
lợi nhuận của các nhà quản lý của 536 công ty phi tài chính niêm yết ở HOSE và
HNX trong giai đoạn từ 2007 đến 2017. Bằng cách sử dụng phương pháp hồi quy
GMM để ước lượng mô hình nghiên cứu tác động của tỷ lệ sở hữu nhà nước đến
hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản lý doanh nghiệp Việt Nam, luận văn tìm
thấy rằng khi tỷ lệ sở hữu nhà nước ở doanh nghiệp càng gia tăng thì sẽ càng làm
gia tăng khả năng các nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện hành vi quản trị lợi
nhuận. Luận văn cho rằng sở hữu nhà nước càng cao có tương quan với cơ chế quản
trị doanh nghiệp yếu kém, hiệu quả hoạt động yếu kém, phân bổ nguồn lực không
hiệu quả và các hành vi phi đạo đức do các yếu tố như quan liêu, thiếu sự cạnh
tranh. Cho nên điều này sẽ làm cho các nhà quản lý của các doanh nghiệp có tỷ lệ
sở hữu nhà nước càng cao sẽ thực hiện các hành vi quản trị lợi nhuận hơn.
Ngoài ra, các yếu tố thể hiện đặc điểm mà luận văn đưa vào mô hình nghiên
cứu nhằm giải thích hành vi quản trị lợi nhuận cũng có tác động đáng kể. Cụ thể,
các doanh nghiệp sử dụng nhiều nợ vay trong cấu trúc vốn, có nhiều lợi nhuận, có
nhiều cơ hội tăng trưởng, được kiểm toán bởi công ty kiểm toán big4 và có tỷ lệ
thành viên HĐQT độc lập càng cao thì các nhà quản lý của các doanh nghiệp này sẽ
có xu hướng thực hiện các hành vi quản trị lợi nhuận. Ngược lại, các doanh nghiệp
đối mặt với tình trạng kiệt quệ tài chính, và quy mô càng lớn thì các nhà quản lý của
các doanh nghiệp này sẽ hạn chế thực hiện hành vi quản trị lợi nhuận.
Từ khóa: Quản trị lợi nhuận, sở hữu nhà nước, đặc điểm công ty, GMM
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI
1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản lý đã
hơn 50%) đang có khuynh hướng suy giảm đáng kể trong những năm 2005 – 2008
(chi tiết trong bảng 1.1). Điều này cho thấy rằng cấu trúc sở hữu của các doanh
nghiệp niêm yết, ở đây là tỷ lệ sở hữu nhà nước, đang có nhiều sự thay đổi đáng kể.
Mặt khác,các bằng chứng thực nghiệm cho rằng cấu trúc sở hữu là yếu tố có tầm
quan trọng đối với quá trình hoạt động của một công ty cũng như có ảnh hưởng
đáng kể đến hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản lýcủa công ty do làm thay
đổi quyền quản lý (managerial discretion), vấn đề đại diện cũng như cải thiện thông
tin tài chính của doanh nghiệp (Klein và các cộng sự, 2002; Kent và các cộng sự,
2010; Ali và Zhang, 2015; Agrawal và Cooper, 2016).
Bảng 0.1. Số lượng doanh nghiệp sở hữu nhà nước tại HOSE và HNX
Năm
Sàn giao dịch
Số lượng công ty
Sở hữu nhà nước
2005
HNX
68
35
2005
HOSE
HOSE
47
22
2008
HNX
53
19
2008
HOSE
17
3
406
164
TỔNG
Nguồn: FiinPro (2018)
4
đoạn 2007– 2017 hay không? Nếu có thì tác động này là cùng chiều (+) hay ngược
chiều (-) ?
1.4 Phạm vi thu thập dữ liệu và đối tượng nghiên cứu
Phạm vi thu thập dữ liệucủa luận văn bao gồm 536 công ty phi tài chính
niêm yết trên hai sàn giao dịch chứng khoán lớn ở Việt Nam (bao gồm HOSE và
HNX) trong giai đoạn 2007 – 2017.
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn bao gồm (1) hành vi quản trị lợi
nhuận được đo lường thông qua các mô hình đo lường của Jones (1991), Dechow
và các cộng sự (1995), Kothari và các cộng sự (2005) và Roychowdhury (2006) và
(2) tỷ lệ sở hữu nhà nước. Bên cạnh đó, luận văn thực hiện nghiên cứu các đối
tượng đại diện cho đặc điểm doanh nghiệp như quy mô của công ty, tỷ lệ đòn bẩy,
lợi nhuận, cơ hội tăng trưởng, chất lượng kiểm toán, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập
và vấn đề kiệt quệ tài chính.
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết câu hỏi nghiên cứu “Liệu tỷ lệ sở hữu nhà nước có ảnh hưởng
đáng kể đến hành vi quản trị lợi nhuận hay không?”, luận văn áp dụng mô hình
nghiên cứu của Wang và Yung (2011), Wang và Campbell (2012), Campa và
Camacho – Minano (2015) và Saleem Salem Alzoubi (2016). Cụ thể phương trình
nghiên cứu được trình bày như sau:
Trong đó,
là hành vi quản trị lợi nhuậnđược đo lường dựa vào các phương pháp
tiếp cận của Jones (1991), Dechow và các cộng sự (1995), Kothari và các cộng sự
(2005) và Roychowdhury (2006);
5
6
Luận văn trình bày khái niệm về quản trị lợi nhuận và các đo lường hành vi
quản trị lợi nhuận. Đồng thời, lý thuyết đại diện và bất cân xứng thông tin được
luận văn đề cập khi giải thích hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản lý. Cuối
cùng, luận văn tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa sở hữu nhà
nước và hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản lý cũng như các yếu tố quyết
định hành vi quản trị lợi nhuận.
Chương 3. Mô hình nghiên cứu và phương pháp hồi quy
Trong chương 03, luận văn thể hiện dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu,
đo lường và các kỳ vọng về dấu của các biến cũng như trình bày phương pháp ước
lượng mà luận văn sẽ sử dụng để ước lượng mô hình nghiên cứu và các kiểm định
cần thiết.
Chương 4. Kết quả nghiên cứu
Chương này thể hiện thống kê mô tả và ma trận tương quan để người đọc
khái quát về dữ liệu nghiên cứu của luận văn. Đồng thời luận văn trình bày các kết
quả kiểm định tự tương quan và phương sai thay đổi. Cuối cùng, kết quả hồi quy
được luận văn thể hiện và thảo luận các kết quả đạt được.
Chương 5. Kết luận
Cuối cùng, luận văn kết luận các phát hiện đạt được từ đó đưa ra một số
khuyến nghị dành cho các nhà quản lý cũng như các nhà hoạch định chính sách. Sau
đó, luận văn đề cập đến các hạn chế mà đề tài vướng phải và hướng nghiên cứu tiếp
theo.
7
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM
2.1 Hành vi quản trị lợi nhuận
trường hợp này các nhà quản lý có khả năng thực hiện các hành vi quản trị lợi
nhuận. Khi đó vấn đề đại diện xảy ra giữa các người đại diện (nhà quản lý) và các
người sở hữu (các cổ đông) sẽ có khuynh hướng suy giảm.
Mặc dù các hợp đồng ràng buộc như vậy là cần thiết để giảm thiểu chi phí
đại diện và có thể đo lường hiệu suất làm việc của các nhà quản lý, nhưng các hợp
đồng này có thể gián tiếp khuyến khích các nhà quản lý công ty cố tình thao túng
thu nhập của công ty để đáp ứng mục tiêu thu nhập nhất định hoặc có thể gây ra các
lệch lạc cho các bên liên quan (Dye, 1988; Burgstahler và Dichev, 1997; Healy và
Wahlen, 1999; Trueman và Titman, 1998).
Mặt khác, Schipper và các cộng sự (1980) đã định nghĩa quản trị lợi nhuận
như là một sự can thiệp có mục đích trong quá trình hoàn thành báo cáo tài chính
cho các đối tượng bên ngoài nhằm mục đích đạt được một số lợi ích cá nhân. Theo
cách định nghĩa này, quản trị lợi nhuận có thể xảy ra trong bất kỳ phần nào của quá
trình tiết lộ thông tin ra bên ngoài và có thể thể hiện ở một số dạng khác nhau. Một
phần mở rộng nhỏ của định nghĩa này là bao gồm quản trị lợi nhuận “thực” được
thực hiện bằng cách điều chỉnh quyết định đầu tư và quyết định tài trợ để thay đổi
báo cáo tài chính hoặc một số báo cáo phụ có liên quan.
Tương tự như vậy, Healy và Wahlen (1999) đã khám pháquản trị lợi nhuận
bằng việc cho rằng quản trị lợi nhuận xảy ra khi người quản lý sử dụng các phán
quyết (judgment) trong quá trình lập báo cáo tài chính và cơ cấu các giao dịch để
thay đổi báo cáo tài chính nhằm mục đích đánh lừa các đối tượng bên ngoài có liên
quan với công ty ở góc độ hiệu quả hoạt động của công ty.
Nhìn chung, từ các định nghĩa đã đề cập, có thể thấy rằng quản trị lợi nhuận
có liên quan đến việc thực thi kế toán theo các tiêu chuẩn và quy tắc kế toán và về
bản chất thì quản trị lợi nhuận có thể lệch khỏi ý nghĩa của các quy tắc này. Các
định nghĩa này đã nêu bật lên một số động cơ quan trọng để người quản lý tiến hành
9
điều chỉnh)
Bước 3: Xác định hành vi quản trị lợi nhuận
Phương pháp đo lường củaDechow và các cộng sự (1995)
Dựa trên mô hình của Jones (1991), Dechow và các cộng sự (1995) cải tiến
mô hình Jones (1991) như sau:
Trong đó,
là sự thay đổi trong tài khoản nợ phải thu.
Sau khi xác định biến dồn tích bình thường NDA, hành vi quản trị lợi nhuận
được xác định như sau:
Phương pháp đo lường củaKothari và các cộng sự (2005)
Các tài liệu trước đây tìm ra khuyến điểm của các mô hình dồn tích có điều
chỉnh (discretionary accrual models) khi được sử dụng với các doanh nghiệ có kết
quả hoạt động kinh doanh tương đối tốt. Cho nên, các nghiên cứu sau này đã đưa ra
mô hình mới đo lường mức độ dồn tích có điều chỉnh có liên kết với hiệu quả hoạt
động kinh doanh của công ty (performance-matched discretionary accrual measure).
Dựa vào mô hình Jones (1991) và mô hình Dechow và các cộng sự (1995),
Kothari và các cộng sự (2005) đã phát triển mô hình sau:
là giá trị sổ sách của tổng tài sản của công ty i trong năm t-1
là doanh sốthuần của công tyi trong năm t
là doanh sốthuần của công tyI trong năm t trừ đi doanh sốthuần trong
năm t-1
là doanh sốthuần của công tyI trong năm t – 1
là tổng giá vốn hàng bán của công ty i trong năm t
12
là tổngchi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí sản xuất chung và chi
phí bán hàng của công ty i trong năm t.
Sau khi hồi quy ba mô hình RM_CFO, RM_PROD, RM_DISEXP theo hồi
Tuy nhiên, nếu cổ phần được nắm giữ bởi các nhà quản lý của công ty, mục
tiêu của các nhà quản lý và cổ đông sẽ được điều chỉnh và khả năng quản lý thu
nhập sẽ ít xảy ra hơn bởi vì lợi ích của người quản lý và cổ đông có phần như nhau.
Teshima và Shuto (2008) cho rằng khi các nhà quản lý nắm giữ cổ phần của công ty
thì tồn tại hiệu ứng liên kết động cơ(incentive alignment effect) và hiệu ứng liên kết
động cơ này được kỳ vọng sẽ có tác động nhiều hơn khi mức độ sở hữu của các nhà
quản lý tăng lên. Lập luận của các tác giả này cho thấy rằng hiệu quả hoạt động của
doanh nghiệp được cải thiện và hành vi quản lý cơ hội sẽ suy giảm khi quyền sở
hữu quản lý tăng lên trong công ty. Nhưng, khi mức độ sở hữu của các nhà quản lý
chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu sở hữu của công ty thì sẽ làm gia tăng khả năng
quản lý thu nhập của các nhà quản lý ở các công ty này bởi vì mức độ sở hữu càng
lớn càng cung cấp cho các nhà quản lý sức mạnh chi phối doanh nghiệp cao hơn và
cho nên sẽ gây ra hành vi quản lý cơ hội (Morck và các cộng sự, 1988).
2.2.2 Bất cân xứng thông tin
Vấn đề bất cân xứng thông tin được coi là một yếu tố giải thích cho khả năng
quản lý thu nhập của các nhà quản lý của công ty. Vấn đề bất cân xứng thông tin
giúp các nhà quản lý của công ty có thể quản lý thu nhập vì các nhà đầu tư sẽ gặp
nhiều khó khăn để xác định được mức độ thao tác lợi nhuận ở các doanh nghiệp
thiếu thông tin có sẵn (Liu và các cộng sự, 2010). Hơn thế nữa, khi vấn đề bất cân
xứng thông tin tương đối cao, các bên liên quan của công ty (chẳng hạn như ngân
hàng…) có thể thiếu nguồn lực, động cơ hoặc khả năng truy cập thông tin liên quan
để cho phép các bên liên quan có thể theo dõi các hành động của các nhà quản lý,
và cho nên sẽ dẫn đến khả năng quản lý thu nhập của các nhà quản lý của các công
ty này (Richardson, 2000).
Bên cạnh đó, Jiraporn và các cộng sự (2008) cho rằng mức độ bất cân xứng
thông tin càng cao sẽ có thể làm cho các cổ đông hiện hữu của công ty gặp khó
khăn hơn trong việc theo dõi hành vi của các nhà quản lý, điều này giúp các nhà
14
15
tạp. Phù hợp với quan điểm này, Moses (1987) cho rằng các công ty có quy mô lớn
điều chỉnh lợi nhuận nhiều hơn so với các công ty có quy mô nhỏ.
2.3.2 Cơ hội tăng trưởng
Các nghiên cứu trước đây tìm thấy bằng chứng thực nghiệm cho rằng các
nhà quản lý của công ty sẽ thực hiện các hành vi quản trị lợi nhuận để tránh xu
hướng tăng trưởng tiêu cực (Bartov, 1993; Wild, 1996). Tương tự thế, Nagar (2002)
cũng tìm thấy kết quả cho thấy rằng các nhà quản trị tránh xu hướng tiêu cực bởi vì
các nhà quản trị sẽ đạt được lợi ích nhất định khi công ty đạt được mục tiêu đề ra.
Tuy nhiên, Abdul Rahman và Haneem Mohamed (2006) và Bowen và các cộng sự
(2008) đề nghị một hướng khác. Kết quả của các nghiên cứu này cho thấy rằng cơ
hội tăng trưởng thể hiện mối tương quan ngược chiều với biến kế toán dồn tích có
thể điều chỉnh bởi các nhà quản trị (discretionary accruals). Hơn thế nữa, Gunny
(2010) tìm thấy rằng các công ty có tốc độ tăng trưởng cao thì ít có hành vi gian lận
báo cáo tài chính thông qua việc quản trịlợi nhuận đến từ các hoạt động thực.
2.3.3 Đòn bẩy
Bartov (1993) và DeFond và Park (1994) tìm thấy mối quan hệ cùng chiều
giữa mức độ đòn bẩy của các công ty và hành vi quản trị lợi nhuận. Các tác giả cho
rằng các công ty đối mặt với tình trạng kiệt quệ tài chính hoặc đang có gánh nặng
lãi vay càng cao thì sẽ có động cơ để tiến hành các hành vi quản trị lợi nhuận của
mình. Ngược lại, Balsam và các cộng sự (2005) cho rằng có mối tương quan ngược
chiều mức độ đòn bẩy và hành vi quản trị lợi nhuận của các công ty. Do đó, ảnh
hưởng của đòn bẩy đến hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản lý của các công
ty vẫn chưa rõ ràng.
2.3.4 Lợi nhuận
Lợi nhuận của công ty và hành vi quản trị lợi nhuận được cho rằng có mối
quan hệ đáng kể với nhau. Cụ thể, Kirschenheiter và Melumad (2002) đã cho rằng
vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp ở Trung Quốc với hành vi quản trị lợi
17
nhuận của các doanh nghiệp được đo lường bởi mô hình đo lường của Dechow và
Dichev (2002). Bằng cách sử dụng số liệu được thu thập từ các báo cáo tài chính
của 557 doanh nghiệp niêm yết ở Trung Quốc từ năm 1998 đến 2006, kết hợp với
việc sử dụng các biến số khác như quy mô doanh nghiệp, cơ hội tăng trưởng, đòn
bẩy, lợi nhuận như là các biến độc lập có ảnh hưởng đến hành vi quản trị lợi nhuận
của các doanh nghiệp ở Trung Quốc, nghiên cứu của các tác giả tìm thấy rằng tỷ lệ
sở hữu nhà nước làm giảm hành vi quản trị lợi nhuận, nói cách khác tỷ lệ sở hữu
nhà nước càng cao có xu hướng giúp các doanh nghiệp ngăn cản hành vi quản trị lợi
nhuận của các nhà quản trị. Đồng thời, quy mô doanh nghiệp càng lớn cũng sẽ làm
giảm hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản trị. Ngược lại, các biến số khác
như cơ hội tăng trưởng càng nhiều, đòn bẩy càng cao và lợi nhuận càng cao sẽ càng
thúc đẩy hành vi quản trị lợi nhuận của các nhà quản trị.
Naz và các cộng sự (2011) đã nghiên cứu mức độ tác động của quy mô
doanh nghiệp và cấu trúc vốn đến hành vi quản trị lợi nhuận của 75 doanh nghiệp ở
Pakistan trong giai đoạn 2006 – 2010. Bằng cách sử dụng tổng tài sản làm đại diện
cho quy mô doanh nghiệp, tỷ lệ đòn bẩy tài chính để đo lường cấu trúc vốn doanh
nghiệp và biến kế toán dồn tích chính làm đại diện cho hành vi quản trị lợi nhuận.
Qua đó, bài nghiên cứu của các tác giả đã sử dụng mô hình của Jones (1991) nhằm
mục đích đo lường hành vi quản trị lợi nhuậncủa các doanh nghiệp và kết quả chỉ ra
rằng cấu trúc vốn có tương quan âm với hành vi quản trị lợi nhuận. Cho nên các tác
giả cho rằng các doanh nghiệp có đòn bẩy cao thì các chủ nợ sẽ đóng vai trò như cơ
quan giám sát quản lý hành vi quản trị lợi nhuận.
Wang và Campbell (2012) đã sử dụng số liệu của 1329 doanh nghiệp niêm
yết ở Trung Quốc từ năm 1998 – 2009 để nghiên cứu tác động của sở hữu nhà nước
và hội đồng quản trị đến hành vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp. Qua đó
của công ty kiểm toán đóng vai trò như các biến độc lập có ảnh hưởng đến hành vi
quản trị lợi nhuận. Đồng thời, tác giả đã áp dụng mô hình của Dechow (1995) để đo
lường hành vi quản trị lợi nhuận. Qua đó, nghiên cứu của tác giả tìm thấy rằng các
biến về hội đồng quản trị có tương quan dương với hành vi quản trị lợi nhuận, chất
lượng của công ty kiểm toán và quy mô doanh nghiệp có tương quan âm với hành
vi quản trị lợi nhuận của các doanh nghiệp.