Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007 - Pdf 66

Mục lục
Phần I: Mở đầu
1. Lý do chọn đề tài...........................................................................................3
2. Xác định vấn đề nghiên cứu...........................................................................3
3. Mục tiêu của đề tài nghiên cứu......................................................................4
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.....................................................................4
5. Phương pháp nghiên cứu...............................................................................4
Phần II: Nội dung
1. Khái quát chung về khủng hoảng kinh tế.......................................................5
1.1 Định nghĩa chung và một số khái niệm cơ bản...........................................5
1.1.1 Khủng hoảng kinh tế............................................................................5
1.1.2 Khủng hoàng tài chính..........................................................................6
1.1.3 Khủng hoảng tiền tệ - tín dụng.............................................................7
1.1.4 Quỹ phòng hộ.......................................................................................7
1.2 Nguyên nhân dẫn đến khủng hoảng kinh tế...............................................7
1.2.1 Nguyên nhân khách quan......................................................................7
1.2.2 Nguyên nhân chủ quan.........................................................................8
2. Cuộc khủng hoảng kinh tế tại một số quốc gia giai đoạn 2007-2010..............9
2.1 Mỹ.............................................................................................................9
2.1.1 Nguyên nhân........................................................................................9
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 1
2.1.2 Diễn biến và tác động của khủng hoảng.............................................12
2.1.3 Giải pháp của chính phủ Mỹ...............................................................16
2.2 Liên minh châu Âu – EU.........................................................................18
2.2.1 Nguyên nhân......................................................................................18
2.2.2 Diễn biến và tác động của khủng hoảng.............................................21
2.2.3 Giải pháp của EU...............................................................................29
2.3 Trung Quốc.............................................................................................31
2.3.1 Nguyên nhân......................................................................................31
2.3.2 Diễn biên và tác động của khủng hoảng..............................................32
2.3.3 Giải pháp của chính phủ Trung Quốc.................................................33

Trước tiên để có thể nghiên cứu được vấn đề này cần phải tìm hiểu về các khái
niệm cơ bản nhất của khủng hoảng kinh tế. Nguyên nhân vì sao lại xảy ra các cuộc
khủng hoảng kinh tế, tác động của chúng ra sao. Và trên hết là các cách giải quyết
các vấn đề khủng hoảng của một số quốc gia và liên minh khu vực trên thế giới bao
gồm: Mỹ, Trung Quốc, Liên minh Châu Âu và Việt Nam. Trên cơ sở đó, hiểu ra
được vì sao khủng hoảng lại gây ra được các tác hại đó và vì sao nó ảnh hưởng rất
nghiêm trọng đến quốc gia này trong khi lại tương đối nhẹ nhàng ở quốc gia khác.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 3
3. Mục tiêu đề tài nghiên cứu
Cung cấp một cái nhìn khách quan cho các nhà nước, tổ chức, doanh nghiệp cũng
như các cá nhân trước cơn khủng hoảng, để họ có các biện pháp kịp thời.
Tìm ra con đường để tránh được các tác hại, rủi ro mà khủng hoảng kinh tế gây ra,
đồng thời nắm bắt được cơ hội kịp thời để phát triển.
Đánh giá được các chính sách giải quyết của các nhà nước, chính phủ, từ đó rút ra
được những chính sách hay, đáng được học hỏi và phát huy.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007-2009.
Về phạm vi nghiên cứu là tại Mỹ, Trung Quốc, Liên minh Châu Âu và Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Tham khảo các nguồn tài liệu sách báo, internet và các đề tài nghiên cứu khác có
liên quan về cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2007-2009.
Đưa ra nhận xét và đánh giá cá nhân về các phương pháp giải quyết của từng chính
phủ.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 4
Phần II: Nội dung
1. Khái quát chung về khủng hoảng kinh tế
1.1 Định nghĩa chung và một số khái niệm cơ bản
1.1.1 Khủng hoảng kinh tế
Một nước nào đó trải qua càng nhiều chấn động kinh tế, càng nhiều điểm yếu được
loại bỏ, và khi kinh tế thoát khỏi khủng hoảng, càng khỏe mạnh hơn trước...

kinh tế trong việc đáp ứng đầy đủ nghĩa vụ, bổn phận tài chính của mình. Dấu hiệu
của khủng hoảng tài chính là:
Các ngân hàng thương mại không hoàn trả được các khoản tiền gửi của người gửi
đến.
Các khách hàng vay vốn, gồm cả khách hàng được xếp loại A cũng không thể hoàn
trả đầy đủ các khoản vay cho ngân hàng.
Chính phủ từ bỏ chế độ tỷ giá hối đoái cố định.
Hay : Khủng hoảng tài chính là trạng thái chấn động của hệ thống tài chính, từ
hệ thống lưu thông tiền tệ, tín dụng, đến tài chính nhà nước, biểu hiện chủ yếu ở sự
mất ổn định, mất cân đối giữa thu và chi, thiếu hụt nghiêm trọng và kéo dài các
nguồn vốn ngân sách nhà nước và tín dụng của ngân hàng, kéo theo lạm phát, đồng
tiền mất giá nghiêm trọng. KHTC bắt nguồn từ sự thiếu hụt ngân sách do đề phòng
và chuẩn bị chiến tranh, tăng cường lực lượng quân sự, hoặc do chi tiêu vào phúc
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 6
lợi xã hội quá sức chịu đựng của nền kinh tế, hoặc đầu tư nhiều mà không có hiệu
quả, tất cả đều có thể dẫn đến KHTC. Khủng hoảng thị trường tài chính xảy ra khi
những món nợ đến hạn không thu hồi được, do việc cấp phát vốn, cấp tín dụng
không kiểm tra, kiểm soát, không xem xét khả năng hoàn vốn của những đơn vị vay
hoặc, do giá chứng khoán cổ phần đột nhiên giảm sút.
1.1.3 Khủng hoảng tiền tệ - tín dụng
Là sự chấn động, rối loạn của hệ thống lưu thông tiền tệ và tín dụng, nảy sinh do
khủng hoảng chu kì của sản xuất (khủng hoảng kinh tế) hoặc do các sự kiện đặc biệt
thất thường về kinh tế và chính trị. Trên thị trường tiền tệ, KHTT-TD biểu hiện
dưới dạng thiếu tiền cho vay và tăng cao lãi suất. Trong thời kì khủng hoảng tiền tệ,
trong lĩnh vực tín dụng và thương mại xảy ra việc thủ tiêu có tính chất cưỡng bức
một phần số dư nợ lẫn nhau của các nhà kinh doanh về kì phiếu và giảm khối lượng
tín dụng thương mại. Trong lĩnh vực tín dụng quốc tế, KHTT - TD biểu hiện: sự đứt
quãng tức thời các mối quan hệ tín dụng quốc tế và sự phá sản của những người vay
tiền nước ngoài, sự ách tắc của người xuất khẩu do các ngân hàng không cho họ vay
thêm những khoản tín dụng mới; sự thiếu hụt lớn của các bảng cân đối thanh toán,

thường xuyên bị phá hoại" (V. I. Lênin). Hệ thống kinh tế thế giới tư bản chủ nghĩa
đã kinh qua những cuộc KHKTSXT những năm 1825, 1836, 1847, 1857, 1866,
1873, 1882, 1890. Bước vào thế kỉ 20, thời kì đế quốc chủ nghĩa, các cuộc khủng
hoảng xảy ra vào những năm 1900, 1907, 1914 - 21, 1929 - 33, 1937 - 38, 1948 -
49,1953 - 54, 1957 - 58, 1960 - 61, 1969 - 71, 1974 - 75, 1980 - 82. Khủng hoảng
kinh tế gây ra tác động tiêu cực: phá hoại lực lượng sản xuất, làm phá sản một loạt
xí nghiệp, một bộ phận người lao động bị thất nghiệp, và khôi phục tạm thời những
mất cân đối của tái sản xuất.
Nguyên nhân của khủng hoảng kinh tế 2007-2009 bắt đầu từ sự sụp đổ tài chính
phố Wall với chính sách tín dụng dưới chuẩn, hay còn gọi là tín dụng thế chấp bất
động sản rủi ro cao, Cục Dự Trử Liên bang Mỹ thực thi chính sách tiền tệ nới lỏng
làm cho Đô la rẻ so với các đơn vị tiền tệ khác trên thế giới. Kết quả là thị trường
tài chính và thị trường bất động sản sôi lên và nổ tung. Trong đó người ta nêu lên
nguyên nhân chính là do sự thiếu kiểm soát chặt chẽ của nhà nước nên mới có sự nổ
tung của thị trường tài chính và thị trường bất động sản.
1.2.2 Nguyên nhân chủ quan
Chính sách kinh tế vĩ mô, điều tiết và giám sát lĩnh vực tài chính, kỹ thuật tài chính
và các thiết chế tài chính tư nhân lớn. Trong đó, hai nguyên nhân lớn nhất là sự thất
bại của chính sách kinh tế vĩ mô và trong điều tiết, giám sát tài chính.
Cuộc khủng hoảng kinh tế là bắt nguồn từ lòng tham của con người mà gây ra. Và
lòng tham đó đã được các nhà tài phiệt tận dụng một cách triệt để, để vơ vét và làm
giàu cho tập đoàn của mình. Họ chủ động kích cầu lòng tham của thế giới còn lại
bằng giấc mơ ảo từ tín phiếu, từ cổ đông, từ bất động sản, etc… Họ nâng giá bằng
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 8
những đợt kích giá trên thị trường chứng khoán. Họ cho vay thả ga những đồng vốn
kết sù họ có. Đến khi chiếc bong bóng họ thổi đã đến đỉnh điểm, họ bắt đầu châm
kim bằng những đợt thắt chặt hầu bao cho vay và nâng giá lãi suất.
2. Cuộc khủng hoảng kinh tế tại một số quốc gia giai đoạn 2007-2010
2.1 Mỹ
2.1.1 Nguyên nhân

Chứng khoán hóa và việc ra đời các sản phẩm của quá trình này như chứng khoán
đảm bảo bằng tài sản thế chấp (MBS), giấy nợ đảm bảo bằng tài sản (CDO) và các
loại tương tự là một phát minh lớn về công cụ tài chính. Việc tồn tại 4 chủ thể kinh
tế trong chứng khoán hóa ( thay vì 2 như giao dịch tín dụng truyền thống); sự xuất
hiện của bảo hiểm cho các sản phẩm chứng khoán hóa như hợp đồng hoán đổi tổn
thất tín dụng (CDS);thêm vào đó là sự ra đời của các thể chế như các thể chế mục
đích đặc biệt (SPV) và những công cụ đầu tư kết cấu (SIV) để mua bán MBS và
CDO nên đã làm tồn tại những rủi ro hệ thống mà mo hình giám sát tài chính của
Mỹ trước khủng hoảng không đủ năng lực để giám sát.
Những rủi ro này tồn tại, và chỉ cần một sự cố xảy ra đối với thị trường, nó sẽ gây
mất lòng tin nghiêm trong ở các bên liên quan. Cơ cấu liên ngân hàng dễ dàng làm
cho sự cố lan ra toàn hệ thống, một ngân hàng phá sản sẽ kéo các ngân hàng khác
chìm theo. Một khi đã mất lòng tin, người gửi tiền sẽ đua nhau đi rút tiền, làm cho
tình hình nghiêm trọng và diễn ra nhanh chóng hơn.
Bong bóng thị trường nhà ở
Sau khi bong bóng Dot-com vỡ vào năm 2001 và suy thoái kinh tế hiện rõ sau sự
kiện 11 tháng 9, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ đã có những biện pháp tiền tệ để
cứu nền kinh tế nước này khỏi suy thoái, đó là hạ lãi suất cho vay qua đêm liên
ngân hàng. Chỉ trong thời gian ngắn từ tháng 5 năm 2001 đến tháng 12 năm 2002,
lãi suất liên ngân hàng giảm 11 đợt từ 6,5% xuống còn 1,75%. Tín dụng thứ cấp
cũng giảm lãi suất theo. Điều này kích thích sự phát triển của khu vực bất động sản
và ngành xây dựng làm động lực cho tăng trưởng kinh tế. Trong môi trường tín
dụng dễ dãi, những tổ chức tài chính đã có xu hướng cho vay mạo hiểm kể cả cho
những người nhập cư bất hợp pháp vay. Hệ quả là vay và đi vay ồ ạt nhằm mục
đích đầu cơ dẫn tới hình thành bong bóng nhà ở. Năm 2005, có tới 28% số nhà
được mua là để nhằm mục đích đầu cơ và 12% mua chỉ để không. Năm này, bong
bóng nhà ở này phát triển đến mức cực đại và vỡ. Từ quý IV năm 2005 đến quý I
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 10
năm 2006, giá trị trung vị của giá nhà giảm 3,3%. Thời điểm đó, tổng giá trị lũy tích
các khoản tín dụng nhà ở thứ cấp lên đến 600 tỷ dollar.

Trong khi hầu hết các quốc gia trên thế giới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua
đầu tư và đẩy mạnh xuất khẩu thì nước Mỹ đã chọn cho mình một con đường riêng
để duy trì đà tăng trưởng kinh tế đó là khuyến khích và đẩy mạnh tiêu dùng nội địa.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 11
Chiến lược này trong một thời gian đã tỏ ra rất hiệu quả khi lòng tin của người tiêu
dùng vào triển vọng của nền kinh tế đang ở mức cao nhưng nó đã tạo nên một lỗ
hổng to lớn trong nền kinh tế đó chính là làm cho nền kinh tế trở nên mất cân bằng.
Tiêu dùng của người dân Mỹ đã dần dần trở nên quá mức bởi tư tưởng lạc quan thái
và được khuyến khích bởi sự dễ dãi của các tổ chức tín dụng trong cho vay tiêu
dùng.
Chính điều đó đã tạo khoản thâm hụt thương mại cực lớn và có dấu hiệu ngày càng
tăng, đồng thời hệ thống kinh tế trở nên dễ bị tổn thương hơn bao giờ hết bởi các
mối quan hệ vay nợ dễ dãi và chồng chéo.
Đồng USD mất giá, lòng tin của công chúng vào triển vọng kinh tế xấu đi lập tức sẽ
dẫn tới người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu và nước Mỹ mất đi động lực chính của
mình cho tăng trưởng và chìm vào suy thoái toàn diện. Các tổ chức tín dụng phải
gánh chịu hậu quả đầu tiên bởi các khoản cho vay dễ dãi của họ không có khả năng
thu hồi. Các khoản vay này lại được chứng khoán hóa và bán cho giới đầu tư khiến
cho tình hình càng trở nên tồi tệ hơn khi giới đầu tư bị thiệt hại nặng nề. Đến lượt
mình giới đầu tư lại bán tháo các khoản đầu tư đang nắm trong tay khiến chúng rớt
giá thảm hại gây thiệt hại nặng cho các ngân hàng đầu tư. Các ngân hàng đầu tư sụp
đổ khiến các khoản ủy thác đầu tư của công chúng bốc hơi và đẩy hàng trăm ngàn
người vào cảnh khánh kiệt. Bên cạnh đó các tổ chức kinh tế lớn phá sản sẽ khiến
hàng triệu người khác lâm vào cảnh mất việc và đến lượt họ lại cắt giảm chi tiêu tối
đa hoặc không thanh toán được các khoản nợ của mình. Có thể nói nước Mỹ đã rơi
vào một vòng xoáy không có lối thoát do nó tự gây ra cho mình bởi tính tự mãn và
sự kiêu ngạo của các nhà hoạnh định chính sách.
2.1.2 Diễn biến và tác động của khủng hoảng
2.1.2.1 Diễn biến
Tháng 6 /2007: Hai quỹ phòng hộ của Bear Stearns - ngân hàng đầu tư lớn thứ 5 của

trong 10 nạn nhân lớn nhất của cuộc khủng hoảng tín dụng toàn cầu.
Ngày 7/9, chỉ vài ngày trước khi Lehman Brothers phá sản, chính phủ Mỹ cũng bị
buộc phải tiếp quản Fannie Mae và Freddie Mac, hai công ty sở hữu và bảo lãnh
trên 5000 tỉ đô la bất động sản, tương đương gần 50% giá trị thị trường bất động
sản Mỹ, sau những báo động về tình trạng cạn kiệt vốn của hai công ty này.
Thứ hai ngày 15/9/2008, đây là ngày tồi tệ nhất tại Phố Wall kể từ khi thị trường
này mở cửa trở lại sau vụ khủng bố 2 toà tháp đôi tại Mỹ vào ngày 11/9/2001. Sau
khi những nỗ lực huy động vốn bị thất bại do Chính phủ Mỹ từ chối bảo lãnh,
Lehman Brothers, ngân hàng đầu tư hàng đầu trên thế giới với 158 năm lịch sử và
trên 26000 nhân viên, tuyên bố phá sản. Tổng số tiền nợ của Lehman Brothers lên
tới 768 tỉ đô la (bao gồm 613 tỉ đô la nợ ngân hàng và 155 tỉ đô la nợ trái phiếu).
Giá trị tài sản xác định trên giấy tờ là 639 tỉ đô la, bao gồm nhiều tài sản mà giá trị
thực tế có thể thấp hơn nhiều giá trị sổ sách. Cho đến cuối năm 2007, doanh thu của
công ty còn là 59 tỉ đô la với 4,2 tỉ lãi ròng. Sự phá sản của Lehman Brothers và
những sự kiện diễn ra trước đó đánh dấu sự leo thang của một cuộc khủng hoảng tài
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 13
chính mà theo đánh giá của nhiều chuyên gia là tồi tệ nhất kể từ cuộc Đại Suy Thoái
kinh tế vào những năm 1930 của thế kỉ trước.
Ngày 16/9/2008, Cục Dữ Trữ Liên Bang và Bộ Ngân Khố Mỹ quyết định đổ 85 tỉ
đô la vào cứu tập đoàn AIG. Quyết định của chính phủ Mỹ không ngoài mục đích
ngăn chặn sự đổ vỡ dây chuyền mà theo nhiều chuyên gia sẽ không thể cứu vãn
được nếu để AIG phá sản.
17/9/2008: Cổ phiếu của Goldman Sachs và Morgan Stanley giảm mạnh; Tập đoàn
Lloyds TSB của Anh mua lại đối thủ HBOS; Uỷ ban Chứng khoán Mỹ kiềm chế
tình trạng bán khống.
19/9/2008: Các thị trường chứng khoán thế giới tăng vọt sau khi Mỹ công bố kế
hoạch mua lại tài sản của các tập đoàn tài chính đang gặp khó khăn, giúp làm thanh
sạch hệ thống tài chính.
20-21/9/2008: Công bố các chi tiết bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD. Hai ngân
hàng Goldman Sachs và Morgan Stanley được chuyển đổi thành tập đoàn ngân hàng

ngân hàng, làm ngân hàng bị thâm hụt ngân sách. Thu nhập và tiêu dùng của hộ gia
đình bị ảnh hưởng, khiến cho doanh nghiệp càng khó bán hàng hòa. Nhiều doanh
nghiệp bị phá sản hay có nguy cơ phá sản, tiêu biểu là GM, Ford Motor và Chrysley
LLC. Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa, đẩy mức giá chung của Mỹ giảm thê thảm.
Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá. Do dollar Mỹ là phương tiện
thanh toán phổ biến nhất thế giới hiện nay, nên các nhà đầu tư toàn cầu đã mua
dollar để nâng cao khả năng thanh khoản của mình, đẩy dollar Mỹ lên giá. Điều này
làm cho xuất khẩu của Hoa Kỳ bị thiệt hại.
Đối với thế giới :
Mỹ được mệnh danh là đầu tàu kinh tế,nên dễ hiểu tại sao khủng hoảng kinh tế Mỹ
lại kéo theo khủng hoảng ở nhiều nước khác.
Vì Mỹ là thị trường nhập khẩu quan trọng của các nước, do đó khi kinh tế Mỹ suy
thoái, xuất khẩu nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước chú trọng xuất khẩu ở
Đông Á như Nhật Bản, Hong Kong, v..v…
Châu Âu giao thương mật thiết với Mỹ nên bị ảnh hưởng cả tài chính và kinh tế. Ở
Iceland, Nga, nhiều tổ chức tài chính lớn bị phá sản; Đức, Ý thì suy thoái; Anh,
Pháp giảm tăng trưởng.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 15
Các nước Mỹ Latinh cũng bị ảnh hưởng khi giá dầu giảm mạnh và dòng vốn ngắn
hạn rút khỏi khu vực.
Các nước xuất khẩu dầu khác cũng bị ảnh hưởng.
Do lo ngại về bất ổn định trên thế giới, hiện tượng đầu cơ lương thực diễn ra, gây
nên “khủng hoảng giá lương thực toàn cầu”.
Chứng khoán mất giá. Các nhà đầu tư chuyển sang xài những đồng tiền có giá trị
cao như dollar Mỹ, vô tình làm các loại tiền này lên giá, gây khó khăn cho xuất
khẩu của các nước. Vòng luẩn quẩn lại bắt đầu.
2.1.3 Giải pháp của chính phủ Mỹ
2.1.3.1 Cục dự trữ liên bang Mỹ ( FED):
Ngay khi khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nổ ra, FED bắt đầu can thiệp bằng
cách hạ lãi suất và tăng mua MBS. Đến khi tình hình phát triển thành khủng hoảng

khiến cho vào 1/10 Thượng viện Mỹ thông qua bản kế hoạch giải cứu 700 tỷ USD
(tỷ lệ 74-25) với một số điểm đã được thay đổi, bao gồm: gia hạn đạo luật cắt giảm
thuế thu nhập cho doanh nghiệp và cá nhân (tính sẽ làm ngân sách thất thu 149 tỷ
USD); tăng hạn mức bảo hiểm tiền gửi tại Cơ quan Bảo hiểm tiền gửi Liên bang từ
100.000 USD lên 250.000 USD và vào ngày 3/10, Hạ viện Mỹ cũng thông qua gói
cứu trợ 700 tỷ này.
2.1.3.3 Kế hoạch của Barack Obama
Barack Obama, tổng thống thứ 44 của Hoa Kỳ, sau khi trúng cử đã nêu ra một
chương trình kích thích kinh tế trong đó Hoa Kỳ sẽ tiến hành kích cầu bằng:
- Những dự án phát triển cơ sở hạ tầng chưa từng có kể từ thập niên 1950 :
Nhằm mục đích tăng mức cầu, chính phủ có thể giảm lãi suất, giảm thuế, xây cất
các công tác hạ tầng cơ sở để tạo công ăn việc làm và kích thích thị trường tiêu thụ.
Kết quả không biết sẽ như thế nào vì mô hình kinh tế không giống như trường hợp
của các nhà khoa học. Kinh tế gia không thể thí nghiệm chính xác các hiện tượng
kinh tế trước khi đem áp dụng vào trong đời sống thực tế.
- Nâng cấp hệ thống sử dụng năng lượng của các văn phòng cơ quan chính phủ
Hoa Kỳ theo hướng tiết kiệm năng lượng; Đầu tư lớn cho phát triển công nghệ nhất
là thông tin y tế điện tử, hệ thống máy tính cho các trường phổ thông và phát triển
mạng Internet băng thông rộng
- Ngoài ra, chính phủ Obama còn phải lo đối phó các vấn đề y tế, an sinh xã
hội do thất nghiệp gây ra. Khi bệnh hoạn, người dân Hoa Kỳ phải đi gặp bác sĩ hay
vào nhà thương thì ai sẽ trả tiền trị bệnh hay thuốc men cho họ? Tưởng cần nhắc lại,
Hoa Kỳ không có chương trình bảo hiểm y tế công như trường hợp Canada nên một
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 17
trong những điều cần làm nữa là cấp thêm ngân sách cho Chương trình bảo hiểm y
tế.
- Cấp thêm 50 tỷ dollar ngoài khoản 20 tỷ dollar đã được đồng ý cho ngành
công nghiệp ô tô với điều kiện là ngành này phải cải tổ đáng kể, nhằm mục đích
chận đứng nạn thất nghiệp. Chính phủ phải giúp các đại công ty; thí dụ ba hãng xe
hơi GM, Chrysler và Ford. Thực tế, sự cứu nguy này có ích lợi hay không khi xe

hợp lý sau một thời gian phát triển quá nóng. Có người lại nói khủng hoảng là kết
quả của những mưu đồ chính trị hoặc trục lợi của một số tổ chức, cá nhân có tầm
ảnh hưởng tài chính rộng lớn. Keynes - nhà quý tộc đại diện cho bộ tài chính nước
Anh, đồng tác giả cùng với các ngân hàng tư bản tạo ra cuộc Đại Suy thoái năm
1929, đã lập luận rằng: “Làm đồng tiền giảm giá, tạo ra lạm phát liên tục là có thể
kín đáo tước đoạt một phần tài sản của công dân. Trong quá trình bần cùng hóa
nhân dân, một số ít người sẽ giàu to. Không có thủ đoạn nào lại có thể lật đổ chính
quyền một cách kín đáo, chắc chắn và thành công bằng lạm phát. Quá trình này tích
lũy các nhân tố phá hoại theo quy luật kinh tế. Hàng triệu người chưa chắc đã có
một người nhận ra nguồn gốc của vấn đề”.
Trong con người luôn tồn tại cái thiện và cái ác, lòng tham và lòng nhân từ. Chu kỳ
tăng trưởng và suy thoái kinh tế chính là kết quả đấu tranh bên trong bản chất của
con người. Cho dù nguyên nhân có là do chính sách sai lầm vô tình hay cố ý thì việc
xác định bản chất của khủng hoảng và tăng trưởng sẽ giúp ta phòng tránh trước
những hậu quả suy thoái kinh tế nặng nề.
Có nhiều dấu hiệu tăng trưởng và biện pháp điều tiết của các nhà hoạch định chính
sách sớm bộc lộ một chu kỳ khủng hoảng sắp bắt đầu: Tiền được phát minh để phục
vụ cho nhu cầu cần thiết của việc trao đổi hàng hóa. Lịch sử đồng tiền đã trải qua
hàng nghìn năm phát triển với những quy định trong một trò chơi mà người ta
thường gọi là chính sách tiền tệ. Ai nắm quyền kiểm soát đồng tiền sẽ nắm quyền
kiểm soát vận mệnh quốc gia. Điều tiết tiền tệ là công cụ mang lại nhiều lợi ích to
lớn cũng như hậu quả khó lường đòi hỏi nhà hoạch định chính sách phải biết sử
dụng thành thạo và tùy biến trong từng trường hợp.
Một chế độ tiền tệ nới lỏng trong thời gian dài với những chính sách bơm tiền ra
ngoài xã hội, duy trì vay nợ với lãi suất thấp... sẽ tạo ra một lượng tiền ảo lớn vượt
quá thực tế giá trị của cải xã hội, dẫn đến hậu quả tất yếu là lạm phát. Khối lượng
hàng hóa do xã hội sản xuất là có hạn, do bị đầu cơ và sử dụng vô tội vạ đã dẫn đến
khan hiếm và đẩy giá thành tăng vọt. Giá trị đồng tiền bị giảm sút nghiêm trọng.
Khi đó luồng tiền tất nhiên sẽ chảy vào những nơi lưu giữ mà giá trị của nó ít bị ảnh
hưởng như vàng, trái phiếu chính phủ...

chung là phát triển kinh tế dựa vào đầu tư giá trị ảo thay vì kích thích sản xuất của
cải vật chất thực sự cho xã hội thì kết quả vẫn sẽ giống nhau.
Các sự kiện lớn là cơ hội phát triển kinh tế nhưng đôi khi lại là hậu họa nếu không
biết tận dụng đúng cách. Olympic là một cơ hội vàng cho sự phát triển kinh tế của
bất cứ quốc gia chủ nhà nào nắm quyền đăng cai. Trung Quốc là một trong những
nước tận dụng cơ hội vàng thành công trong năm 2008 vừa qua. Bốn năm chuẩn bị
là bốn năm để nước đăng cai nâng cao môi trường sống, văn hóa, trang thiết bị vật
chất, công nghệ, khả năng tài chính kinh tế. Đó là cơ hội vàng để kêu gọi đầu tư về
tiền bạc, công nghệ, quảng bá hình ảnh của đất nước, phát triển du lịch, tạo công ăn
việc làm và xây dựng cơ sở hạ tầng cũng như nâng cao đời sống dân sinh. Trung
Quốc đã có một bước phát triển thần kỳ trong bốn năm với tốc độ phát triển hai con
số thật ấn tượng. Tuy nhiên nhiều chuyên gia kinh tế lại cho rằng, đằng sau sự phát
triển thần kỳ đó, Trung Quốc sẽ phải đối mặt với tình hình nền kinh tế phát triển
chậm lại giống như những nước từng là chủ nhà của Olympic trước đây nếu không
có chính sách phát triển đúng đắn.
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 20
Việc đẩy mạnh đầu tư trước Olympic cùng với sự gia tăng về doanh số, doanh thu,
hoạt động đầu tư và tiêu dùng sẽ có xu hướng chững lại sau kỳ Olympic. Sử dụng
chi phí bảo trì của các dự án khổng lồ chỉ phục vụ cho kỳ Olympic sẽ là một gánh
nặng gây ra nhiều lãng phí to lớn và lâu dài. Riêng ngành kinh doanh khách sạn sẽ
bị sụt giảm nghiêm trọng do lượng đầu tư vào dịch vụ du lịch nở rộ chỉ phục vụ cho
một lượng khách đột biến trong kỳ Olympic.
Những chất xúc tác khó kiểm soát như thiên tai, dịch bệnh, cạn kiệt tài nguyên thiên
nhiên cũng góp phần làm thổi bùng ngọn lửa khủng hoảng. Sau một thời gian dài
phát triển kinh tế nóng, nhu cầu tiêu dùng của xã hội tăng cao sẽ khiến cho nhu cầu
về sử dụng tài nguyên như dầu lửa, đồ ăn thức uống ngày một lớn. Tuy nhiên vì
mức sản xuất của xã hội và tài nguyên có hạn do con người chú trọng đầu cơ vào
những giá trị ảo như bất động sản, chứng khoán nên giá cả các mặt hàng thiết yếu
ngày một tăng. Giá trị đồng tiền vì thế mà ngày càng sụt giảm do đã vượt quá giá trị
thực. Thiên tai và dịch bệnh ập đến cộng với giá cả các mặt hàng lương thực, dầu

Chương trình thắt chặt ngân sách đặt mục tiêu tiết kiệm 11,2 tỷ euro trong năm
2011 và giảm thâm hụt ngân sách (năm 2010 dự kiến vượt 5%).
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 22
29/05/2010 Hàng ngàn người biểu tình ở Lisbon – Bồ Đào Nha để phản đối kế
hoạch thắt chặt ngân sách của chính phủ.
28/05/2010 Fitch hạ xếp hạng tín dụng của Tây Ban Nha từ AAA xuống AA+ bởi
nợ tiêu dùng và doanh nghiệp tại nước này tăng lên mức quá cao, đó là chưa kể đến
nợ công đang ở mức đáng báo động.
27/05/2010 Quốc hội Tây Ban Nha chấp thuận kế hoạch thắt chặt ngân sách nhằm
tiết kiệm 15 tỷ euro tương đương 18,4 tỷ USD
25/05/2010 Nội các Italia bỏ phiếu thông qua kế hoạch thắt chặt ngân sách, tiết
kiệm 24 tỷ euro với mục tiêu đến năm 2012 đưa thâm hụt ngân sách về mức 2,7%
GDP từ mức 5,3% của năm 2009.
18/05/2010 Chính phủ Đức, trong nỗ lực ngăn hoạt động đầu cơ tài chính được coi
như nguyên nhân dẫn dến khủng hoảng nợ, công bố cấm bán khống vô căn cứ cổ
phiếu của 10 tổ chức tài chính lớn nhất tại Đức, trái phiếu chính phủ đồng euro và
hợp đồng hoán đổi vỡ nợ tín dụng (CDS).
Khủng hoảng kinh tế thế giới 2007-2010 23
13/05/2010 Chính phủ Bồ Đào Nha phác thảo kế hoạch giảm thâm hụt ngân sách,
trong đó có bao gồm giảm lương trong lĩnh vực công. Thâm hụt ngân sách Bồ Đào
Nha năm 2009 là 9,5%, chính phủ Bồ Đào Nha muốn đưa con số này về mức 7,3%
trong năm 2010 và 4,6% trong năm 2011.
11/05/2010 Chính phủ Đức chấp thuận cho kế hoạch đóng góp 123 tỷ euro vào quỹ
giải cứu của khu vực đồng tiền chung châu Âu.
10/05/2010 Các nhà hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu đưa ra kế hoạch khẩn
cấp trị giá 750 tỷ euro để hỗ trợ thị trường tài chính và vực dậy đồng euro, ngăn
đồng tiền này chịu ảnh hưởng tệ hại từ khủng hoảng nợ Hy Lạp.
Gói giải cứu bao gồm 440 tỷ euro từ các nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu
Âu, 60 tỷ euro từ công cụ nợ của châu Âu. IMF đóng góp 250 tỷ euro, tổng số tiền
lên tới 750 tỷ euro tương đương khoảng gần 1 nghìn tỷ USD tính theo tỷ giá ở thời


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status