Tài liệu khủng hoảng kinh tế Mỹ - Pdf 97

THẢO LUÂN TIỀN TỆ NGÂN HÀNG
Đề tài “ NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG MỸ VÀ TÁC ĐỘNG CỦA
KHỦNG HOẢNG ĐẾN HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM”
Khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009 là một cuộc khủng hoảng
bao gồm sự đổ vỡ hàng loạt hệ thống ngân hàng, tình trạng đói tín dụng,
tình trạng sụt giá chứng khoán và mất giá tiền tệ quy mô lớn ở nhiều
nước trên thế giới, có nguồn gốc từ khủng hoảng tài chính ở Hoa Kỳ.
Bong bóng nhà ở cùng với giám sát tài chính thiếu hoàn thiện ở Hoa Kỳ
đã dẫn tới một cuộc khủng hoảng tài chính ở nước này từ năm 2007,
bùng phát mạnh từ cuối năm 2008. Thông qua quan hệ tài chính nói
riêng và kinh tế nói chung mật thiết của Hoa Kỳ với nhiều nước. Cuộc
khủng hoảng từ Hoa Kỳ đã lan rộng ra nhiều nước trên thế giới, dẫn tới
những đổ vỡ tài chính, suy thóai kinh tế, suy giảm tốc độ tăng trưởng
kinh tế ở nhiều nước trên thế giới. Vậy cuộc khủng hoảng lớn đầu tiên
của thế kỷ 21 xất phát từ đâu? điều gì đáng để chúng ta tìm hiểu trong
qu á trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống tài chính. Chính vì vậy chúng
em đã chọn đề tài này để đưa ra thảo luận.
Tuy nhiên với vốn kiến thức còn hạn hẹp, chúng em chỉ xin đưa ra các
hiểu của mình về cuộc khủng hoảng này.
I.NGUYÊN NHÂN KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH MỸ
Trước khi nghiên cứu nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính, chúng ta
nên tìm hiểu sơ qua về diễn biến thị trường bất động sản và tài chính Mỹ từ năm
2002 để hiểu rõ hơn về cuộc khủng hoảng này.Đặc điểm của thị trường bất động
sản Mỹ vào đầu thế kỷ 21 tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Ở Mỹ, gần như hầu hết người dân khi mua nhà là phải vay tiền ngân hàng và trả
lại lãi lẫn vốn trong một thời gian dài sau đó. Do đó, có một sự liên hệ rất chặt
chẽ giữa tình hình lãi suất và tình trạng của thị trường bất động sản. Khi lãi suất
thấp và dễ vay mượn thì người ta đổ xô đi mua nhà, đẩy giá nhà cửa lên cao; khi
lãi suất cao thì thị trường giậm chân, người bán nhiều hơn người mua, đẩy giá
nhà xuống thấp. Bắt đầu từ năm 2001, để giúp nền kinh tế thoát khỏi trì trệ, Cục
Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) đã liên tục hạ thấp lãi suất, dẫn đến việc các ngân

hàng mà vẫn có lời. Do đó, một bong bóng đã thành hình trong thị trường bất
động sản. Fannie Mae đã mạnh tay hơn trong việc mua lại các khoản cho vay
đầy mạo hiểm do phải đối đầu với cạnh tranh nhiều hơn từ các công ty khác,
chẳng hạn như Lehman Brothers. Bên cạnh đó, nhu cầu mua lại MBS của các
nhà đầu tư vẫn cao bởi vì cho tới trước năm 2006 thì thị trường bất động sản vẫn
chưa có dấu hiệu nổ bong bóng. Hơn nữa, họ cũng phần nào được trấn an khi
vẫn có thể mua thong thả các hợp đồng bảo hiểm CDS từ các công ty bảo hiểm
và đầu tư khác. Việc này dẫn đến các công ty bán bảo hiểm càng mạnh tay hơn
trong việc bán CDS ra thị trường, bất chấp khả năng bảo đảm của mình.
Sự suy sụp dây chuyền trên thị trường tài chính.
Do lo lắng về diễn biến lạm phát, Cục Dự trữ liên bang (Fed) bắt đầu tăng dần
lãi suất, dẫn đến việc thị trường bất động sản (BĐS) bắt đầu chững lại vào đầu
năm 2006. Trong khi vào giữa năm 2003 lãi suất căn bản của Fed chỉ có 1% thì
vào giữa năm 2006 nó đã tăng lên đến 5,25%, bắt buộc các ngân hàng thương
mại phải đẩy lãi suất cho vay tiền mua nhà lên cao hơn nhiều nữa. Tình hình lãi
suất cao đã khiến cường độ vay để mua nhà giảm lại. Giá nhà bắt đầu trượt dốc
vì cung vượt cầu. Nhiều người mua nhà giá cao trước đây bắt đầu thấy giá thị
trường của căn nhà đang sở hữu thấp hơn khoản nợ mà mình đang vay. Bên
cạnh đó, rất nhiều người trong nhóm vay tiền với lãi suất dưới chuẩn bắt đầu
mất khả năng trả nợ khi lãi suất của họ bị điều chỉnh trở lại theo lãi suất mới
hiện hành khá cao. Họ muốn bán nhà để trả nợ cũng không được vì giá nhà thấp
hơn khoản nợ do thị trường tụt dốc. Hệ quả là họ đành bỏ nhà cho ngân hàng
trưng thu lại.
Việc ngày càng nhiều người không có khả năng trả nợ ngân hàng mỗi tháng dẫn
đến việc trị giá của các MBS bị tụt dốc. Như đã nói lúc đầu, có rất nhiều nhà đầu
tư ở Phố Wall đã mua MBS. Do đó, khi MBS mất giá thì đồng nghĩa với việc tài
sản của họ cũng bị mất theo, dẫn đến việc thiếu hụt vốn. Bên cạnh đó, các công
ty bảo hiểm MBS, chẳng hạn như AIG, cũng lâm vào cảnh khốn đốn khi phải
đứng ra bảo lãnh ngày càng nhiều các khoản vay xấu. Ngoài ra, các ngân hàng
thương mại hoặc các công ty cho vay thế chấp còn giữ lại phần lớn các khoản

ngân hàng rồi dùng bất động sản thế chấp để phát hành “trái phiếu tái thế chấp”
(Mortgage-backed Securities-MBS) bán cho các nhà đầu tư khác nhằm tăng tính
thanh khoản cho ngân hàng. Như vậy những món nợ nhà ở đã được “trái phiếu
hóa” thành sản phẩm tài chính thông dụng có thể mua bán dễ dàng trên thị
trường tiền tệ.Nói đơn giản hơn MBS là một loại chứng khoán phái sinh mà
Fannie Mae, hoặc là một công ty tài chính khác như Lehman Brothers, bỏ tiền ra
mua lại các khoản cho vay thế chấp từ các ngân hàng thương mại, tập trung
chúng thành từng loại khác nhau, rồi phát hành MBS để bán lại cho các nhà đầu
tư.
Ví dụ, Fannie Mae mua 1.000 khoản vay thế chấp với các đặc điểm giống nhau
với gốc là 200.000 USD cho mỗi khoản vay. Khi tập trung lại thì tổng trị giá các
khoản vay này sẽ là 200.000.000 USD. Fannie Mae có thể biến khoản này thành
100.000 MBS, trị giá 2.000 USD một phần và bán lại cho các nhà đầu tư. Nếu
nhà đầu tư A mua 10 MBS thì sẽ trả 20.000 USD.
Sau khi mua các MBS thì các nhà đầu tư sẽ nhận lại khoản tiền vừa lãi vừa gốc
được chuyển đến hằng tháng từ các người vay tiền (thông qua một công ty dịch
vụ trung gian) trong một khoản thời gian nhất định nào đó.
Và cũng vì có sự khác nhau về rủi ro của các loại MBS cho nên các công ty bảo
hiểm và thẩm định rủi ro, chẳng hạn như AIG, cũng nhảy vào để bán bảo hiểm
cho các nhà đầu tư MBS. Các bảo hiểm này được gọi là credit default swap
(CDS), với mục đích bảo đảm cho các nhà đầu tư MBS là trong trường hợp
những người vay tiền mua nhà không trả được nợ và làm cho MBS mất giá thì
sẽ được bồi thường. Trong thời kỳ hoàng kim, việc kinh doanh bảo hiểm CDS
đã đem lại cho AIG nhiều món lợi khổng lồ. Tuy nhiên, chúng trở thành rắc rối
chính của người khổng lồ này khi thị trường bất động sản đi xuống và rủi ro tín
dụng vùn vụt tăng cao.
Thụ phạm là ai? Một trong những thủ phạm đó chính là cựu tổng thống Mỹ
Bill Clinton.Người mà trước khi mãn nhiệm vào năm 1999, đã chính thức khai
tử cho đạo luật GLASS STEARGALL ra đời năm 1933 vào thời của tổng thống
Franklin Rosevelt, đạo luật này phân biệt khắt khe giữa hoạt động ngân hàng

cần có 150.000 USD là có thể được vay 850.000 USD để mua căn nhà 1 triệu
USD. Nhiều công ty cho vay thế chấp hoặc ngân hàng còn cạnh tranh thu hút
khách hàng bằng các gói tín dụng hấp dẫn khác. Đây là cơ hội cho các nhà đầu
cơ bất động sản vì khi thị trường bất động sản đang lên, chỉ cần có một ít tiền là
có thể đặt cọc mua nhà, vài tháng sau giá nhà lên bán lấy lãi.
Ngoài ra, việc cho vay dễ dãi “dưới chuẩn” còn do tiền cho vay được thu về
thông qua “chứng khoán hóa”, thông qua phát hành “trái phiếu tái thế chấp” bất
động sản thế chấp. Dưới hình thức này người cho vay và người vay không biết
nhau, ngân hàng chỉ còn là đơn vị trung gian cho vay sau đó chuyển nhượng
khoản vay cho công ty cho vay thế chấp để công ty phát hành “trái phiếu tái thế
chấp” chuyển nhượng trên thị trường là xong. Ví dụ Ngân hàng Northen Rock
có cơ cấu vốn 25% vốn từ khoản gửi tiết kiệm, 25% từ thị trường tiền tệ liên
ngân hàng, 50% từ việc chứng khoán hóa. Đây là khuyết tật nghiêm trọng của
việc chứng khoán hóa bất động sản thế chấp nhưng thiếu kiểm soát.
Thủ phạm là ai?
Lại là Bill Clinton với một chính sách sai lầm nữa. Năm 1995, Clinton nới lỏng
quy định về nhà đất bằng cách sửa lại Luật Tái đầu tư Công cộng. Điều luật gia
tăng sức ép lên các ngân hàng, buộc họ phải tạo điều kiện cho những người có
thu nhập thấp vay tiền mua nhà.
Và kẻ có ảnh hưởng nhất trong cuộc khủng hoảng này theo tạp chí Time của Mỹ
bình chọn Agelo Mozilo đồng sáng lập ra Countrywide – nhà cho vay thế chấp
lớn nhất nước Mỹ đã hưởng ứng nhiệt tình phong trào “cho vay thế chấp”.Trong
phong trào này, Countrywide đã giúp bất cứ người Mỹ nào cũng có thể vay tiền
dù người đó chưa chắc có khả năng trả nợ, từ giám đốc 1 công ty cho tới một
cậu sinh viên Hardvard ngay cả nhưng người sống ở những khu phố ổ chuột.
I.3/Nguyên nhân thứ ba là giá bất động sản tại Mỹ tăng liên tục đã lôi kéo
các nhà đầu tư và cả người dân đổ xô vào kinh doanh bất động sản làm
cung vượt quá cầu
Việc cho vay dễ dãi tạo điều kiện cho đông đảo các nhà đầu tư tham gia đầu cơ
bất động sản, tạo cầu ảo đẩy “bong bóng” bất động sản lên cao. Thị trường bất

tháng đã bị đẩy đến sát bờ vực phá sản và buộc phải bán lại cho Bank of
America vào tháng 1 năm 2008.
Hai tháng sau đó, sự sụt giá không kiểm soát nổi của các khoản đầu tư tài chính
– bất động sản đã gần như khiến Bear Stearns, một trong năm ngân hàng đầu tư
lớn nhất của Mỹ, tê liệt và buộc phải chấm dứt hoạt động sau 85 năm tổn tại.Và
xin lưu ý rằng Trong suốt 85 năm tồn tại, Bear Stearns chỉ bị lỗ duy nhất vào
quý 4 năm 2007. Dưới sự bảo lãnh của chính phủ Mỹ, ngân hàng JPMorgan
Chase mua lại Bear Stearns với giá $2 một cổ phiếu, thấp hơn 10 lần giá cổ
phiếu giao dịch trên thị trường trước thời điểm mua. Giá này sau được điều
chỉnh thành $10 một cổ phiếu.
Tiếp theo là 2 định chế tài chính – 2 ông lớn Fannie Mae và Freddie Mac. Ngày
7 tháng 9, chỉ vài ngày trước khi Lehman Brothers phá sản, chính phủ Mỹ cũng
bị buộc phải tiếp quản Fannie Mae và Freddie Mac, hai công ty sở hữu và bảo
lãnh trên 5000 tỉ đô la bất động sản, tương đương gần 50% giá trị thị trường bất
động sản Mỹ và gấp gấn 100 lần GDP của Việt Nam năm 2007, sau những báo
động về tình trạng cạn kiệt vốn của hai công ty này.
Sự sụt giá trên thị trường bất động sản và các khoản đầu tư tài chính – bất động
sản nhanh chóng làm hao hụt nguồn vốn và hạ thấp chỉ số tín dụng của các tập
đoàn tài chính ngân hàng .Trong đó. ngân hàng đầu tư Lehman Brothers mất
hàng chục tỉ đô la giá trị cổ phiếu chỉ trong vài ngày không chỉ chấn động và
làm đảo lộn thị trường tài chính Wall Street, mà nhanh chóng tạo nên cơn địa
chấn toàn cầu, đẩy cuộc khủng hoảng lên tới đỉnh điểm mới.
Nhiều công ty lớn, vốn từng là đối tác hoặc nhà đầu tư của Lehman Brothers, là
những đối tượng đầu tiên chịu ảnh hưởng trực tiếp. Khả năng phá sản dây
chuyền khiến các nhà đầu tư bán tháo cổ phiếu của American International
Group (AIG), tập đoàn bảo hiểm lớn nhất thế giới, vì lo ngại AIG sẽ không cáng
đáng nổi trách nhiệm của những khoản bảo hiểm phá sản. Chỉ trong vòng vài
ngày cổ phiếu AIG đã mất tới 90% giá trị.
Nghiêm trọng hơn, nỗi lo sợ về khả năng vỡ nợ hàng loạt đã khiến các ngân
hàng và công ty tài chính xiết chặt hầu bao, đẩy lãi suất ngân hàng và lãi suất

hoàn thiện, công tác quản lý giám sát thị trường được tăng cường nhằm tạo niềm
tin cho các đối tượng tham gia trên thị trường.
Thứ ba: thị trường bảo hiểm năm 2008 tiếp tục duy trì mức tăng trưởng ổn
định, tăng 8,22% so với năm 2007.
Tổng doanh thu toàn thị trường dự kiến đạt 26.082 tỷ đồng, trong đó doanh thu
phí bảo hiểm chiếm 78,1% tỷ đồng và doanh thu hoạt động đầu tư chiếm 21,9%.
Đến cuối năm 2008, ngành bảo hiểm đã huy động đầu tư trở lại nền kinh tế
khoảng 57.000 tỷ đồng, tăng hơn 10 nghìn tỷ so với năm 2007.
Cũng trong năm 2008, các doanh nghiệp bảo hiểm đã giải quyết bồi thường và
trả tiền bảo hiểm hơn 6.400 tỷ đồng đảm bảo sự phát triển ổn định của các tổ
chức, cá nhân không may gặp rủi ro, qua đó góp phần vào sự phát triển của nền
kinh tế xã hội.
Tuy nhiên theo nhận định chung của các chuyên gia thì thị trường tài chính Việt
Nam, về cơ bản, không chịu tác động mạnh từ khủng hoảng tài chính. Ảnh
hưởng của cuộc khủng hoảng về mặt tiền tệ đối với Việt Nam có lẽ không đáng
kể. Những loại chứng khoán mà hiện nay đang có vấn đề của những công ty
chứng khoán và bảo hiểm của Mỹ chưa bán ở Việt Nam. Hệ thống tiền tệ và thị
trường vốn, thị trường chứng khoán ở Việt Nam chưa lành mạnh, dễ tổn thương,
dễ lâm vào bất ổn chủ yếu là do các yếu tố trong nội bộ Việt Nam như thiếu tính
công khai, thiếu minh bạch, dân chúng khó tiếp cận, tồn tại giao dịch nội gián ,
chứ không liên quan nhiều đến cuộc khủng hoảng ở Mỹ.
Đầu tư trực tiếp (FDI) ở Việt Nam có lẽ cũng không bị ảnh hưởng nhiều từ cuộc
khủng hoảng tiền tệ ở Mỹ. Các nhà đầu tư chính ở Việt Nam là Nhật, Hàn Quốc,
Đài Loan Ngay cả những công ty chế tạo của Mỹ nếu có kế hoạch đầu tư vào
Việt Nam cũng sẽ không vì cuộc khủng hoảng này mà đình hoãn kế hoạch đó.
Kinh nghiệm của thập niên 1990 cho thấy kinh tế Nhật suy thoái hầu như không
ảnh hưởng gì đến FDI của họ ở Trung Quốc và Việt Nam. Kinh nghiệm của
Intel tại Việt Nam cũng cho thấy công ty này chậm triển khai kế hoạch đầu tư ở
nước ta chủ yếu vì không bảo đảm được nguồn nhân lực có trình độ cao cần
thiết. Thành ra, để tiếp tục tiếp nhận FDI từ Nhật, Mỹ và nhiều nước khác, Việt

số liệu quá khứ sẽ thấy dòng vốn từ bên ngoài gồm:vốn đầu tưu trực tiếp,vốn
đầu tư gián tiếp,vay nợ và kiều hối chiếm một tỉ trọng đáng kể trong tổng số vốn
đầu tư của Việt Nam.
Chi phí huy động vốn toàn cầu ngày càng tăng cao do biên độ tín dụng gia tăng.
húng ta cần nhìn nhận sự khó khăn ở góc độ toàn cầu thay vì các quốc gia đầu tư
vào Việt Nam,do bản thân các công ty mẹ là các tập đoàn đa quốc gia với họat
động toàn cầu.Hơn nữa do nhu cầu tiêu thụ sụt giảm nên việc giải ngân FDI sẽ
chậm lại đáng kể.
Hầu hết các dự án đầu tư nói chung,dự án FDI nói riêng,phần nợ vay thường
chiếm một tỉ phần rất lớn trong tổng số vốn đầu tư nên khi mà các tổ chức tài
chính đang gặp khó khăn sẽ làm cho nhiều hợp đồng vay vốn sẽ không được kí
kết hoặc không thể giải ngân
Mặt khác do phần còn lại của thế giới khó khăn,thu nhập của người lao động sẽ
giảm sút,cuộc sống khó khăn hơn nên lượng kiều hối chuyển về có khả năng sẽ
giảm và họat động XNK sẽ bị giảm sút.
Huy động vốn gián tiếp vào thị trường cổ phiếu Việt Nam trong thời gian tới sẽ
rất khó khăn do các nhà đầu tư sẽ hướng tới các kênh đầu tư an toàn.Việc bán
tháo chứng khoán ra khỏi thị trường Việt nam là cụ thể.
Điều này sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường chứng khoán và quá trình cổ
phần hóa của doanh nghiệp nhà nước lớn trong các năm tới.Việc huy động vốn
qua thị trường vốn khó khăn khi thị trường tín dụng thắt chặt sẽ làm chặn dòng
vốn và đẩy chi phí tài chính của các doanh nghiệp lên cao
Việc phát hành chứng khoán huy động vốn trên thị trường quốc tế cũng rất khó
khăn và chi phí tăng cao.
Kiều hối với doanh số 8-10 tỷ USD/năm là một nguồn thu rất quan trọng của
Việt Nam.Do phần lớn nguồnkiều hối từ Mĩ nên chắc chắn nguồn này cũng
giảm sút
b. Những giải pháp gì để lường trước và ứng phó với các khó khăn trong thị
trường tài chính hiện nay?
Trước tiên cần phải khẳng định rằng thị trường tài chính là thị trường rất nhạy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status