Triển vọng kinh tế nhìn từ gói kích cầuMột trong những cơ sở quan trọng nhất để
dự báo triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2010 và dài hạn hơn sau đó là xác định
khả năng phản ứng chính sách của Chính phủ trong bối cảnh kinh tế thế giới vẫn
đang trong tình trạng bất định cao, nhiều rủi ro và khó dự báo. Dự báo triển vọng
kinh tế năm 2010 tại thời điểm hiện nay thật sự là một công việc có phần mạo
hiểm, cho dù triển vọng phục hồi đã bộc lộ khá rõ và trong thời gian gần đây,
cách thức điều hành chính sách của Chính phủ đã mang tính hệ thống, bài bản và
linh hoạt hơn.
Nếu không xét đến tác động bất thường của các yếu tố bên ngoài, sự “mạo hiểm”
của công việc dự báo bắt nguồn từ hai nguyên nhân chính.
Một là, cho đến nay (dù đã hết quý III), định hướng triển khai tiếp phần đa số còn
lại của gói kích cầu 8 tỷ USD dự định (còn gọi là gói kích cầu thứ hai) vẫn chưa
được xác định (có cần triển khai tiếp hay không). Theo logic, chắc chắn rằng triển
vọng tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô (nhất là triển vọng ổn định) của năm
2010 và cả những năm sau đó tùy thuộc rất lớn vào quyết định này.
Hai là, trong giai đoạn tới, sự lựa chọn ưu tiên giữa các mục tiêu cải cách dài hạn
(tập trung cho nhiệm vụ tái cơ cấu nhằm khắc phục các điểm yếu cơ cấu, giải toả
các “nút thắt“ tăng trưởng) hay mục tiêu khôi phục kinh tế ngắn hạn trước mắt,
giúp cân bằng lại tình hình vẫn đang là chủ đề thảo luận trong giới nghiên cứu học
thuật và cả giới hoạch định chính sách. Vẫn chưa có định hướng ưu tiên chính
thức rõ ràng cho việc giải quyết hai nhiệm vụ có tính “tranh chấp nguồn lực” này.
Theo lập luận đó, để xác lập căn cứ dự báo, cần phân tích tính hiện thực hợp lý của
gói kích cầu thứ hai, đồng thời, làm rõ tương quan ưu tiên tối ưu cần thiết giữa
việc thực hiện các mục tiêu dài hạn với các nhiệm vụ ngắn hạn.
Bài viết này cố gắng lý giải hai vấn đề nêu trên, góp thêm ý kiến vào việc dự báo
triển vọng kinh tế Việt Nam trong một vài năm tới.
Câu hỏi trung tâm hiện nay là: năm 2010, nền kinh tế nước ta có cần triển khai
tiếp gói kích cầu thứ hai hay không?
Để trả lời câu hỏi này, cần chú ý đến một số vấn đề sau:
Thứ nhất, giống như khi chịu tác động của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ
Đông Á 1997-1999, xu hướng suy giảm tăng trưởng và bất ổn kinh tế vĩ mô của
Hai là, gói hỗ trợ tiêu dùng (hỗ trợ hộ nghèo ăn Tết, mỗi hộ nghèo 1 triệu VND;
miễn thuế thu nhập cá nhân);
Ba là, gói hỗ trợ đầu tư (giảm, miễn, hoãn thuế doanh thu, thuế VAT cho các
doanh nghiệp Việt Nam, cho nông dân vay không lãi suất để mua thiết bị, máy
móc sản xuất nông nghiệp).
Bốn là, đầu tư cho các công trình xây dựng cơ bản (kết cấu hạ tầng, nhà ở cho sinh
viên, khu chung cư cho người thu nhập thấp,...).
Trong 4 gói này, gói 4 là gói lớn nhất hầu như chưa triển khai được gì do nguồn
vốn không có (phát hành trái phiếu không thành công), do tính chất dài hạn của
loại hình đầu tư khó phù hợp với tiêu chí kích cầu (kịp thời) trong điều kiện năng
lực triển khai kích cầu của bộ máy rất có hạn.
Hai gói 2 và 3 được triển khai, ít nhiều có tác động tích cực, nhưng lan toả không
mạnh. Trong số đó, có những gói cụ thể hầu như không có tác dụng, thậm chí gây
phản ứng ngược (gói cho nông dân vay mua máy móc, thiết bị sản xuất nông
nghiệp không tính lãi suất).
Có thể nói tác động mạnh nhất của gói kích cầu 1 tập trung ở gói cho vay hỗ trợ lãi
suất 4%. Tuy nhiên, xét về thực chất, đây là gói “giải cứu” chứ không phải là gói
kích cầu. Gói này đã giải thoát nhiều doanh nghiệp khỏi tình trạng “ách tắc” lưu
thông vốn do gánh nặng nợ xấu (nợ không trả được do lãi suất vay quá cao năm
2008). Kích hoạt nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp và ngân hàng thoát khỏi
“điểm chết”, gói kích cầu này đã hoàn thành sứ mệnh “giải cứu” nền kinh tế.
Sự phân tích trên cho thấy trong giai đoạn vừa qua, để nền kinh tế khôi phục lại
tăng trưởng, “gói giải cứu” đóng vai trò chính; còn các gói kích cầu đúng nghĩa
chưa phát huy tác dụng bao nhiêu (4). Nền kinh tế hầu như tự động khôi phục tăng
trưởng sau khi thoát khỏi điểm “tắc nghẽn” chỉ với một số tiền vừa phải tung ra
(cơ bản chưa phải là tiền kích cầu).
Các tình huống thực tiễn mang tính kinh nghiệm nêu trên có vẻ hướng tới kết luận
không nhất thiết phải tiếp tục kích cầu trong giai đoạn tới (năm 2010) mà nền kinh
tế vẫn có thể duy trì xu hướng cải thiện tốc độ tăng trưởng. Kết luận này được hỗ
trợ thêm bởi triển vọng phục hồi tăng trưởng của kinh tế thế giới. Hội nghị G20