Phân tích kinh tế vĩ mô
CHƯƠNG I : LÝ THUYẾT
1. Phương pháp dùng chỉ tiêu chu kỳ để dự báo nền kinh tế :
Phương pháp chỉ tiêu chu kỳ để dự báo nền kinh tế cho rằng toàn bộ nền kinh
tế sẽ tăng trưởng và suy thoái một cách rõ rang theo những khoản thời gian nhất
định. NBER – một tổ chức phi lợi nhuận đã kiểm định hàng trăm chuỗi số liệu kinh
tế theo thời gian trong mối tương quan với chu kỳ kinh doanh trong quá khứ và
nhóm rất nhiều chỉ tiêu kinh tế thành 3 nhóm chính dựa trên mối quan hệ với chu
kỳ kinh doanh.
1.1. Các nhóm chỉ tiêu chu kỳ :
Chỉ tiêu dự báo của chu kỳ kinh doanh bao gồm các chuỗi số liệu kinh tế mà
nó thường đạt đến đỉnh hoặc đáy, trước khi đỉnh hoặc đáy tương ứng của tổng thể
nền kinh tế xuất hiện.
+ Những chỉ tiêu trùng khớp bao gồm chuỗi số liệu kinh tế mà có đỉnh hoặc
đáy gần như trùng với đỉnh hoặc đáy của chu kỳ kinh doanh.
+ Chỉ tiêu có độ trễ bao gồm những chỉ tiêu mà nó đạt đến đỉnh hoặc đáy sau
đỉnh hoặc đáy tương ứng của nền kinh tế.
+ Nhóm chỉ tiêu tuyển chọn bao gồm cán cân thanh toán, thặng dư, hoặc
thâm hụt trong dự trữ ngoại hối quốc gia.
Bảng 2.2 Những thành phần của chỉ số dự báo
Mức độ dự báo (tháng)
Đỉnh Đáy Thay đổi
1. Số giờ lao động trung bình một tuần của công nhân sản
xuất
-11 -
1
/
2
-7
2. Yêu cầu bảo hiểm xã hội trung bình một tuần (nghịch đảo)
-12 -1
2
-3
8. Đơn đặt hàng mới của nhà sản xuất - hàng hóa vốn
-8
1
/
2
-
1
/
2
-2
1
/
2
1
Phân tích kinh tế vĩ mô
9. Chênh lệch lãi suất, trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm
trừ lãi suất ngắn hạn liên bang
-21 -12
1
/
2
-21
10. Chỉ số kỳ vọng của người tiêu dùng
-14 -4
1
/
2
-6
1
/
2
+20
1
/
2
+5
1
/
2
4. Số dư tín dụng công nghiệp và thương mại (USD)
+5 +12
1
/
2
+9
5. Tỷ số dư tín dụng tiêu dùng trên thu nhập cá nhân
-4 +11 +5
6. Chi phí lao động đơn vị (phần trăm thay đổi)
+6 +7 +6
1
/
2
7. Thay đổi trong chỉ số giá tiêu dùng
+3 +5 +5
1.2. Chỉ tiêu kết hợp và tỷ số của các chỉ tiêu :
- Chỉ tiêu kết hợp là sự kết hợp của những chỉ tiêu trong cùng nhóm.
- Tỷ số của chỉ tiêu trùng khớp kết hợp chia cho chỉ tiêu độ trễ kết hợp là chỉ
tiêu dự báo. Sự biến động của chuỗi tỷ số này thường song song với chuỗi chỉ tiêu
Tín hiệu sai: chỉ tiêu hiện tại báo hiệu một suy thoái nhưng sau đó chuỗi
chỉ tiêu chợt đảo chiều và vô hiệu hóa tín hiệu trước đó.
Đơn vị tiền tệ của dữ liệu: do không thể cập nhật dữ liệu một cách thường
xuyên. Chuỗi số liệu kinh tế được điều chỉnh theo mùa do đó cần phải xem xét sự
thay đổi do những nhân tố điều chỉnh mùa vụ.
Không có chuỗi số liệu phản ánh một cách thỏa đáng ngành dịch vụ. Chưa
có số liệu nào có thể đại diện cho nền kinh tế toàn cầu hoặc thị trường chứng
khoán toàn cầu.
1.5. Những chuỗi số liệu chỉ tiêu dự báo khác:
Trung tâm Nghiên cứu Điều kiện Kinh doanh Quốc tế (CIBCR) đã phát triển
một vài chỉ tiêu dự báo khác:
Chỉ số dự báo dài hạn:
Gồm 4 chuỗi số liệu:
+ Giá trái phiếu Dow Jones (20 trái phiếu, tỷ trọng theo mệnh giá)
3
Phân tích kinh tế vĩ mô
+ Tỷ số giá/chi phí lao động đơn vị trong ngành sản xuất (mốc là năm 1982)
+ Cung tiền M2 (tỷ USD)
+ Giấy phép xây dựng bất động sản mới (mốc là năm 1967)
Chỉ số dự báo thị trường lao động (mốc năm 1967) :
Gồm 6 chuỗi số liệu :
+ Số ngày lao động bình quân
+ Thời gian lao động ngoài giờ bình quân
+ Tỷ lệ phần trăm cắt giảm lao động (nghịch đảo)
+ Số công việc bán thời gian tình nguyện/không tình nguyện
+ Tỷ lệ phần trăm thất nghiệp ngắn hạn (nghịch đảo)
càng rộng rãi và triển vọng nền kinh tế càng sang sủa và ngược lại.
Các số liệu thống kê kinh tế của chính phủ là một nguồn khác có thể cung cấp
thông tin về xu hướng kinh tế hiện tại, đặc biệt là nó đề cập đến rất nhiều khu vực
kinh tế khác nhau.
2. Các biến tiền tệ, nền kinh tế và giá chứng khoán:
Có một mối quan hệ chặt chẽ giữa giá chứng khoán và rất nhiều các biến
tiền tệ. Biến số phổ biến và quan trọng nhất là cung tiền. Cung tiền bao gồm:
- Khối M1: gồm tiền mặt cộng với tiền gửi không kỳ hạn
- Khối M2: gồm khối M1 + tiền gửi tiết kiệm kỳ hạn
Có nhiều công cụ để kiểm soát cung tiền, nhưng cách hiệu quả nhất là các
công cụ trên thị trường mở.
2.1. Cung tiền và nền kinh tế:
Freidman và Schwart đã chứng minh mối quan hệ giữa sự thay đổi trong tỷ
lệ tăng trưởng cung tiền với những thay đổi hệ quả của nền kinh tế.
- Sự suy giảm trong tốc độ tăng trưởng cung tiền đến trước sự suy thoái
trong các hoạt động kinh tế trung bình khoảng 20 tháng.
- Sự tăng lên trong tốc độ tăng trưởng cung tiền đến trước sự tăng trưởng
tương ứng của nền kinh tế trung bình 8 tháng.
Để thực thi những thay đổi trong chính sách tiền tệ, FED thực hiện các
nghiệp vụ mua hay bán các trái phiếu kho bạc để điều chỉnh dự trữ ngân hàng hay
điều chỉnh cung tiền.
Ví dụ: FED mua trái phiếu chính phủ tăng tiền mặt trong lưu thông:
giá trái phiếu chính phủ tăng, lãi suất giảm
giá trái phiếu công ty…
giá hàng hóa, giá cổ phiếu tăng
5
Phân tích kinh tế vĩ mô
tổng thể nền kinh tế bị tác động
2.2. Chỉ số thị trường tài chính:
GSFCI (Goldman Sachs Financial Conditions Index) là sự kết hợp của 4
Những nghiên cứu tiếp theo: tốc độ tăng cung tiền thể hiện độ trễ của giá
chứng khoán.
6
Phân tích kinh tế vĩ mô
Những nghiên cứu trong thập niên 80: sự thay đổi tiền tệ có ảnh hưởng đến
giá chứng khoán nhưng giá chứng khoán điều chỉnh rất nhanh theo những thay đổi
không dự đoán trước của cung tiền.
2.4. Dư thừa tổng phương tiện thanh toán và giá chứng khoán:
Dư thừa phương tiện thanh toán là phần trăm thay đổi hàng năm trong cung
tiền M2 điều chỉnh cho những khoản tiết kiệm kỳ hạn nhỏ trừ đi phần trăm thay
đổi hàng năm của GDP danh nghĩa.
Nếu tốc độ tăng trưởng của tiền > tốc độ tăng trưởng của GDP dư thừa
tiền mặt giá chứng khoán tăng.
Sự tồn tại của thặng dư phương tiện thanh toán của các quốc gia chính có
quan hệ thương mại với quốc gia A cũng là một trong những nhân tố hỗ trợ làm
tăng giá chứng khoán của quốc gia A do những quốc gia có quan hệ thương mại
thường có thể đầu tư vào cổ phiếu của quốc gia A.
2.5. Những biến số kinh tế khác và giá chứng khoán:
Những nhân tố ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi cổ phần:
- Tăng trưởng sản lượng công nghiệp
- Thay đổi trong phần bù rủi ro
- Sự biến động trong đường cong giá – lãi suất
- Đo lường những bất ổn lạm phát (những thay đổi ngoài dự báo)
- Thay đổi trong lạm phát kỳ vọng.
2.6. Lạm phát, lãi suất và giá chứng khoán:
Lạm phát và lãi suất:
Lạm phát tăng tỷ suất sinh lợi danh nghĩa tăng để đảm bảo tỷ suất sinh lợi
thực cố định.
7
chênh lệch giữa r và g gia tăng giá cổ phiếu giảm xuống.
8
Phân tích kinh tế vĩ mô
CHƯƠNG II : ỨNG DỤNG
1. Phân tích môi trường đầu tư Việt Nam:
Môi trường đầu tư : là các điều kiện, các yếu tố về kinh tế, xã hội, pháp lý,
tài chính, hạ tầng cơ sở và các yếu tố liên quan khác mà trong đó các quá trình hoạt
động đầu tư được tiến hành.
1.1. Môi trường kinh tế:
Chúng ta xem xét môi trường kinh tế qua các mặt: Các chỉ tiêu tổng hợp của
nền kinh tế quốc dân GDP, GNP,. ., lạm phát, cán cân thương mại, cán cân thanh
toán quốc tế, dự trữ ngoại tệ, cân đối ngân sách nhà nước, nợ nước ngoài, tỷ giá hối
đoái và một số phân tích kinh tế vĩ mô khác.
Các chỉ số kinh tế 2007 2008 2009
GDP thực tế (% thay đổi cùng kỳ) 8.5 6.18 5.5
Chỉ số sản xuất công nghiệp
(% thay đổi cùng kỳ) 17.1 14.6 14
Chỉ số giá tiêu dùng (% thay đổi cùng kỳ) 12.6 19.9 8
Cán cân Thương mại (triệu USD) -14,121 -18,452 -17,044
Xuất khẩu hàng hóa (triệu USD) 48,561 62,685 65,813
(% thay đổi cùng kỳ) 21.9 29.1 5
9
Phân tích kinh tế vĩ mô
Nhập khẩu hàng hóa (triệu USD) 62,682 80,418 78,405
(% thay đổi cùng kỳ) 39.6 28.3 -25
Cán cân tài khoản vãng lai (triệu USD) -6,901 -9,135 -5,210
(% GDP) -9.9 -10.2 -5.6
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (tỉ USD) 6.6 8.1 4.5
Nợ nước ngoài (Triệu USD) 23,700 26,800 28,900
(% GDP) 33.3 29.8 30.9
của Tổng cục Thống kê).
Doanh thu bán lẻ : cả nước trong bảy tháng đấu năm 2009 tăng 18,3% so
với cùng kỳ năm 2008 đạt 643,74 ngàn tỉ đồng.
Lạm phát :
Năm 2008:
Thực sự bùng nổ và thực sự gây nên những bất ổn vĩ mô vào năm 2008.
Lạm phát đỉnh điểm vào tháng 7 năm 2008 khi lên tới trên 30% . Kết thúc năm
2008, lạm phát lùi về còn 23%, đây là mức cao nhất trong vòng 17 năm qua.
Năm 2009:
Bắt nguồn từ những yếu tố: Thứ nhất là chính sách nới lỏng tiền tệ từ tháng
10.2008 tới nay cũng như chính sách kích thích kinh tế tương đối lớn từ đầu năm
2009. Thứ hai là từ chính sách bãi bỏ trần giá điện, giá nước... Thứ ba là từ chính
sách tăng lương thêm 21-22%. Thứ tư là do mức giá trên thế giới không còn giảm
11