ỦY BAN GIÁM SÁT TÀI CHÍNH QUỐC GIA
***
BÁO CÁO
TRIỂN VỌNG KINH TẾ VIỆT NAM 2012-2013
Hà Nội, năm 2011
Chỉ đạo thực hiện: TS. Vũ Viết Ngoạn, Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia
Phối hợp chỉ đạo:
• TS. Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia
• TS. Hà Huy Tuấn, Phó Chủ tịch Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia
Cố vấn:
• TS. Lê Đức Thúy, Nguyên Thống đốc NHNN Việt Nam, Nguyên Chủ tịch
UBGSTCQG
• Ông Trương Đình Tuyển, Nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại
• GS-TSKH. Nguyễn Quang Thái, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học Kinh
tế Việt Nam
• Chuyên gia độc lập Bùi Trinh
• TS. Vũ Quang Đông
Bình luận:
• TS. Vũ Thành Tự Anh
• TS. Nguyễn Đức Thành
Chuyên gia thực hiện:
• Chuyên gia độc lập Bùi Trinh
• TS. Vũ Quang Đông
• ThS. Bùi Huy Thọ
• Đặng Vương Anh
• ThS. Bùi Quốc Dũng
• ThS. Nguyễn Mạnh Hà
• ThS. Nguyễn Bá Khang
• ThS. Dương Thị Mỹ Linh
• Hoàng Thị Mơ
• Vũ Thị Minh Thu
từ một quốc gia nghèo với mức thu nhập bình quân đầu người 180 USD và siêu lạm phát
lên tới trên 700% đã trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình; đi đầu trong việc giảm
tỷ lệ hộ nghèo và là một trong số ít những quốc gia đang phát triển đạt nhiều Mục tiêu
Thiên niên kỷ trước thời hạn. Tuy nhiên, những năm gần đây, kinh tế Việt Nam đối mặt với
nhiều bất ổn: lạm phát, nhập siêu, nợ công, bội chi ngân sách… tăng cao; tốc độ tăng
trưởng kinh tế có xu hướng chậm lại. Trong bối cảnh như vậy, hai vấn đề lớn đang được
đặt ra cho các nhà hoạch định chính sách cũng như các nhà nghiên cứu:
Thứ nhất, kinh tế Việt Nam đang chứng kiến một thực tế là hiệu suất đầu tư giảm
sút và chi phí trung gian tăng cao, được phản ánh rõ qua chỉ số ICOR tăng từ mức bình
quân 4,89 trong giai đoạn 2000-2005 lên 7,17 trong giai đoạn 2006-2010. Với mục đích
duy trì tốc độ tăng trưởng cao, chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa đã được nới lỏng.
Tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán và tín dụng trong giai đoạn 2006-2010 tăng nhanh
hơn giai đoạn 2000-2005; bội chi ngân sách cũng vượt trên 5% GDP. Hệ quả là nền kinh tế
đã trở nên quá “nóng” (tốc độ tăng trưởng sản lượng thực tế vượt quá sản lượng tiềm năng)
và vì thế lạm phát gia tăng, các cân đối vĩ mô bị phá vỡ. Đánh giá, đo lường sản lượng
tiềm năng làm cơ sở để xác định mục tiêu tăng trưởng kinh tế hợp lý trong những năm tới
đây trở thành một yêu cầu không thể thiếu trong việc hoạch định và điều hành chính sách
kinh tế vĩ mô.
Thứ hai, tiến trình phục hồi kinh tế thế giới sau cuộc khủng hoảng tài chính và suy
thoái kinh tế toàn cầu 2008-2009 đang bị đe dọa nghiêm trọng. Các quốc gia châu Âu đang
có nguy cơ bị nhấn chìm trong cuộc đại khủng hoảng nợ công và khu vực đồng tiền chung
châu Âu có nguy cơ bị tan vỡ; kinh tế Mỹ đang phải vật lộn với nạn thất nghiệp và tình
trạng suy giảm lòng tin của thị trường vào hiệu lực chính sách. Ngoài ra, tình trạng mất cân
đối trên bình diện toàn cầu cũng như bất ổn về an ninh, chính trị ở khu vực Trung Đông và
Bắc Phi càng làm cho kinh tế thế giới thêm nhiều khó khăn. Kinh tế Việt Nam chắc chắn sẽ
chịu tác động không nhỏ từ những bất ổn của kinh tế thế giới.
Là cơ quan được giao chức năng giám sát thị trường tài chính (ngân hàng, chứng
khoán, bảo hiểm), giúp Thủ tướng Chính phủ thực hiện giám sát chung thị trường tài chính,
điều phối chính sách kinh tế vĩ mô, UBGSTCQG tiến hành nghiên cứu, xây dựng Báo cáo
“Triển vọng kinh tế Việt Nam 2012-2013”. Bên cạnh việc đem lại một cái nhìn tổng
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
GO Tổng sản lượng
GTGD Giá trị giao dịch
HP filter Phương pháp lọc Hodrick-Prescott
ICOR Hệ số tăng vốn - sản lượng
IIP Chỉ số phát triển công nghiệp
IMF Quỹ Tiền tệ Quốc tế
KLGD Khối lượng giao dịch
LC Thư tín dụng
LDR Tỷ lệ cho vay/huy động vốn
LNH Liên ngân hàng
M2 Tổng phương tiện thanh toán
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTW Ngân hàng trung ương
NSNN Ngân sách nhà nước
REER Tỷ giá thực đa phương
RER Tỷ giá thực song phương
SBV Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
SUT Bảng Nguồn và Sử dụng
TCTD Tổ chức tín dụng
TCTK Tổng cục Thống kê
TFP Năng suất nhân tố tổng hợp
TTCK Thị trường chứng khoán
UBGSTCQG Ủy ban Giám sát Tài chính Quốc gia
USD Đồng đôla Mỹ
VA Giá trị gia tăng
VND Việt Nam đồng
WB Ngân hàng Thế giới
WTO Tổ chức Thương mại Thế giới
XNK Xuất nhập khẩu
8
cùng với sự giảm tốc đầu tư theo tinh thần Nghị quyết 11 về giảm tổng cầu nhằm kiểm soát
lạm phát, tỷ lệ này đã giảm mạnh xuống còn 34,6% năm 2011.
Hình 2: Tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP giai đoạn 2006-2011
Đơn vị: %
Nguồn: TCTK.
Về tỷ trọng, mặc dù có xu hướng giảm nhưng khu vực kinh tế nhà nước vẫn chiếm tỷ
trọng lớn trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội (từ mức trung bình 54,1% trong giai đoạn 2000-
2005 xuống 39,1% trong giai đoạn 2006-2010; năm 2011 tỷ trọng này là 38,9%). Đáng chú ý,
tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước cũng có xu hướng giảm qua các năm (từ mức
38,1% năm 2006 xuống còn 36,1% năm 2010 và 35,2% năm 2011); trong khi đó, tỷ trọng của
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài lại có xu hướng tăng (từ mức 16,2% năm 2006 lên mức
25,9% năm 2011).
Hình 3: Tỷ trọng đầu tư của các khu vực kinh tế trong tổng đầu tư toàn xã hội
giai đoạn 2006-2011
Đơn vị: %
Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK.
2.1.2. Mối quan hệ giữa tiết kiệm và đầu tư S-I
Trong những năm gần đây, mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư ngày càng trầm
trọng. Trong giai đoạn 2007-2009, mức chênh lệch đã lên đến trên 10% GDP, cao hơn rất
nhiều so với giai đoạn từ 2002-2006
2
. Lý do là trong khi tỷ lệ tiết kiệm khá ổn định, đầu tư
lại có xu hướng tăng nhanh. Bên cạnh đó, nếu trước năm 2007, phần lớn thâm hụt tiết kiệm
của khu vực công (Sg-Ig) được tài trợ bởi thặng dư tiết kiệm của khu vực tư nhân (Sp-Ip)
thì từ năm 2007 trở đi, cả khu vực tư nhân cũng chịu thâm hụt tiết kiệm, kéo theo đó chênh
lệch S-I của cả nền kinh tế tăng nhanh
3
.
Phần thiếu hụt này phải dựa vào nguồn bên ngoài để bù đắp, nhưng nguồn này là
Nguồn: GSO, UBGSTCQG.
4 Bản chất của thâm hụt vãng lai (và thâm hụt thương mại) bắt nguồn từ cấu trúc kinh tế, trong đó cốt lõi
là sự mất cân đối giữa tiết kiệm và đầu tư: CAB = S-I = (Sp-Ip) + (Sg-Ig).
5 S= GDP + thu nhập tài sản ròng từ nước ngoài + thu nhập chuyển giao ròng + thuế trực thu – (C + G).
Tuy nhiên, do hạn chế về nguồn số liệu, Nhóm nghiên cứu tính toán sơ bộ như sau: S ~ GDP – C.
6 ICOR được tính theo công thức: ICOR = Δk/ΔGDP, trong đó k là tích lũy vốn (capital stock). Tuy
nhiên, do hạn chế về số liệu khấu hao nên Nhóm nghiên cứu tính toán theo công thức ICOR =
(I/GDP)/ΔGDP. Theo cách tính này, hệ số ICOR bình quân của giai đoạn 2000-2005 là 4,89 (tính theo giá
so sánh năm 1994).
7 Cụ thể, hệ số ICOR của các nước (cùng giai đoạn phát triển với Việt Nam) như sau: Malaixia trung bình
dưới 5 trong giai đoạn 2001-2008; Inđônêxia trung bình là 4,4 trong giai đoạn 2001-2008; Thái Lan trung
bình là 4,8 trong giai đoạn 2001-2008. (Nguồn; Fukumari Kimura, Soji Samikawa, 4/2009).
10
- Trong giai đoạn 2006-2010, trong khi tổng giá trị sản xuất tăng trung bình khoảng
11%/năm thì tốc độ tăng giá trị gia tăng chỉ vào khoảng 6%. Điều này cho thấy chi phí trung
gian đang tăng lên nhanh chóng và hiệu quả sản xuất, kinh doanh đang giảm sút.
Hình 6: Tốc độ tăng Tổng sản lượng (GO) và Giá trị gia tăng (VA) của nền kinh tế
giai đoạn 2001-2010
Đơn vị: %
- Trong giai đoạn 2006-2011, theo nhiều nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam chủ yếu
vẫn tăng trưởng dựa vào vốn đầu tư (đóng góp của nhân tố vốn chiếm trên 50%, thậm chí
gần 60%); trong khi đóng góp của nhân tố lao động và TFP
8
còn thấp (tương ứng dưới 20%
và 30%)
9
. Đáng chú ý, phần đóng góp của nhân tố lao động và TFP lại có xu hướng giảm
dần. Theo đó, mô hình tăng trưởng hiện nay là tăng trưởng theo chiều rộng (dựa trên sự
mở rộng nguồn vốn đầu tư), chưa chú trọng đến tăng trưởng theo chiều sâu (tăng trưởng
dựa trên việc cải thiện năng suất, chất lượng, năng lực cạnh tranh…).
17,3% của thời kỳ 2001-2005 lên mức 22,3% giai đoạn 2006-2010; tuy nhiên, tỷ lệ này giảm
mạnh trong năm 2011, đạt 9,9%.
Hình 8: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và nhập siêu giai đoạn 2006-2011
Đơn vị: triệu USD
Nguồn: Tính toán từ số liệu của TCTK.
2.2.2. Nghiên cứu chỉ số lan tỏa và một số gợi ý chính sách
Như trên đã nêu, nhập siêu có xu hướng tăng nhanh cả về khối lượng và tốc độ.
Theo nhiều nghiên cứu, có nhiều nguyên nhân gây ra tình trạng này: tiêu dùng trong nước
tăng nhanh, khả năng sản xuất và xuất khẩu còn hạn chế, năng lực cạnh tranh của hàng
xuất khẩu còn yếu, Việt Nam cần nhập khẩu nhiều máy móc thiết bị, xăng dầu… Tuy
nhiên, để đi sâu chi tiết và lượng hóa xem ngành, lĩnh vực nào chủ yếu gây ra nhập siêu,
cần tính toán chỉ số lan toả về kinh tế và chỉ số kích thích nhập khẩu trên cơ sở phân tích
cấu trúc của nền kinh tế thông qua bảng Cân đối liên ngành (bảng I/O) (xem Phụ lục 3).
10 Tháng 1/2007, Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO.
12
Kết quả tính toán cho thấy, trong số 16 nhóm ngành chính, chỉ có 2 nhóm ngành có
chỉ số lan toả về kinh tế cao hơn 1 và chỉ số kích thích nhập khẩu nhỏ hơn 1 (nhóm ngành
nông nghiệp và nhóm ngành công nghiệp chế biến sản phẩm từ nông nghiệp). Hầu hết các
ngành chế biến chế tạo đều có chỉ số kích thích nhập khẩu rất cao, cho thấy các ngành này
càng phát triển thì càng kích thích mạnh nhập khẩu.
Nguyên nhân của tình trạng nhập siêu không phải do nhu cầu tiêu dùng cuối cùng vì
nhu cầu tiêu dùng cuối cùng hàng nhập khẩu chỉ chiếm chưa tới 10% trong tổng số nhập
khẩu; chính nhu cầu hàng hóa cho sản xuất mới là nguyên nhân chính gây nhập siêu. Nền
công nghiệp chế biến chế tạo của Việt Nam còn nhiều hạn chế, công nghiệp phụ trợ kém
phát triển, sản xuất chủ yếu mang tính gia công nên đã tạo ra sự phát triển nhanh về số
lượng trong khi chất lượng ít có sự cải thiện. Hầu hết máy móc, nguyên vật liệu chính đều
phải nhập khẩu. Hiệu quả sản xuất ngày càng giảm sút, thể hiện ở việc tỷ lệ chi phí trung
gian trên giá trị sản xuất liên tục tăng lên.
Từ những phân tích trên, có thể thấy, rất cần có sự thay đổi về chính sách thương
mại, ví dụ: cần hướng đầu tư vào những ngành có hệ số lan toả kinh tế cao và chỉ số kích
gồm cả việc điều chỉnh tỷ giá (theo tính toán của UBGSTCQG, việc điều chỉnh tăng tỷ giá
9,3% vào tháng 2/2011 có thể khiến CPI năm 2011 tăng thêm 1,2%.), điều chỉnh lương và
điều chỉnh giá một số mặt hàng cơ bản (theo tính toán của UBGSTCQG, việc điều chỉnh
giá điện đầu năm 2011 (18%) có thể khiến CPI năm 2011 tăng thêm 0,75%; giá xăng tăng
thêm 20% khiến CPI năm 2011 tăng thêm khoảng 0,5%.). Nhưng ảnh hưởng của chi phí
đẩy ở vòng 1 đến lạm phát chỉ ở mức độ nhất định, chưa phải là yếu tố quyết định làm lạm
phát tăng cao.
+ Lạm phát cầu kéo: lạm phát cầu kéo ở Việt Nam biểu hiện ở việc tổng cầu tăng
quá nhanh, thể hiện qua hai khía cạnh: (i) Tổng phương tiện thanh toán
13
(M2) luôn duy trì
tốc độ tăng cao (M2 tăng 22,8%/năm giai đoạn 2000-2005 và 29,5%/năm giai đoạn 2006-
2010), khiến “độ sâu tài chính” (tính bằng tỷ số M2/GDP) tăng vọt từ mức 97,6% năm
2006 lên tới mức 133,8% năm 2010. Trong giai đoạn 2007-2010, M2 đã tăng 2 lần, trong
khi đó GDP danh nghĩa tăng 1,73 lần và GDP thực tế chỉ tăng 1,2 lần; (ii) sản lượng thực
tế trong những năm gần đây đã tăng quá cao so với tiềm năng
14
, từ đó gây ra lạm phát.
+ Một số yếu tố đặc thù khác: (i) Tình trạng phát triển quá nóng của thị trường bất
động sản, thị trường chứng khoán, tình trạng đôla hóa, vàng hóa nghiêm trọng khiến một
lượng vốn lớn của xã hội không được đầu tư trực tiếp cho sản xuất; (ii) “Kỳ vọng lạm
phát” cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực, tạo thành “lạm phát tâm lý”.
11 Tỷ lệ kim ngạch XNK/GDP lên đến mức 170%; tỷ lệ kim ngạch nhập khẩu/GDP ở mức 89%.
12 Trong giai đoạn 2007-2010, tỷ lệ lạm phát bình quân của Trung Quốc vào khoảng 3,32%/năm; Thái
Lan 3,2%/năm; Malaixia 2,4%/năm; Inđônêxia 6,5%/năm; Philipin 4,8%/năm (nguồn: WB).
13 Tổng phương tiện thanh toán (M2) là biến số có sự quan hệ chặt chẽ với tổng cầu trong nền kinh tế,
thường được sử dụng để đánh giá biến động tổng cầu của nền kinh tế.
14 Theo một số nghiên cứu gần đây, sản lượng thực tế của Việt Nam từ năm 2007 đã vượt quá sản lượng
tiềm năng từ 0,5-1,5 điểm%.
14
. Dư nợ nước ngoài chiếm 30% trong cơ
cấu nợ công và dư nợ nội địa phần lớn là trái phiếu chính phủ do các NHTM nắm giữ, vì vậy
15 Gói kích thích kinh tế, bao gồm gói đầu tư công, gói chính sách thuế và gói an sinh xã hội với tồng giá
trị lên tới trên 100 nghìn tỷ đồng.
16 Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2006-2010 đạt 7,02%/năm. Năm 2009, tốc độ tăng trưởng GDP
giảm xuống còn 5,32%, tuy nhiên Việt Nam là 1 trong 12 nước có tốc độ tăng trưởng dương trong bối
cảnh khủng hoảng được đánh giá là tồi tệ nhất trong lịch sử.
17Bội chi ngân sách tăng lên mức 5,6% GDP giai đoạn 2006-2010 so với 4,9% GDP giai đoạn 2001-
2005, trong khi nợ công tăng từ mức 33,8% GDP năm 2007 lên 57,3% năm 2010, tăng 23,5 điểm%. Trong
năm 2011, nợ công giảm xuống mức 54,6% GDP do khoản chi trả nợ tăng 15.000 tỷ đồng so với dự toán.
15
biến động tỷ giá của những đồng tiền có tỷ trọng lớn trong cơ cấu nợ nước ngoài cũng như sự
ổn định và hiệu quả của hệ thống ngân hàng có tác động lớn đến tính an toàn của nợ công. Bên
cạnh đó, việc thực thi chính sách thời gian qua có một số hạn chế: (i) mức huy động cho
NSNN cao (mức huy động NSNN thực hiện 27,2% GDP, cao hơn đến 4 điểm% so với
mức kế hoạch 23% GDP) trong điều kiện nền kinh tế khó khăn đã làm tăng thêm gánh
nặng của các doanh nghiệp; (ii) NSNN thâm hụt cao và liên tục trong nhiều năm được bù
đắp một phần bằng việc phát hành trái phiếu đã làm tăng M2. Trong những năm gần đây,
đặc biệt trong giai đoạn 2009-2010, nhằm ngăn chặn đà suy giảm kinh tế do ảnh hưởng của
cuộc suy thoái kinh tế toàn cầu, Việt Nam đã thực hiện chương trình kích cầu, nâng tổng
đầu tư lên rất cao
18
. Để bù đắp thâm hụt ngân sách và có nguồn đầu tư phát triển, Chính
phủ đã phát hành trái phiếu đồng thời bảo lãnh cho 2 ngân hàng chính sách và Tổng công
ty đầu tư phát triển đường cao tốc phát hành trái phiếu với số lượng khá lớn
19
. Việc phát
hành trái phiếu này nếu bán cho công chúng (hộ gia đình và doanh nghiệp) thì không tác
động làm thay đổi M2. Nhưng thực tế số trái phiếu này hầu hết bán cho các tổ chức tín
dụng và các tổ chức tín dụng sử dụng để chiết khấu hoặc bán cho NHNN qua nghiệp vụ thị
HNX chỉ là 59,7 triệu cổ phiếu, giảm 27,5% so với năm 2010; GTGD bình quân phiên tính
đến 12/2011 là 798,3 tỷ đồng, giảm 64,7% so với năm 2010.
- Nhiều công ty chứng khoán (CTCK) thua lỗ và thậm chí đã có một số công ty lâm
vào tình trạng mất thanh khoản
20
. Tính đến 9/2011, 65 CTCK thua lỗ và 71 CTCK có lỗ
lũy kế.
- Nhà đầu tư nước ngoài trong thời gian gần đây đã hầu như không quan tâm đến
TTCK Việt Nam khi duy trì trạng thái bán ròng liên tiếp kể từ tháng 8/2011 đến nay (trừ
tháng 11) với tổng giá trị bán ròng lên đến hơn 2.000 tỷ đồng; cá biệt có phiên giao dịch
khối ngoại bán ròng ở mức kỷ lục 710 tỷ đồng.
Có thể thấy, nếu kinh tế vĩ mô không tạo được lực đẩy và nếu không có chính sách
hỗ trợ thị trường chứng khoán cũng như các biện pháp củng cố lòng tin của nhà đầu tư thì
năm 2012 thị trường có thể tiếp tục sụt giảm và như vậy sẽ làm tăng rủi ro chéo lên hệ
thống ngân hàng, thị trường ngoại hối và gia tăng áp lực mất giá VNĐ.
Hình 12: Chỉ số VnIndex, HnxIndex và khối lượng giao dịch
giai đoạn giai đoạn 2006 đến nay
Đơn vị: điểm; triệu cổ phiếu/phiên
20 Chỉ trong vòng hơn 1 tháng kể từ 1/11 đến 5/12/2011, CTCK SME đã hai lần lâm vào tình trạng thiếu
hụt thanh khoản; CTCK Tràng An cũng bị mất khả năng thanh toán với giá trị giao dịch 7 tỷ đồng.
17
18
2. Thị trường tiền tệ: khu vực ngân hàng yếu đi sau nhiều năm tăng trưởng nóng
CSTT trong giai đoạn 2006-2010 có sự mở rộng khá nhanh, cụ thể: tổng phương
tiện thanh toán (M2) tăng bình quân 30,2%/năm, cao hơn mức tăng bình quân 23,2%/năm
giai đoạn 2001-2005; tín dụng cho nền kinh tế tăng bình quân 33,2%/năm, cao hơn mức
tăng bình quân 26,1%/năm của giai đoạn 2001-2005. Theo đó, tỷ lệ M2/GDP đã tăng từ
mức 0,97 lần năm 2006 lên đến 1,34 lần năm 2010 - mức cao so với các nước trong khu
vực; tỷ lệ tín dụng/GDP đã tăng từ 0,71 lần năm 2006 lên mức 1,16 lần năm 2010. Việc mở
rộng quá nhanh CSTT trong khi tăng trưởng kinh tế không tương xứng được xem là một
thanh toán khoảng 15-16%.
19
tượng chiếm dụng vốn lẫn nhau giữa các ngân hàng diễn ra khá phổ biến, kéo theo hiện
tượng căng thẳng thanh khoản (ban đầu chỉ diễn ra ở một số ngân hảng nhỏ nay đã lan ra
toàn hệ thống ngân hàng); đồng thời căng thẳng thanh khoản từ chỗ chỉ diễn ra với kỳ hạn
dài nay đã diễn ra đối với tất cả các kỳ hạn, kể cả kỳ hạn ngắn. Thanh khoản căng thẳng,
nợ xấu (cả thị trường 1 và thị trường 2) tăng cao làm lãi suất huy động và cho vay không
thể hạ được mặc dù lạm phát đang có xu hướng giảm khá nhanh.
Áp lực thanh khoản cũng có thể được nhìn nhận dựa vào việc chỉ tiêu cho vay/huy
động (LDR) đang có xu hướng tăng cao. Áp lực thanh khoản một mặt đẩy mặt bằng lãi suất
tăng cao do các NHTM cạnh tranh huy động tiền gửi, mặt khác gây nhiều rủi ro cho hệ thống
ngân hàng khi CSTT được thắt chặt để kiềm chế lạm phát. Về nguyên nhân, có thể thấy, việc
tín dụng luôn tăng nhanh hơn M2 cũng góp phần làm tăng áp lực lên thanh khoản của hệ
thống.
Bảng 2: Tỷ lệ cho vay/huy động (LDR) giai đoạn 2008-2011
Đơn vị: %
Năm 2008 2009 2010 Ước 2011
LDR 0,95 1,01 1,01 1,02-1,03
Nguồn: UBGSTCQG.
Chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng ngày một xấu hơn do hệ quả tăng
trưởng tín dụng quá cao trong những năm qua trong khi năng lực quản lý rủi ro thấp và
những bất cập trong điều hành CSTT, lãi suất của cơ quan quản lý nhà nước. Cụ thể là nợ
xấu của toàn hệ thống ngân hàng tính đến hết quý II/2011tăng nhanh lên mức 71,6 nghìn tỷ
đồng (tăng hơn 20 nghìn tỷ đồng so với cuối năm 2010 và tăng 45,1% so với cùng kỳ năm
trước) và gần đây đã tăng lên mức 85 nghìn tỷ đồng. Tốc độ tăng trung bình của nợ xấu
trong 6 tháng đầu năm 2011 là 7,3%/tháng, cao gấp đôi mức bình quân tháng của năm
2010. Nợ xấu tăng nhanh trong khi tín dụng tăng thấp cho thấy chất lượng tín dụng đang
suy giảm và phản ánh những khó khăn của doanh nghiệp trong năm 2011, làm tăng rủi ro
tín dụng cho hệ thống ngân hàng.
Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ cũng tăng mạnh, lên mức 2,88% vào tháng 6/2011 và gần