BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TÔN NỮ XUÂN DIỄM
ĐO LƯỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA
CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN
2008 – 2014 THEO MÔ HÌNH CAMELS
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TÔN NỮ XUÂN DIỄM
ĐO LƢỜNG VÀ ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA CÁC
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008 – 2014
THEO MÔ HÌNH CAMELS
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRƢƠNG QUANG THÔNG
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2016
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU ......................................................................................... 1
1.1.
Giới thiệu vấn đề nghiên cứu ......................................................................... 1
1.2.
Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu ................................................................ 3
1.3.
Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ................................................................... 4
1.3.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ............................................................... 4
1.3.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ................................................................. 5
1.3.3. Đóng góp mới của đề tài ................................................................................ 6
1.4.
Mục tiêu nghiên cứu....................................................................................... 7
1.5.
Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................ 7
1.6.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................. 7
1.7.
Phương pháp đánh giá NLTC dựa trên chuẩn mực của Moody’s ........... 20
2.2.2.
Phương pháp đánh giá NLTC dựa trên mô hình CAMELS .................... 20
KẾT LUẬN CHƢƠNG 2 ........................................................................................... 24
CHƢƠNG 3: ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA NHTM VIỆT NAM
THÔNG QUA MÔ HÌNH CAMELS ....................................................................... 26
3.1.
Hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay .................................. 26
3.2.
Đo lường và đánh giá Năng lực tài chính của NHTM Việt Nam theo mô
hình CAMELS ......................................................................................................... 27
3.2.1.
C (Capical Adequacy) – Đủ khả năng về vốn ......................................... 27
3.2.2.
A (Assets Quality) – Chất lượng tài sản .................................................. 32
3.2.3.
E (Earnings) – Khả năng sinh lời............................................................. 37
Căn cứ trên định hướng phát triển ngành ngân hàng ............................... 62
5.2.2.
Căn cứ trên bài học kinh nghiệm tại các quốc gia khác .......................... 64
5.2.3.
Căn cứ trên kết quả đánh giá năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam
giai đoạn 2008 – 2014 .............................................................................................. 65
5.3.
Nam
Đề xuất giải pháp nhằm nâng cao năng lực tài chính cho các NHTM Việt
...................................................................................................................... 66
KẾT LUẬN CHƢƠNG 4 ........................................................................................... 75
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
STT Từ viết tắt
1
LNST
Lợi nhuận sau thuế
2
NHTMNN
Ngân hàng thương mại nhà nước
8
NLTC
Năng lực tài chính
9
VCSH
Vốn chủ sở hữu
10
ROA
Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản
11
ROE
Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu
Bảng 3.21: So sánh ROA của các NHTM Việt Nam với NHTM của một số quốc gia
khác năm 2012 ..........................................................................................................59
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ nợ xấu bình quân của 20 NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 –
2014 ...........................................................................................................................35
1
CHƢƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1.
Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
Trong nền kinh tế thế giới hiện nay, xu hướng toàn cầu hóa với những đặc
trưng tự do hóa thương mại và tự do hóa tài chính ngày càng mạnh mẽ và rộng khắp
đã và đang chi phối khuynh hướng và cấu trúc vận động của hệ thống tài chính ngân
hàng từng quốc gia.
Hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính ngân hàng có thể coi là cốt lõi
của nền kinh tế với vai trò to lớn trong việc duy trì, cung ứng, điều phối và lưu
thông tiền tệ đảm bảo cho toàn bộ hoạt động của nền kinh tế. Để hoạt động hiệu quả
trên thị trường đòi hỏi các ngân hàng thương mại (NHTM) phải xây dựng và củng
cố một nền tảng nội lực vững chắc, giữ vững vị thế trên thị trường đồng sẵn sàng
đương đầu với những thách thức và khó khăn trong cạnh trên thị trường.
Tuy nhiên sức ép cạnh tranh trên thị trường tác động đến từng ngân hàng như
thế nào còn phụ thuộc một phần vào khả năng thích nghi và NLTC của chính các
ngân hàng trong môi trường cạnh tranh gay gắt này. Các ngân hàng không có khả
năng cạnh tranh sẽ được thay thế bằng các ngân hàng có hiệu quả hơn, điều này cho
thấy chỉ có các ngân hàng có NLTC tốt, kinh doanh hiệu quả nhất mới có lợi thế về
đánh giá theo văn bản của NHNN bao gồm: Vốn tự có; chất lượng hoạt động; quản
trị, kiểm sát, điều hành; kết quả kinh doanh; khả năng thanh khoản.
Trong số các phương pháp đánh giá NLTC thì khung mô hình CAMELS mặc
dù vẫn chưa thật sự toàn diện, do hệ thống báo cáo tài chính của các TCTD Việt
Nam chưa đủ dữ liệu tin cậy. Tuy nhiên, ưu điểm của mô hình CAMELS là các tiêu
chí đánh giá năng lực và tình hình tài chính được định lượng và áp dụng đồng nhất
với tất cả các ngân hàng. Do đó, mô hình vẫn được các nhà quản lý ngân hàng quan
tâm và sử dụng rộng rãi trên thế giới nói chung và tại Việt Nam nói riêng từ năm
1970. Phương pháp này cung cấp một công cụ đánh giá không chỉ dựa trên các yếu
tố định lượng chủ yếu qua các chỉ số tài chính mà còn cả định tính để đánh giá phân
tích hoạt động của NHTM. Do vậy, luận văn này sẽ đi sâu vào việc đo lường, đánh
giá NLTC của các NHTM Việt Nam theo mô hình CAMELS, giai đoạn nghiên cứu
là 2008 – 2014.
3
1.2.
Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Như đã phân tích, việc đánh giá NLTC của các NHTM Việt Nam là vô cùng
quan trọng, vì từ đó các nhà quản lý có thể thấy được hệ thống NHTM hiện nay
đang có những điểm mạnh hay yếu kém ở phương diện nào, NLTC của các ngân
hàng này ở đâu, có khả năng cạnh tranh trên thị trường hay không. Từ đó có thể đưa
ra các quyết định thực hiện cơ cấu lại hệ thống ngân một cách có cơ sở, định hướng
việc sáp nhập, hợp nhất cũng có căn cứ khoa học.
Bên cạnh đó, khi đánh giá được NLTC của các NHTM sẽ xác định được các
yếu tố ảnh hưởng đến nó và từ đó giúp các nhà quản lý ở cấp độ vi mô, vĩ mô có
căn cứ đưa ra các giải pháp khả thi nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể: nâng cao
khả năng tài chính của các tổ chức tín dụng bị chi phối của các yếu tố như quy mô
vốn, khả năng sinh lời, chất lượng tài sản, chất lượng quản lý, khả năng thanh khoản
của các tài sản. Nghiên cứu không thực hiện phân tích sự tác động của nhân tố S
đến năng lực tài chính.
Nghiên cứu John Tatom (2008)
Tác giả nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tài chính theo tiêu
chuẩn của mô hình CAMEL. Nghiên cứu của tác giả đã cho thấy đánh giá khả năng
tài chính của các ngân hàng có thể bị tác động bởi C, A, M, E, L. Sau đó tác giả sử
dụng phương pháp hạ cấp để dự báo khả năng thất bại trong tương lai của các tổ
chức tín dụng giai đoạn 2003-2007.
Nghiên cứu của Parvesh Kumar Aspan (2014)
Trong bài viết, tác giả ứng dụng mô hình CAMELS để đánh giá năng lực tài
chính của NHTM. Dữ liệu thứ cấp là báo cáo tài chính giai đoạn 2008 – 2012 của
13 NHTM khu vực tư nhân của Ấn độ với để đánh giá và xếp hạng năng lực tài
chính. Trên cơ sở 5 nhóm chỉ tiêu theo mô hình CAMELS, tác giả đã đánh giá 18
chỉ số liên quan đến CAMELS để đánh giá. Kết quả nghiên cứu cho thấy mô hình
này có thể áp dụng rộng rãi để đánh giá năng lực tài chính đối với tất cả các NHTM.
Ngoài ra còn có các công trình nghiên cứu gần đây như Wirnkar A.D. và
Tanko M. (2008) công bố công trình CAMELS and bank performance evaluation:
5
the way forward; Mohi-ud-Din Sangmi và Tabassum Nazir (2010) công bố công
trình Analyzing financial performance of commercial banks in India: application of
CAMEL model; Litty Denis và Yesha Sheth (2012) công bố công trình Present
Scenario of Indian banking industry: An appraisal through CAMEL analysis; S. N.
Bhatt (2013) công bố công trình An empirical sttudy to evaluate CAMELS rating
system on Indian banks; Sushendra Kumar Mishra và Parvesh Kumar Aspal (2013)
công bố công trình A CAMEL model analysis of state bank group; Gupta. PK.
hội nhập kinh tế quốc tế” năm 2011.
Tác giả chỉ tập trung phân tích tại 4 Ngân hàng Thương mại Nhà nước từ 2006
- 2010. Chưa đi sâu khai thác nhóm các Ngân hàng cổ phần trong nước, và thời gian
nghiên cứu còn hạn chế.
Qua tổng kết các nghiên cứu trong và ngoài nước về đánh giá NLTC của các
NHTM có thể thấy các nghiên cứu đã có thường chỉ phân tích, đánh giá NLTC tại
một hoặc một số ngân hàng cụ thể mà chưa phân tích, đánh giá một cách toàn diện
hệ thống NHTM Việt Nam. Ngoài ra, hầu hết các nghiên cứu về đánh giá NLTC
của NHTM Việt Nam theo mô hình CAMELS thường chỉ tập trung vào 5 yếu tố mà
chưa phân tích toàn diện mô hình 6 yếu tố bao gồm cả S (Sensitivity to market) –
Độ nhạy cảm với thị trường.
1.3.3. Đóng góp mới của đề tài
Về phương diện học thuật: Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung
về NLTC, các tiêu chí đánh giá NLTC. Do vậy, kết quả nghiên cứu sẽ có những
đóng góp nhất định vào việc hoàn thiện khung lý thuyết về NLTC của các NHTM.
Về phương diện thực nghiệm: Đề tài đã đi sâu vào nghiên cứu đo lường và
đánh giá NLTC của các NHTM Việt Nam theo khung an toàn CAMELS theo mô
hình toàn diện bao gồm 6 phương diện, đó là: C (Capital Adequacy) – Đủ khả năng
về vốn, A (Asset Quality) – Chất lượng tài sản, M (Management) – Quản lý, E
(Earnings) – Lợi nhuận, L (Liquidity) – Chất lượng tài sản và S (Sensitivity to
market risks) – Nhạy cảm với rủi ro thị trường.
7
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghiên cứu tổng quát cho hầu hết các
NHTM tại Việt Nam.
1.4.
Mục tiêu nghiên cứu
1.6. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu:
Về không gian: Gồm 20 NHTM trong hệ thống NHTM tại Việt Nam. Cụ
thể như sau:
12 NHTM có tổng tài sản từ 100.000 tỷ đồng trở lên: Agribank,
Vietinbank, Vietcombank, BIDV, Sacombank, MBbank, ACB, SHB,
Eximbank, Techcombank, VPBank, MaritimeBank.
8
8 NHTM có tổng tài sản dưới 100.000 tỷ đồng gồm: Southernbank,
DongABank, ABBank, HDBank, VIB, OCB, SaigonBank, NCB.
Về thời gian: Dữ liệu dùng để thực hiện luận văn được thu thập trong
khoảng thời gian từnăm 2008 – 2014.
1.7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp giữa phương pháp thống kê so sánh, phương pháp
phân tích tổng hợp, tư duy logic. Phương pháp thống kê so sánh được sử dụng bằng
cách thống kê các số liệu thu thập được trong một chuỗi thời gian để lập bảng, biểu
diễn trên biểu đồ để so sánh và đánh giá năng lực tài chính của các NHTM Việt
Nam, so sánh mức độ đáp ứng về năng lực tài chính của các NHTMVN với chuẩn
mực quốc tế theo mô hình CAMELS. Bằng phương pháp phân tích, tổng hợp kết
hợp tư duy logic để tiến hành phân tích chi tiết, lập luận, diễn giải và tổng hợp để
trên cơ sở đó đưa ra những nhận xét về đối tượng nghiên cứu, đồng thời đưa ra giải
pháp để nâng cao năng lực tài chính của các NHTM Việt Nam đến năm 2020.
-
Nguồn thu thập dữ liệu
vấn đề phân tích. Phân tích thực trạng tình hình hoạt động của các Ngân hàng
thương mại Việt Nam thông qua các chỉ tiêu CAMELS, từ đó để có những gợi ý
chính sách nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của Ngân hàng thương mại Việt
Nam hiện nay.
10
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NĂNG LỰC TÀI CHÍNH CỦA
NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI
2.1. Năng lực tài chính của ngân hàng thƣơng mại
2.1.1. Khái niệm về năng lực tài chính của NHTM
Năng lực tài chính không phải là một khái niệm mới, nó được sử dụng rất phổ
biến khi đánh giá kết quả hoạt động của một đơn vị kinh doanh, tuy nhiên chưa có
một khái niệm chính thống.
Theo Từ điển tiếng Việt “Năng lực” có nghĩa là khả năng đủ để làm một công
việc nào đó hay “Năng lực” là những điều kiện được tạo ra hoặc vốn có để thực
hiện một hoạt động nào đó. Trong lĩnh vực tài chính, khi đề cập đến năng lực, ta có
thể hiểu tức là nói đến khả năng của một chủ thể trên các lĩnh vực hoạt động.
Khi đánh giá năng lực của 1 chủ thể, người ta thường xem xét trên nhiều khía
cạnh như năng lực hoạt động, năng lực chuyên môn, năng lực điều hành, năng lực
cạnh tranh, năng lực tài chính, … Do đó, có thể nói năng lực tài chính là 1 khía
cạnh khi đánh giá năng lực của 1 chủ thể. Ngoài ra, việc đánh giá năng lực tài chính
của mỗi đối chủ thể cũng không giống nhau, do sự khác nhau về đặc điểm, mục tiêu
hoạt động của chủ thể đó.
Như vậy, với những phân tích trên, năng lực theo cách hiểu của tác giả là “khả
năng để thực hiện một mục tiêu đề ra của chủ thể dựa trên một điều kiện môi trường
cụ thể”.
Tài chính là một phạm trù có nhiều nhà khoa học đưa ra nhiều quan điểm khác
nhau. Dựa vào quan điểm của P.J.Drake, theo nghĩa hẹp, tài chính đơn thuần phản
động kinh doanh.NLTC không chỉ thể hiện sức mạnh hiện tại mà còn thể hiện sức
mạnh tài chính tiềm năng, triển vọng và xu hướng phát triển trong tương lai của
ngân hàng đó.
NLTC của NHTM cần được hiểu khác với NLTC của một doanh nghiệp. Bởi
vì NLTC của một doanh nghiệp là nguồn lực tài chính của bản thân doanh nghiệp,
12
là khả năng tạo tiền, tổ chức lưu chuyển tiền hợp lý, đảm bảo khả năng thanh toán
thể hiện ở quy mô vốn, chất lượng tài sản và khả năng sinh lời,… đủ để đảm bảo và
duy trì hoạt động kinh doanh hiệu quả. Còn NLTC của một NHTM là khả năng tạo
lập nguồn vốn và sử dụng vốn phát sinh trong quá trình hoạt động kinh doanh của
ngân hàng, thể hiện ở quy mô vốn tự có, chất lượng tài sản, chất lượng nguồn vốn,
khả năng sinh lời và khả năng đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh.
NLTC của một NHTM đóng vai trò vô cùng quan trọng, là năng lực cốt lõi
của một ngân hàng. Một NHTM có NLTC tốt phải là NHTM luôn duy trì được hoạt
động bình thường và phát triển một cách ổn định, bền vững trong mọi điều kiện về
kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước và trên thế giới; có khả năng cung cấp tín
dụng có hiệu quả và các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế; NHTM luôn đáp ứng đầy
đủ yêu cầu khách hàng về vốn và các dịch vụ ngân hàng phù hợp với quá trình phát
triển kinh tế, xã hội trong nước và thế giới. NHTM còn phải bảo đảm được sự tồn
tại và phát triển của mình một cách an toàn, không xảy ra những đổ vỡ hay phá sản.
NLTC của một NHTM càng được đảm bảo thì mức độ rủi ro trong hoạt động
ngân hàng càng thấp và năng lực cạnh tranh của NHTM trên thị trường càng cao.
Do vậy, NLTC của NHTM phải không ngừng được nâng cao và hoàn thiện và đó là
điều kiện không thể thiếu được của bất cứ một NHTM nào.
2.1.2. Các tiêu chí phản ánh năng lực tài chính của NHTM
Có nhiều chỉ tiêu để đánh giá NLTC của một NHTM, cơ bản bao gồm các
chỉ tiêu như: quy mô vốn, tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, chất lượng tài sản, khả năng
Vốn của chủ sở hữu hình thành trong quá trình hoạt động (Vốn chủ
sở hữu bổ sung) do cổ phần phát hành thêm hoặc do ngân sách Nhà nước cấp bổ
sung trong quá trình hoạt động, do chuyển một phần lợi nhuận tích lũy, các quỹ dự
trữ, quỹ đầu tư, bổ sung vốn điều lệ, phát hành giấy nợ dài hạn…
Trên bảng cân đối của NHTM, vốn chủ sở hữu bao gồm các khoản mục cơ
bản: Vốn điều lệ, lợi nhuận chưa phân phối và các quỹ. Trong đó, vốn điều lệ chiếm
tỷ trọng lớn nhất trong nguồn vốn chủ sở hữu và có ý nghĩa rất quan trọng trong
hoạt động kinh doanh của các NHTM.
14
Nếu quy mô vốn chủ sở hữu càng lớn thì người gửi tiền và người cho vay
càng cảm thấy an tâm về ngân hàng (với các điều kiện khác là như nhau). Do đó,
vốn của chủ sở hữu được coi là cơ sở tạo niềm tin cho khách hàng.
Đồng thời, vốn chủ sở hữu còn thể hiện khả năng tài chính, năng lực hoạt
động của một ngân hàng. Vốn chủ sở hữu ảnh hưởng tới quy mô mở rộng mạng
lưới kinh doanh cũng như quy mô hoạt động của NHTM: Khả năng huy động vốn,
khả năng mở rộng tín dụng, dịch vụ, khả năng đầu tư tài chính, trình độ trang bị
công nghệ. Ngoài ra, vốn tự có là đối tượng mà các cơ quan quản lý ngân hàng
thường căn cứ vào đó để xác định các tỷ lệ an toàn và ban hành những quy định
nhằm điều chỉnh hoạt động của các ngân hàng, là tiêu chuẩn để xác định mức độ an
toàn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng
Tiêu chuẩn quốc tế quy định ngân hàng không được cho vay quá 15% vốn và
thặng dư vốn đối với một khách hàng. Đối với các khoản vay được đảm bảo an toàn
thì giới hạn này là 25%. Với mức vốn lớn đồng nghĩa với việc ngân hàng được phép
cho vay những dự án lớn, từ đó làm tăng quy mô tín dụng và tăng quymô tổng tài
sản.
2.1.2.2. Nhóm chỉ tiêu về quy mô và chất lượng tài sản
Ngân hàng kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay và cung ứng
các dịch vụ thanh toán. Vì vậy để tăng trưởng tổng tài sản sẽ không chỉ phụ thuộc
vào sự tăng trưởng của tài sản có mà còn phụ thuộc vào sự tăng trưởng của tài sản
nợ của ngân hàng.
Tài sản
Nội dung hoạt động chủ yếu của một ngân hàng thể hiện ở phía tài sản. Quy
mô, cơ cấu và chất lượng tài sản có sẽ quyết định đến sự tồn tại và phát triển của
NHTM. Tài sản có bao gồm tài sản sinh lời (chiếm từ 80-90% tổng tài sản có) và tài
sản không sinh lời (chiếm từ 10-20% tổng tài sản có). Khi nói đến tăng trưởng của
tổng tài sản là nói đến quy mô của hoạt động tín dụng và hoạt động đầu tư. Chất
lượng tài sản là một chỉ tiêu tổng hợp nói lên khả năng bền vững về tài chính, năng
lực quản lý của một NHTM. Đánh giá quy mô, chất lượng tài sản được thể hiện qua
các chỉ tiêu: Tốc độ tăng trưởng của tổng tài sản, tính đa dạng hoá trong tài sản,
tổng dư nợ, tốc độ tăng trưởng của dư nợ, tỷ trọng dư nợ trên tổng tài sản có, tỷ lệ
quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, tình hình đảm bảo tiền vay…
Bên cạnh hoạt động tín dụng, hoạt động đầu tư cũng góp phần tăng quy mô
tổng tài sản của ngân hàng. Các khoản đầu tư trên bảng cân đối kế toán gồm các
khoản mục: chứng khoán kinh doanh, chứng khoán đầu tư và góp vốn đầu tư dài
16
hạn. Hoạt động đầu tư được đánh giá thông qua các chỉ tiêu như: Quy mô, tốc độ
tăng trưởng, tỷ lệ dự phòng giảm giá chứng khoán…
Trong điều kiện hội nhập quốc tế, các yếu tố về biến động chính trị, sự thay
đổi của chính sách và luật pháp của nước ngoài, sự biến động của các đồng tiền
quốc gia… sẽ ảnh hưởng đến tình hình sử dụng tài sản ở nước ngoài, mối tương
quan giữa tài sản nước ngoài và tài sản ngoại tệ trong tổng tài sản của ngân hàng.
Nguồn vốn
Theo thông lệ quốc tế người ta thường đo lường khả năng sinh lời của NHTM
bằng các chỉ tiêu định lượng: giá trị tuyệt đối của lợi nhuận sau thuế, tốc độ tăng
trưởng lợi nhuận, cơ cấu của lợi nhuận (cho biết lợi nhuận được hình thành từ
nguồn nào) và đặc biệt là các chỉ tiêu tỉ suất lợi nhuận ròng trên vốn tự có (ROE),
lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA), thu nhập lãi cận biên (NIM)…
(1) Tỷ lệ thu nhập/tổng tài sản có (ROA – Return on Assets)
Lợi nhuận sau thuế x 100
ROA (%) =
Tổng tài sản có
Tỷ lệ sinh lời trên tổng tài sản (ROA) thể hiện khả năng của đơn vị trong việc
sử dụng các tài sản của mình để tạo ra lợi nhuận. ROA càng cao thể hiện hiệu quả
kinh doanh cao của ngân hàng với cơ cấu tài sản sinh lời và không sinh lời khá hợp
lý.Tuy nhiên, ROA quá cao không phải là tín hiệu tốt đối với các ngân hàng vì trong
tình huống đó, ngân hàng đang rơi vào tình trạng rủi ro cao do lợi nhuận kỳ vọng và
rủi ro có mối quan hệ thuận chiều.
(2) Tỷ lệ thu nhập/Vốn chủ sở hữu (ROE – Return on equity)
Tỷ lệ sinh lời trên vốn chủ sở hữu thể hiện 1 đồng vốn chủ sở hữu của ngân
hàng sẽ mang về bao nhiêu đồng lợi nhuận trong một thời gian nhất định (thường là
1 năm).
Lợi nhuận sau thuế x 100
ROE (%) =
Vốn chủ sở hữu
Tỷ lệ này càng cao thể hiện việc sử dụng vốn của ngân hàng trong đầu tư, cho
vay càng hiệu quả.
(3) Tỷ lệ thu nhập lãi biên ròng (NIM)