Chất lượng báo cáo tài chính kỳ hạn nợ và hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
------------------

NGUYỄN NGỌC QUỲNH

CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH,
KỲ HẠN NỢ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT
Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh – Năm 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
------------------

NGUYỄN NGỌC QUỲNH

CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH,
KỲ HẠN NỢ VÀ HIỆU QUẢ ĐẦU TƯ
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP NIÊM YẾT
Ở VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ


Lý do chọn đề tài ............................................................................................... 2

1.2.

Mục tiêu nghiên cứu ......................................................................................... 3

1.3.

Câu hỏi nghiên cứu ........................................................................................... 3

1.4.

Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu ....................................................................... 3

1.5.

Phƣơng pháp nghiên cứu ................................................................................. 4

1.6.

Đóng góp của nghiên cứu ................................................................................. 4

1.7.

Kết cấu của bài nghiên cứu .............................................................................. 5

2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY ............................................ 5
2.1.



Kỳ hạn nợ ................................................................................................. 28

3.2.4.

Các biến kiểm soát ................................................................................... 28


3.3.

Mẫu: ................................................................................................................. 31

4. KẾT QUẢ ............................................................................................................... 32
4.1.

Thống kê mô tả ............................................................................................... 32

4.2.

Kết quả hồi quy ............................................................................................... 35

4.3.

Phân tích mở rộng .......................................................................................... 45

4.4.

Kiểm tra tính vững của mô hình ................................................................... 48

4.4.1.

Bảng 9:Hồi quy sự ảnh hƣởng lên đầu tƣ quá mức và dƣới mức của biến FQR, kỳ
hạn nợ và các biến kiểm soát khác ............................................................................. 43
Bảng 10: Hồi quy sự ảnh hƣởng lên hiệu suất đầu tƣ của biến FQR, kỳ hạn nợ và
biến tƣơng tác (I) .......................................................................................................... 45
Bảng 11:Hồi quy sự ảnh hƣởng lên hiệu suất đầu tƣ (Chen,2011) của biến FQR ,
kỳ hạn nợ và biến kiểm soát ........................................................................................ 49
Bảng 12:Hồi quy sự ảnh hƣởng lên hiệu suất đầu tƣ của biến FQR, kỳ hạn nợ và
biến tƣơng tác (II) ........................................................................................................ 51
Bảng 13: Hồi quy sự ảnh hƣởng lên hiệu suất đầu tƣ của biến FQR, kỳ hạn nợ và
biến tƣơng tác(III) ........................................................................................................ 53
Bảng 14: Hồi quy với sự ƣớc lƣợng lại biến chính .................................................... 56
Bảng 15: Hồi quy GMM .............................................................................................. 58


1

TÓM TẮT
Đề tài này nghiên cứu trên một mẫu các công ty niêm yết trên 2 sàn chứng
khoán HOSE và HNX của Việt Nam giai đoạn 2008-2016, nhằm nghiên cứu về tác
động của chất lượng báo cáo tài chính (FQR) và kỳ hạn nợ (STDebt) lên hiệu quả đầu
tư theo mô hình nghiên cứu của Fuensanta và Ballesta (2014). Bài nghiên cứu cũng
xem xét mối quan hệ này trong trường hợp công ty đầu tư quá mức và đầu tư dưới
mức. Ngoài ra, tác giả bài nghiên cứu còn xem xét đến tác động tương tác của biến
chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ của doanh nghiệp lên hiệu quả đầu tư của
doanh nghiệp. Kết quả thu được cho thấy, công ty có chất lượng báo cáo tài chính cao
và sử dụng một mức độ nhiều nợ ngắn hạn hơn trong cấu trúc vốn sẽ tăng hiệu quả đầu
tư của công ty. Thêm vào đó, việc chất lượng báo cáo tài chính cao và một mức độ nợ
ngắn hạn cao cũng làm giảm sự đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức của doanh nghiệp.
Kết quả thu được cũng cho thấy rằng chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ có mối
quan hệ thay thế cho nhau, những công ty sử dụng một mức độ nợ ngắn hạn cao hơn sẽ

quả làm việc của nhà quản lý, giúp giảm những thương vụ đầu tư quá mức hay đầu tư
dưới mức từ đó làm nâng cao hiệu quả đầu tư.
Việt Nam là một thị trường mới nổi, với đặc trưng là việc thực thi pháp luật và sư
bảo vệ nhà đầu tư còn yếu kém, hay nói cách khác, vấn đề bất cân xứng thông tin là
một vấn đề rất đáng lưu tâm. Thêm vào đó, các công ty Việt Nam có một tỷ lệ khá cao
trong cấu trúc vốn là nợ ngắn hạn.


3

Chính vì vậy, bài nghiên cứu tiến hành kiểm định tác động của chất lượng báo cáo
tài chính và kỳ hạn nợ đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam và phân tích
sâu vào 2 trường hợp đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức, cũng như xem xét mối quan
hệ tương tác giữa chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ trong mối quan hệ của
chúng với hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của nghiên cứu là xác định và phân tích sự ảnh hưởng của chất lượng báo
cáo tài chính và kỳ hạn nợ lên hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp tại Việt Nam.
Mở rộng thêm, tác giả nghiên cứu sự ảnh hưởng tương tác giữa chất lượng báo cáo
tài chính và kỳ hạn nợ lên hiệu quả đầu tư; hay nói cách khác; ảnh hưởng của chất
lượng báo cáo tài chính lên hiệu quả đầu tư sẽ tăng hay giảm với một mức độ kỳ hạn
nợ khác nhau.
1.3. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu nêu trên, nội dung của bài nghiên cứu phải trả
lời được các câu hỏi nghiên cứu sau:
Thứ nhất, chất lượng báo cáo tài chính ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của các
doanh nghiệp Việt Nam như thế nào? Phân tích sự ảnh hưởng này trong trường hợp
công ty đầu tư quá mức và trường hợp công ty đầu tư dưới mức?
Thứ hai, kỳ hạn nợ ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam
như thế nào? Phân tích sự ảnh hưởng này trong trường hợp công ty đầu tư quá mức và

tài chính và kỳ hạn nợ lên hiệu quả đầu tư ở các doanh nghiệp Việt Nam, kể cả phân
tích sâu trong trường hợp đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức; bài nghiên cứu này đã
đóng góp vào hệ thống các nghiên cứu thực nghiệm rằng chất lượng báo cáo tài chính
và mức độ nợ ngắn hạn cao đã giúp cải thiện hiệu quả đầu tư ở những doanh nghiệp
Việt Nam, làm giảm vấn đề đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức.
Hơn nữa, bằng việc kiểm định sự ảnh hưởng tương tác của chất lượng báo cáo tài
chính và kỳ hạn nợ đến hiệu quả đầu tư ở doanh nghiệp Việt Nam, tác giả cũng chỉ ra


5

rằng, có sự tác động thay thế giữa chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ; rằng 2
yếu tố này có thể thay thế cho nhau trong việc nâng cao hiệu quả đầu tư ở các doanh
nghiệp Việt Nam.
1.7. Kết cấu của bài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu gồm 5 phần:
 Phần 1 : Giới thiệu
 Phần 2: Tổng quan các nghiên cứu trước đây
 Phần 3: Phương pháp nghiên cứu
 Phần 4 : Kết quả
 Phần 5: Kết luận
2. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƢỚC ĐÂY
2.1. Hiệu quả đầu tƣ
Trong quá trình tồn tại và phát triển của mình, doanh nghiệp có nhiều quyết định
liên quan đến quản trị tài chính của doanh nghiệp như: quyết định đầu tư, quyết định
nguồn tài trợ, quyết định phân chia lợi nhuận và các quyết định khác như quyết định về
hoạt động phòng ngừa rủi ro, quyết định về tiền lương, tiền công, chế độ chính sách ưu
đãi, cũng như quyết định hình thức tưởng thưởng nhà quản lý bằng quyền chọn....
Quyết định đầu tư là những quyết định liên quan đến: (1) tổng giá trị tài sản và giá trị
từng bộ phận tài sản (Tài sản lưu động và tài sản cố định) cần có và (2) mối quan hệ

tiên cho tăng trưởng hoặc cho an ninh tài chính, và trong khuôn khổ lý thuyết về vấn đề
đại diện (Myers, 1977), nghiên cứu về vấn đề bất cân xứng thông tin, ông cho rằng
doanh nghiệp có thể đi chệch khỏi mức đầu tư tối ưu và xảy ra đầu tư dưới mức (đầu tư
thực tế thấp hơn mức đầu tư dự kiến) hoặc đầu tư quá mức (đầu tư thực tế lớn hơn mức
đầu tư dự kiến).
Trong một thị trường tài chính hoàn hảo, những dự án có hiện giá thuần dương


7

(NPV>0) thì nên được tài trợ và tiến hành. Tuy nhiên, nghiên cứu của (Bertrand và
Mullainathan, 2003, Hubbard, 1998) thì không ủng hộ cho quan điểm trên, kết quả
nghiên cứu của các ông cho rằng trong một thị trường không hoàn hảo, sự tồn tại của
sự bất cân xứng thông tin và chi phí đại diện có thể làm cho nhà quản lý các doanh
nghiệp lựa chọn tiến hành các dự án NPV âm (đầu tư quá mức) và từ chối các dự án
NPV dương (đầu tư dưới mức).
Để giải thích cho quá trình đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức, ta có thể dùng
đến sự tồn tại của thông tin bất cân xứng giữa các bên liên quan trong doanh nghiệp.
Jensen và Meckling (1976), Myers (1977) và Myers và Majluf (1984) phát triển lý
thuyết như một khuôn khổ nói về vai trò của bất cân xứng thông tin trong hiệu quả đầu
tư thông qua các vấn đề thông tin, đó là : rủi ro đạo đức (moral hazard) và sự lựa chọn
đối nghịch (hay sự lựa chọn bất lợi-adverse selection). Về rủi ro đạo đức, sự khác biệt
về lợi ích giữa các cổ đông và sự thiếu giám sát của nhà quản lý có thể dẫn tới việc
quản lý cố gắng tối đa hóa các lợi ích cá nhân của mình bằng cách đầu tư không phù
hợp với cổ đông (Jensen and Meckling, 1976) dẫn đến hậu quả của việc xây dựng đế
chế quản lý (cho phương tiện đi lại cá nhân đắt tiền, các dịch vụ xa xỉ, những khoản
tiền thưởng cao…) và đầu tư quá mức (Hope and Thomas, 2008). Vấn đề này lại càng
trở nên nghiêm trọng và khó hóa giải trong thời đại hiện nay, khi mà hầu hết các công
ty cổ phần trên thế giới hiện nay đều có sự đa dạng hóa với 1 số lượng cổ đông khá
lớn, đa phần nắm giữ một tỷ lệ cổ phần không quá lớn. Rủi ro đạo đức thường xuất



Nợ phải trả;

 Vốn chủ sở hữu;
 Doanh thu, thu nhập khác, chi phí sản xuất kinh doanh và chi phí khác;
 Lãi, lỗ và phân chia kết quả kinh doanh;
 Các luồng tiền.


9

Theo quan điểm thể hiện của lý thuyết đại diện, có nhiều cơ chế kiểm soát khác
nhau để giảm thiểu sự bất cân xứng thông tin và rủi ro thông tin và để giám sát tốt hơn
các hoạt động quản lý nhằm giảm bớt hành vi cơ hội của người quản lý, ví dụ như dựa
vào chất lượng báo cáo tài chính và công bố thông tin. Cụ thể, đi đầu trong hướng
nghiên cứu dựa vào lý thuyết đại diện là Jensen và Meckling (1976), các ông cho rằng
các nhà quản lý có thể có những quyết định đầu tư vì lợi ích bản thân hơn là lợi ích cổ
đông, trong đó có việc quản lý thu nhập, biến hóa điều chỉnh các con số trên báo cáo tài
chính làm ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của các chủ sở hữu doanh nghiệp. Đến thời
của mình Bushman and Smith (2001) đã tiến hành rà soát và đề xuất các nghiên cứu bổ
sung liên quan đến vai trò của thông tin kế toán tài chính đã được báo cáo công khai
trong quá trình quản trị của các công ty. Ba kênh mà thu nhập không ảnh hưởng đến
vốn chủ sở hữu. Thứ nhất, thông tin công khai và thông tin kế toán rõ ràng giúp các
nhà đầu tư dễ dàng phân biệt đâu là khoản đầu tư tốt, đâu là khoản đầu tư xấu, từ đó
làm giảm rủi ro cũng như giảm chi phí phí sử dụng vốn của công ty. Thứ hai, việc công
khai thông tin và báo cáo tài chính giúp những nhà đầu tư bên ngoài đánh giá hiệu quả
quản lý của một nhà quản lý của doanh nghiệp, xem ông ty đã làm tốt công việc quản
lý của mình hay chưa, thông qua đó làm giảm chi phí đại diện, dẫn đến giảm chi phí sử
dụng vốn của công ty. Cuối cùng, việc không công khai thông tin và báo cáo tài chính

hoạt động kinh doanh ở nước ngoài, tạo ra lợi nhuận biên thấp hơn. Bằng việc sử dụng
một loạt các biến kiểm soát khác có liên quan đến cơ chế quản trị doanh nghiệp khác,


11

hiệu quả hoạt động và môi trường hoạt động của công ty, bài viết đưa ra kết quả có vẻ
khá chắc chắn và nhìn chung, kết quả của bài nghiên cứu này phù hợp với giả thuyết
chi phí đại diện và vai trò quan trọng của việc công khai thông tin quản trị đối với hiệu
quả của đầu tư.
Đóng góp vào công trình nghiên cứu về vấn đề chất lượng báo cáo tài chính và hiệu
quả đầu tư, La Porta và cộng sự (1998) tiến hành kiểm định giả thuyết trên mẫu gồm
49 quốc gia xem xét các quy định pháp luật của những quốc gia này trong vấn đề bảo
vệ các cổ đông và chủ nợ của công ty, nguồn gốc của các quy tắc này và chất lượng
thực thi pháp luật của họ. Kết quả cho thấy rằng tập trung quyền sở hữu cổ phần trong
các công ty đại chúng lớn nhất có tương quan âm với sự bảo vệ các nhà đầu tư, phù
hợp với giả thiết rằng các cổ đông nhỏ, đa dạng không quan trọng trong những quốc
gia không bảo vệ quyền của họ. Hay ở một số nước, chỉ có việc cải thiện chất lượng
báo cáo tài chính mới góp phần cải thiện sự bất cân xứng thông tin, tăng cường sự giám
sát lên các nhà quản lý, và bảo vệ các chủ nợ và các nhà đầu tư và các cổ đông thiểu số
mà thôi.
Một hướng nghiên cứu khác về vấn đề này, nghiên cứu về những ảnh hưởng của
chất lượng báo cáo tài chính (FQR) lên hiệu quả đầu tư. Biddle và Hilary (2006) xem
xét ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính đến hiệu quả đầu tư vốn ở mức độ công
ty. Giả thuyết đầu tiên của bài nghiên cứu là báo cáo tài chính có chất lượng cao và sự
công khai sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư bằng cách giảm sự bất cân xứng thông tin giữa
các nhà quản lý và nhà đầu tư bên ngoài. Giả thuyết thứ hai của là hiệu quả này sẽ
mạnh mẽ hơn ở các nền kinh tế, nơi nguồn vốn chủ yếu được cung cấp thông qua các
kênh giao dịch độc lập. Kết quả của bài nghiên cứu phù hợp với những giả thuyết của


đầu tư quá mức và làm giảm đầu tư dưới mức. Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng
cho thấy mối tương quan dương giữa chất lượng báo cáo tài chính và hiệu quả đầu tư.
Bởi vì các công ty có chất lượng báo cáo tài chính cao hơn thì trong vấn đề đầu tư của
doanh nghiệp sẽ có độ lệch khỏi mức đầu tư dự đoán ít hơn và ít nhạy cảm hơn với
điều kiện kinh tế vĩ mô. Những kết quả này cũng cho thấy một mối tương quan giữa
chất lượng báo cáo và hiệu quả đầu tư, cũng như giảm rủi ro đạo đức và lựa chọn đối
nghịch gây cản trở hiệu quả đầu tư.
Lý thuyết kinh tế mà các tác giả Leuz và Verrecchia (2000) kiểm định cho thấy
rằng cam kết của một công ty với việc tăng mức độ công bố thông tin sẽ làm giảm sự
bất cân xứng thông tin của chi phí vốn của công ty. Nhưng cho đến nay các kết quả
thực nghiệm liên quan đến tăng mức độ công bố thông cho các lợi ích kinh tế có thể
cho ra những kết quả hỗn tạp. Một giải thích cho kết quả hỗn tạp giữa các nghiên cứu
sử dụng dữ liệu từ các công ty đăng ký công khai ở Hoa Kỳ, nơi mà việc công bố thông
tin vào thời điểm bây giờ còn nhiều hỗn tạp. Trong bài báo này, tác giả nghiên cứu các
công ty Đức đã chuyển sang chế độ báo cáo quốc tế (IAS hoặc GAAP của Hoa Kỳ),
chính việc này làm tăng mức độ công bố thông tin. Kết quả bài nghiên cứu cho thấy
rằng các đại diện cho tính bất cân xứng thông tin của chi phí vốn cho các công ty
chuyển mạch - cụ thể là mức độ yêu cầu giá và khối lượng giao dịch - cư xử theo
hướng dự đoán so với các công ty sử dụng chế độ báo cáo của Đức.
Leuz và cộng sự (2003) tiến hành xem xét sự khác biệt có hệ thống trong quản lý
thu nhập trên 31 quốc gia. Bài nghiên cứu đã đề xuất một lời giải thích cho những khác
biệt này dựa trên quan niệm rằng người trong cuộc, nhằm mục đích bảo vệ lợi ích kiểm


14

soát riêng của họ, sử dụng quản lý thu nhập để che giấu hoạt động của công ty đối với
những nhà đầu tư bên ngoài. Do đó, việc quản lý thu nhập dự kiến sẽ giảm trong việc
bảo vệ nhà đầu tư bởi vì sự bảo vệ mạnh mẽ sẽ hạn chế khả năng tiếp cận các quyền lợi
của người có quyền kiểm soát cá nhân làm giảm các ưu đãi của họ để che dấu hiệu suất

quan giữa chủ nghĩa bảo thủ và lợi nhuận trong tương lai. Điều này phù hợp rằng với
các doanh nghiệp báo cáo những con số bảo thủ hơn đầu tư hiệu quả hơn và trong các
dự án sinh lời nhiều hơn. Kết quả của bài nghiên cứu đóng góp vào các nghiên cứu
thực nghiệm cho thấy loại bỏ chủ nghĩa bảo thủ từ các khuôn khổ quy định kế toán có
thể dẫn đến những hậu quả kinh tế không mong muốn.
Để khẳng định chắc chắn về quan điểm của mình, năm 2016 García-Lara và cộng
sự (2016) cho rằng chủ nghĩa bảo thủ cải thiện hiệu quả đầu tư. Cụ thể, bài nghiên cứu
dự đoán rằng nó giải quyết xung đột nợ-vốn, tạo điều kiện cho một công ty tiếp cận với
việc vay nợ và hạn chế việc đầu tư không hiệu quả. Điều này cho phép tài trợ các
khoản đầu tư thận trọng nếu không có thể không theo đuổi. Tác giả nhận thấy rằng
nhiều công ty bảo thủ hơn đầu tư nhiều hơn và phát hành nhiều khoản nợ hơn trong các
tình huống có xu hướng giảm đầu tư và những ảnh hưởng này được đánh giá rõ nét hơn
trong các doanh nghiệp có tính bất cân xứng về thông tin lớn hơn. Bài nghiên cứu cũng
nhận thấy chủ nghĩa bảo thủ có liên quan đến việc giảm đầu tư quá mức, ngay cả đối
với các dự án đầu tư ẩn như nghiên cứu và phát triển.


16

Khi nghiên cứu về các công ty ở Anh, Ball và Shivakumar (2005) phát hiện rằng
các công ty tư nhân và công ty của Anh phải đối mặt với những quy định tương tự về
kiểm toán, các tiêu chuẩn kế toán và thuế. Bài nghiên cứu giả thiết rằng báo cáo tài
chính của các công ty tư nhân vẫn có chất lượng thấp do nhu cầu thị trường, quy định
khác nhau. Một mẫu các công ty lớn của Anh thông qua nghiên cứu thực nghiệm ủng
hộ giả thuyết này. Chất lượng báo cáo tài chính được đo lường bằng cách sử dụng
phương pháp đo lường theo thời gian của Basu (1997) để nhận dạng sự mất mát kịp
thời và một phương pháp tính lũy kế mới. Kết quả không bị ảnh hưởng bởi các biến
kiểm soát về quy mô, đòn bẩy, ngành và quy mô kiểm toán, hoặc bằng cách cho phép
lựa chọn niêm yết nội bộ. Kết quả cho thấy công ty tư nhân có thể sử dụng báo cáo tài
chính để làm giảm sự bất cân xứng thông tin giữa các nhà quản lý và các bên liên quan.

so với các công ty tư nhân (Ball và Shivakumar, 2005, Burgstahler và cộng sự, 2006)
và ở các quốc gia có sự bảo vệ và pháp luật của các nhà đầu tư cao hơn (Leuz và cộng
sự, 2003 ; Holthausen, 2009). Trong bài nghiên cứu của mình Fuensanta và Ballesta
(2014) đã sử dụng mẫu nghiên cứu là các công ty Tây Ban Nha với đặc điểm Tây Ban
Nha là quốc gia có thị trường vốn kém phát triển hơn Mỹ, và việc thực thi pháp luật
cũng như bảo vệ nhà đầu tư thấp hơn so với Mỹ, mức độ chất lượng của báo cáo tài
chính cũng thấp hơn ở Mỹ. Bài nghiên cứu này tiếp tục quan điểm nghiên cứu như vậy,
nhưng áp dụng cho trường hợp của Việt Nam, nơi có thị trường vốn phát triển chậm


18

cũng như sự tuân thủ pháp luật và sự bảo vệ nhà đầu tư còn yếu kém, bên cạnh đó, tại
Việt Nam chất lượng báo cáo tài chính cũng chưa cao, chất lượng báo cáo tài chính của
các doanh nghiệp Việt Nam còn thấp hơn so với các nước đang phát triển. Bài nghiên
cứu xem xét sự ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính lên hiệu quả đầu tư của
doanh nghiệp với các giả thuyết như sau:
H1. Các công ty có chất lượng báo cáo tài chính (FRQ) cao hơn sẽ cho thấy hiệu suất
đầu tư cao hơn.
Sau đó để tiến phân tích vai trò của chất lượng báo cáo tài chính (FRQ) trong việc
giảm đầu tư quá mức và đầu tư dưới mức, bài nghiên cứu cũng kiểm tra hai giả thuyết
sau:
-H1a. Các công ty có chất lượng báo cáo tài chính (FRQ) cao hơn sẽ giảm thiểu vấn
đề đầu tư quá mức.
-H1b. Các công ty với chất lượng báo cáo tài chính (FRQ) cao hơn sẽ giảm thiểu vấn
đề đầu tư dưới mức.
2.3. Ảnh hƣởng của kỳ hạn nợ đến hiệu quả đầu tƣ
Cùng với các bài nghiên cứu về sự ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính lên
hiệu quả đầu tư, các tác giả cũng tiến hành kiểm sự sự ảnh hưởng của kỳ hạn nợ mà
doanh nghiệp sử dụng tác động lên hiệu quả đầu tư.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status