Giải pháp phát triển quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt Nam : Luận văn thạc sĩ - Pdf 66

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
--------o0o---------

LÊ HUỲNH NHƯ

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN DẠNG MỞ
TẠI VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

T.P Hồ Chí Minh - Năm 2013


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
--------o0o---------

LÊ HUỲNH NHƯ

GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN
QUỸ ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN DẠNG MỞ
TẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

Biểu đồ 1.1

Tổng giá trị tài sản ròng quỹ tương hỗ của Mỹ năm 2012

30

Biểu đồ 2.1

Huy động vốn qua phát hành cổ phiếu năm 2007 - 2012

39

Biểu đồ 2.2

Giá trị đấu thầu trái phiếu Chính Phủ

41

Biểu đồ 2.3

Thị phần quản lý tài sản của các Công ty quản lý quỹ

48

Biểu đồ 2.4

Tỷ lệ chiết khấu thị giá/NAV của các quỹ niêm yết giai

51


đòi hỏi ngành quỹ của Việt Nam phải khắc phục những hạn chế vốn có của quỹ
đóng, mở rộng quy mô hoạt động, đa dạng hóa các sản phẩm quỹ,…Sự hình thành
và phát triển mô hình quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở là một xu thế tất yếu cho sự


2

phát triển của TTCK Việt Nam. Với những ưu điểm nổi bật của quỹ mở so với quỹ
đóng đang khiến loại hình quỹ này trở nên phổ biến ở các TTCK phát triển.
Từ những lý do trên, việc nghiên cứu “Giải pháp phát triển quỹ đầu tư
chứng khoán dạng mở tại Việt Nam” là cần thiết, đáp ứng được nhu cầu của nhà
đầu tư cũng như Chiến lược phát triển của TTCK giai đoạn 2011-2020. Đề tài được
thực hiện nhằm hệ thống kiến thức về quỹ đầu tư chứng khoán; kinh nghiệm phát
triển quỹ mở tại một số quốc gia trên thế giới; thực trạng hoạt động của các công ty
quản lý quỹ, quỹ đầu tư; tiến hành khảo sát và đưa ra đánh giá khả năng phát triển
quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt Nam và tìm ra các giải pháp phù hợp giúp
cho ngành quỹ của Việt Nam chuyển sang một hình thức hoạt động mới trong giai
đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về quỹ đầu tư chứng khoán,
quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở, kinh nghiệm thành lập quỹ đầu tư chứng khoán
dạng mở của các quốc gia trên thế giới.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động của thị trường chứng khoán,
Công ty quản lý quỹ và các quỹ đầu tư trên TTCK Việt Nan trong thời gian qua;
đưa ra đánh giá về khả năng phát triển của quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở dựa
trên khảo sát thực nghiệm về nhu cầu đầu tư của công chúng đầu tư, hệ thống pháp
lý, điều kiện cơ sở vật chất cũng như những cơ hội và thuận lợi cho sự phát triển
của quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt Nam.
- Đề xuất đưa ra các giải pháp cụ thể và lộ trình thực hiện các giải pháp
để hình thành và phát triển quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt Nam trong

càng cao của nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Tại Việt Nam, đã có một số đề tài nghiên cứu về các giải pháp phát triển
quỹ đầu tư chứng khoán ở Việt Nam nhưng nhìn chung các đề tài này chỉ tập trung
vào phân tích thực trạng và đề xuất các kiến nghị liên quan đến phát triển ngành quỹ
nói chung mà chưa có nghiên cứu chuyên sâu về việc đưa ra những giải pháp cụ thể
cho sự phát triển của quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở.
Đề tài tập trung nghiên cứu đưa ra các giải pháp và lộ trình thực hiện để
phát triển quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt Nam, giúp cho các cơ quan


4

quản lý nhà nước hoàn thiện khuôn khổ pháp lý và đưa ra các chính sách phù hợp
cho sự thành lập quỹ và khuyến khích các quỹ đang hoạt động chuyển sang phương
thức hoạt động mới trong thời gian tới.
6. Hạn chế của đề tài
- Do hạn chế về thời gian nghiên cứu và tài liệu tham khảo nên trong phần
nội dung hoạt động của quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở (trong Chương 1) được
viết dựa trên những nội dung được ban hành trong Thông tư 183/2011/TT-BTC
hướng dẫn thành lập và quản lý quỹ mở.
- Kết quả khảo sát điều tra chỉ dừng lại ở việc thống kê và miêu tả mức độ
hiểu biết của các NĐT về quỹ mở cũng như nhu cầu tham gia đầu tư khi quỹ mở
được thành lập mà chưa có những phân tích định lượng các yếu tố tác động tới nhu
cầu tham gia đầu tư của Nhà đầu tư vào quỹ mở.
7. Kết cấu của đề tài
Đề tài gồm ba phần chính sau:
Chương I: Tổng quan về quỹ đầu tư chứng khoán.
Chương II: Thực trạng phát triển quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt
Nam .
Chương III: Giải pháp phát triển quỹ đầu tư chứng khoán dạng mở tại Việt

Trên thế giới, việc đầu tư vào các QĐT chứng khoán từ lâu đã trở thành
một kênh đầu tư rất phổ biến và được ưa chuộng, đồng thời QĐT còn là một bộ
phận cấu thành quan trọng, góp phần vào sự phát triển của TTCK và nền kinh tế nói
chung. Các QĐT sẽ có vòng đời xác định được ghi rõ trong Bản cáo bạch, thường là


6

10 hoặc 20 năm. Hết thời hạn này, quỹ có thể được gia hạn hoạt động hoặc giải thể.
Vốn điều lệ quỹ là số vốn bằng tiền do tất cả các NĐT thực góp và được ghi trong
điều lệ quỹ.
1.1.1.2 Lợi ích khi đầu tư qua quỹ đầu tư chứng khoán
Tại sao người dân ở các nền kinh tế phát triển lại thích đầu tư gián tiếp
vào chứng khoán thông qua các QĐT hơn là đầu tư trực tiếp vào các công ty? Đó là
vì họ nhận thấy QĐT có những lợi ích sau:
- Phân tán rủi ro: QĐT có thể đầu tư vào nhiều loại chứng khoán của
các ngành công nghiệp khác nhau theo mục tiêu của quỹ. Việc sở hữu một
nhóm các loại chứng khoán khác nhau dù không loại bỏ hoàn toàn các rủi ro
tiềm ẩn nhưng có thể giúp hạn chế rủi ro do giá của mỗi loại chứng khoán khác
nhau có thể bù đắp cho nhau và tối ưu hóa lợi nhuận.
- Đủ khả năng đầu tư: NĐT có thể đầu tư gián tiếp vào các công ty lớn
(blue-chips) hoặc sở hữu nhiều loại chứng khoán khác nhau với mức vốn tối thiểu
thông qua việc sở hữu CCQ.
- Giảm thiểu chi phí đầu tư: Một trong những nhân tố quan trọng khiến
hình thức QĐT hấp dẫn các NĐT đó là chi phí đầu tư. Sự so sánh có thể khác
nhau, nhưng với các NĐT vừa và nhỏ thường phải trả chi phí đầu tư nhiều hơn
một QĐT trong việc thực hiện mua bán chứng khoán trong một danh mục đầu tư.
Lý do là chi phí giao dịch trong hầu hết các thị trường từ trước đến nay đều có liên
quan chặt chẽ với quy mô giao dịch. Chi phí giao dịch của các NĐT cá nhân đối
với các khoản mua bán nhỏ thường cao hơn nhiều vì giá trị của mỗi giao dịch họ

hỗ trợ hoạt động của các doanh nghiệp trong nước: tiếp cận nguồn tài chính dài hạn,
cung cấp các thông tin tài chính, tư vấn kế hoạch tài chính, marketing và các mối
quan hệ với các tổ chức tài chính, doanh nghiệp khác. Lợi ích này của QĐT được
đặc biệt đánh giá cao với các doanh nghiệp mới, doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhất là
trong các nền kinh tế chuyển đổi.
1.1.2.2 Đối với thị trường chứng khoán
Trên TTCK, QĐT là một định chế tài chính trung gian nên có những vai
trò cơ bản sau:
- Quỹ góp phần huy động vốn cho việc phát triển nền kinh tế nói chung
và góp phần phát triển vào thị trường sơ cấp. Các QĐT tham gia bảo lãnh trái phiếu


8

Chính phủ (TPCP) và trái phiếu doanh nghiệp, cung cấp vốn cho sự phát triển
doanh nghiệp thông qua mua cổ phiếu của các đợt phát hành ra công chúng (IPO).
Với chức năng này, các QĐT giữ vai trò quan trọng trên thị trường sơ cấp. Thị
trường sơ cấp phát triển sẽ cung cấp hàng hóa đa dạng cho các danh mục đầu tư của
quỹ, tăng hiệu quả hoạt động, giúp cho các các quỹ tăng trưởng và phát triển.
- Quỹ góp phần vào việc ổn định thị trường thứ cấp. Với vai trò là các tổ
chức đầu tư chuyên nghiệp trên TTCK, các QĐT góp phần bình ổn giá cả trên thị
trường thứ cấp, góp phần phát triển vào thị trường này thông qua các hoạt động đầu
tư chuyên nghiệp với các phương pháp đầu tư khoa học.
- Quỹ góp phần tạo ra các phương thức huy động vốn đa dạng qua
TTCK. Khi nền kinh tế phát triển và các tài sản chính ngày càng tạo khả năng sinh
lời hơn, NĐT có khuynh hướng muốn có nhiều dạng công cụ tài chính để đầu tư.
Để đáp ứng nhu cầu của người đầu tư, các QĐT hình thành dưới nhiều dạng sản
phẩm tài chính khác nhau như quỹ cổ phiếu, quỹ trái phiếu, quỹ cân bằng, quỹ đầu
tư doanh nghiệp tăng trưởng, quỹ đầu tư tư nhân,… có thời gian đáo hạn, khả năng
sinh lời và mức độ rủi ro được kiểm soát tốt.

với các chuyên viên có trình độ chuyên môn về chứng khoán, TTCK và các lĩnh vực
đầu tư khác. Các nhà quản lý quỹ cung cấp dịch vụ quản lý và nghiên cứu thị trường
trong các môi trường mà các NĐT thường không hiểu rõ ràng. Do đó, khi đầu tư
qua quỹ, NĐT có thể ủy quyền cho nhà quản lý quỹ chuyên nghiệp và được hưởng
nhiều loại dịch vụ do họ cung cấp, đảm bảo hiệu quả đầu tư.
1.1.2.4 Đối với Chính phủ
- Tăng tiết kiệm nội địa: Khi các QĐT huy động vốn thì sẽ thu hút lượng
vốn tiết kiệm lớn từ tập thể các NĐT trong một quốc gia mà quỹ hoạt động. Nếu
một NĐT trong quỹ mở bán cổ phiếu, nhà quản lý quỹ sẽ phải bán tài sản của quỹ
để thanh toán cho NĐT. Ngược lại, nếu quỹ đóng được niêm yết và mua bán sôi
động trên TTCK sẽ tăng sự luân chuyển các dòng vốn đầu tư trong nền kinh tế.
- Giảm sự phụ thuộc nguồn tài chính hay thay đổi: cam kết vốn dài hạn của
các quỹ đóng sẽ giảm sự phụ thuộc các nguồn vốn tư nhân bên ngoài không ổn định.
- Đa dạng hóa sở hữu: các QĐT có sức thuyết phục Chính phủ quan tâm
đến việc sở hữu các NĐTNN đối với các doanh nghiệp trong nước. Điều này lý giải


10

tại sao các quỹ lại được phép đầu tư vào một số nước trước khi thị trường được mở
cho các NĐT trực tiếp tham gia.
- Kỹ năng phát triển các thị trường vốn sở tại: các nhà quản lý quỹ mang lại
sự đánh giá về đầu tư và kỹ năng vận hành cho các thị trường sở tại. Để đáp lại sự quan
tâm của các NĐT, các nhà quản lý quỹ thường yêu cầu các tiêu chuẩn cao về bảo quản,
lưu giữ, thanh toán bù trừ, tiết lộ thông tin và sự giám sát của các cơ quan quản lý.
- Sự tăng trưởng giá cổ phiếu: nguồn vốn mới từ bên ngoài đổ vào TTCK
thường dẫn đến điểm cân bằng về giá cổ phiếu cao hơn, và do vậy chi phí vốn sẽ thấp
hơn đối với các công ty sở tại.
- Khuyến khích sự tăng trưởng cho các công ty trong nước: Các QĐT mạo
hiểm (Venture Capital) cung cấp các nguồn vốn có độ rủi ro cao và kỹ năng quản lý

1.1.3.2 Theo quy mô, cách thức và tính chất góp vốn
Dựa theo quy mô, cách thức và tính chất góp vốn, QĐT được tổ chức dưới
hai hình thức: QĐT dạng đóng (gọi tắt là quỹ đóng) và QĐT dạng mở (gọi tắt là quỹ mở)
Quỹ đầu tư dạng đóng (Closed End Funds)
Quỹ đóng tiến hành huy động vốn thông qua việc phát hành CCQ một
lần duy nhất ra công chúng. Quỹ đóng có thể phát hành cổ phiếu thường, cổ phiếu
ưu đãi hoặc trái phiếu và quỹ không được phát hành thêm bất cứ một loại cổ phiếu
nào để huy động vốn và cũng không thực hiện mua lại các cổ phiếu đã phát hành
khi NĐT yêu cầu. Những người tham gia góp vốn không được phép rút vốn bằng
cách bán lại CCQ cho chính quỹ cho nên cấu trúc vốn của quỹ đóng rất chặt chẽ.
Nhằm tạo tính thanh khoản cho loại quỹ này, sau khi kết thúc việc huy động vốn
(đóng quỹ), CCQ được niêm yết trên TTCK, vì vậy NĐT có thể rút vốn bằng cách
bán lại CCQ thông qua thị trường thứ cấp. Tổng vốn huy động của quỹ luôn cố định
và chỉ biến đổi trong trường hợp quỹ gọi thêm vốn, do đó quỹ có thể đăng ký đầu tư
vào các dự án lớn và các chứng khoán có tính thanh khoản thấp. Giá thị trường của
cổ phần quỹ đóng do cung cầu trên thị trường quyết định, có thể cao hơn, thấp hơn
hoặc bằng giá trị tài sản ròng (NAV) cổ phần của quỹ.
Quỹ đầu tư dạng mở (Open end Funds)
Quỹ mở còn được gọi là quỹ tương hỗ (Mutual Fund). Khác với quỹ
đóng, quỹ mở luôn phát hành thêm những cổ phiếu mới để tăng vốn và cũng sẵn


12

sàng mua lại những cổ phiếu đã phát hành nên tổng vốn của quỹ mở biến động theo
từng ngày giao dịch. Đối với hình thức quỹ này, các giao dịch mua/bán CCQ được
thực hiện trực tiếp với CTQLQ và CCQ của quỹ mở không được niêm yết trên
TTCK. Quy trình quản lý quỹ phức tạp hơn vì luồng tiền được ra/vào liên tục và tại
thời điểm NĐT nộp tiền/rút vốn có khả năng ảnh hưởng đến kết quả đầu tư của quỹ.
So với quỹ đóng, quỹ mở có lợi thế rõ ràng về khả năng huy động vốn,

viên, các NĐT phải đạt được những điều kiện nhất định do pháp luật đặt ra. Với
tính chất và mục tiêu đầu tư như trên, quỹ thành viên thường không phải chịu các
hạn chế như quỹ công chúng. Hầu hết các nước có TTCK phát triển đều có hình
thức quỹ này.
1.2. Những nội dung cơ bản về quỹ mở
1.2.1 Khái niệm và đặc tính của quỹ mở
1.2.1.1 Khái niệm về quỹ mở
Theo Luật Chứng khoán Việt Nam thì quỹ mở là quỹ đại chúng mà CCQ
đã chào bán ra công chúng phải được mua lại theo yêu cầu của NĐT.
Sau đợt phát hành lần đầu ra công chúng, giao dịch mua/bán CCQ của
NĐT được thực hiện định kỳ dựa trên NAV của quỹ. Giao dịch này được thực hiện
trực tiếp với CTQLQ hoặc tại các đại lý phân phối chỉ định.
Theo khái niệm trên thì có sự khác biệt cơ bản giữa hình thức quỹ mở so
với quỹ đóng thể hiện ở việc quỹ mở cho phép NĐT mua và bán lại CCQ trực tiếp
với CTQLQ tại bất cứ thời điểm nào được xác định trước, với mức giá được xác
định trên cơ sở NAV của quỹ. Trong khi đó, CCQ của quỹ đóng chỉ được phát hành
một lần duy nhất khi tiến hành huy động vốn và quỹ không thực hiện mua lại CCQ
khi NĐT có nhu cầu. Điều này nghĩa là nếu muốn rút vốn khỏi quỹ, NĐT phải
chuyển nhượng phần vốn đã góp vào quỹ cho NĐT khác với mức giá do thị trường
hoặc hai bên thỏa thuận, mức giá đó có thể cao hoặc thấp hơn giá trị của một đơn vị
quỹ của quỹ. Thông thường, quỹ mở không quy định thời gian hoạt động cụ thể như
quỹ đóng, mà phụ thuộc vào nhu cầu của NĐT. Khi các NĐT không còn nhu cầu
đầu tư vào quỹ, họ sẽ rút toàn bộ vốn đầu tư và quỹ sẽ phải chấm dứt sự tồn tại của
mình tại thời điểm đó.


14

1.2.1.2 Đặc tính của quỹ mở
Quỹ mở phát hành thêm hay mua lại CCQ theo nhu cầu của NĐT khi họ


- Được huy động vốn liên tục

-

Chỉ huy động vốn trong

trong quá trình hoạt động. NĐT có giai đoạn phát hành, hoặc có
thể thực hiện việc mua/bán vào thể tăng vốn theo thời điểm
Giao dịch
mua/chuyển

thời điểm định kỳ với CTQLQ.
- NĐT có thể thực hiện việc

khác nhau.
- CTQLQ chỉ giao dịch

đổi/ bán

chuyển đổi CCQ giữa các quỹ trực tiếp với NĐT trong thời

CCQ

thuộc cùng một CTQLQ.

gian huy động vốn, và khi quỹ

- CCQ không được niêm yết giải thể.
trên sàn giao dịch chứng khoán.

Giá giao
dịch

- Giá giao dịch CCQ dựa

- NĐT

phải

trả

phí

hoặc nhỏ hơn giá trị NAV của
phát quỹ.

hành/phí mua lại/phí chuyển đổi

- Giá trị NAV phản ánh

cho CTQLQ khi thực hiện giao hiệu quả đầu tư nhưng chỉ
dịch.

mang tính tham khảo.
-

NĐT trả phí giao dịch

cho CTCK.
Có thể là tài sản có tính thanh


CTQLQ.
Quy mô của Quỹ thay đổi thường
Quy mô

xuyên. Ở Việt Nam, không có giới Tổng nguồn vốn huy động của
hạn tối đa mà chỉ có giới hạn tối quỹ luôn cố định và chỉ biến
thiểu cho quy mô quỹ là 50 tỷ đổi trong trường hợp quỹ gọi


16

đồng (theo quy định của Thông tư thêm vốn.
183/TT-BTC).
- Phí phát hành, phí mua lại, phí - Phí phát hành luôn được
chuyển đổi CCQ.

cộng vào giá phát hành lần

- Phí quản lý quỹ.

đầu.

- Phí dịch vụ quản trị quỹ, đại lý - Phí quản lý cho CTQLQ.
Phí

chuyển nhượng và các loại phí - Phí hành chính.
khác quy định tại Điều lệ quỹ.

- Phí thưởng.

- Quỹ mở luôn đảm bảo tính thanh khoản cao, cho phép NĐT có thể rút
vốn theo định kỳ sát với NAV của quỹ sau khi trừ đi một số chi phí liên quan. Điều
này vừa bảo vệ NĐT vừa giúp cho các CTQLQ thu hút vốn nhanh hơn.
- CCQ của quỹ mở được giao dịch mua/bán theo NAV của quỹ, giúp
khoảng cách giữa giá trị của một đơn vị quỹ và thị giá ít bị chênh lệch, cho phép
bảo vệ NĐT tốt hơn do công bố thông tin minh bạch và thường xuyên hơn.
- Quỹ mở tạo ra một kênh huy động vốn linh hoạt, có khả năng tốt hơn
trong tận dụng cơ hội đầu tư dựa trên kỳ vọng xu hướng biến động tăng/giảm của
kết quả hoạt động của quỹ và thị trường.
- Đối với CTQLQ, quỹ mở giúp linh động hơn trong thay đổi quản trị
danh mục vì các tài sản có tính thanh khoản cao, gia tăng nhanh chóng quy mô và
lợi nhuận khi khẳng định được hiệu quả hoạt động qua các phiên giao dịch CCQ.
- Quỹ mở đa dạng hóa các khoản đầu tư vào nhiều cổ phiếu và phụ
thuộc vào chính sách đầu tư của quỹ, có thể đầu tư vào trái phiếu – là loại tài sản mà
các NĐT cá nhân không thể thực hiện được do những quy định pháp lý và đòi hỏi
vốn đầu tư lớn. CTQLQ có các chuyên gia đầu tư để phân tích thị trường và các loại
chứng khoán bằng cách chọn các loại chứng khoán được định giá thấp hơn giá trị
thực và/hoặc có tiềm năng trăng trưởng tốt hơn trong dài hạn.
Hạn chế của quỹ mở
Bên cạnh những ưu điểm vượt trội so với các hình thức đầu tư khác, nhất là
quỹ đóng, thì hoạt động của quỹ mở cũng phải đối mặt với những hạn chế nhất định.
- Về phía CTQLQ, khi lập quỹ, rủi ro lớn nhất là việc NĐT yêu cầu
mua lại CCQ khi họ muốn rút vốn. Điều này đòi hỏi CTQLQ phải thận trọng hơn
trong phân bổ danh mục đầu tư và luôn phải duy trì một tỷ lệ tiền mặt nhất định để
đáp ứng nhu cầu rút vốn của NĐT, vì thế mà CTQLQ khó có thể yên tâm sử dụng


18

vốn vào các dự án mang tính quy mô và dài hạn. Hoạt động đầu tư vì thế mà ít



19

những tác động có thể có nhằm đưa ra những giải pháp thích hợp trong hoạt động
đầu tư, giảm thiểu tác động bất lợi từ những rủi ro thị trường.
Rủi ro lãi suất
CCQ cũng là một công cụ đầu tư nên bị ảnh hưởng bởi yếu tố lãi suất.
Lãi suất làm chi phí đầu vào các doanh nghiệp tăng, mức lãi suất mong đợi tăng sẽ
làm giảm giá trị cổ phiếu, giảm giá CCQ cũng như giá trị đầu tư vào trái phiếu và
ngược lại. Để hạn chế những rủi ro về lạm phát ảnh hưởng đến giá trị đầu tư, công
CTQLQ cần thường xuyên phân tích, đánh giá tác động từ xu thế thay đổi lãi suất
để có giải pháp theo tình hình biến động ảnh hưởng đến ngành, doanh nghiệp và trái
phiếu mà công ty đã đầu tư.
Rủi ro lạm phát
Lạm phát làm tăng chi phí đầu vào, tăng lãi suất danh nghĩa do đó ảnh
hưởng đến giá cổ phiếu và CCQ đầu tư. Rủi ro về lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp mà quỹ đầu tư vào, do vậy sẽ ảnh
hưởng kết quả lợi nhuận, giá trị doanh nghiệp và khoản đầu tư vào cổ phiếu của
doanh nghiệp. Tương tự như việc đánh giá rủi ro về lãi suất, hoạt động nghiên cứu
của CTQLQ cũng theo dõi chặt chẽ diễn biến của lạm phát, dự báo tác động ảnh
hưởng trực tiếp và gián tiếp đến giá trị của các khoản đầu tư.
Rủi ro về thiếu tính thanh khoản của chứng chỉ quỹ
Rủi ro thanh khoản hàm ý mức độ dễ dàng hay khó khăn khi mua hoặc
bán lại CCQ. Quỹ mở có ưu điểm lớn về thanh khoản so với quỹ đóng là CCQ của
quỹ mở được giao dịch theo định kỳ. Tuy nhiên, số lượng CCQ mà quỹ có thể mua
lại vào ngày giao dịch vẫn bị một số hạn chế theo quy định của pháp luật để đảm
bảo hoạt động ổn định của quỹ.
Rủi ro xung đột lợi ích
CTQLQ gặp phải những xung đột nhất định về lợi ích giữa các QĐT và


Quản lý
UBCKNN

giám sát

Công ty
quản lý quỹ

Đưa ra chiến lược
mục tiêu,
thực hiện đầu tư

cấp phép
hoạt động

Ban
đại diện quỹ

Giám sát
hoạt động
của quỹ

QUỸ MỞ

B Bảo quản, giám sát
T tài sản của quỹ,
định giá NAV

+ Ngân hàng

trong hoạt động của quỹ mở như sau:
- Phân bổ danh mục đầu tư của quỹ theo mục tiêu mà quỹ đề ra.
- Hoàn thành việc phân phối CCQ mở trong thời hạn quy định.
- Thay mặt Ban đại diện quỹ xây dựng và ban hành điều lệ quỹ, bản cáo
bạch tóm tắt; trường hợp sữa đổi, bổ sung điều lệ quỹ, CTQLQ phải lấy ý kiến của
đại hội NĐT.
- Tiếp nhận và thực hiện giao dịch mua/bán/chuyển đổi CCQ cho NĐT
khi có yêu cầu.
- Thực hiện hoặc ủy quyền cho ngân hàng giám sát xác định NAV của
quỹ và NAV/CCQ.
- Đền bù thiệt hại cho quỹ và NĐT trong trường hợp NAV bị định giá sai.
- Tổ chức họp đại hội NĐT thường niên hoặc bất thường về hợp nhất,
sáp nhập hoặc giải thể quỹ.
- Thực hiện phân chia lợi nhuận của quỹ cho NĐT theo quy định tại
điều lệ quỹ và chính sách chia lợi nhuận được công bố tại bản cáo bạch.
 Ngân hàng giám sát (Custodian/ Fund Administralor): Là NHTM
do CTQLQ lựa chọn và phải có giấy chứng nhận đăng ký hoạt động lưu ký chứng
khoán, có chức năng thực hiện dịch vụ lưu ký và kiểm tra, giám sát, bảo đảm hoạt
động quản lý quỹ của CTQLQ là phù hợp với quy định của pháp luật và điều lệ quỹ.
Ngân hàng giám sát cũng thực hiện đăng ký sở hữu CCQ cho NĐT; thực hiện các
hoạt động giúp NĐT thực hiện quyền phát sinh liên quan đến việc sở hữu CCQ.
Ngân hàng giám sát có nghĩa vụ lưu giữ và bảo quản an toàn tài sản của quỹ, xác
nhận các báo cáo liên quan đến tài sản và hoạt động của quỹ.
 Công ty kiểm toán (Auditor): Là công ty kiểm toán bên ngoài có đội
ngũ kiểm toán viên công chứng (chartered accountant), thực hiện công việc kiểm
tra và xác nhận các báo cáo tài chính của quỹ là xác thực. Công ty kiểm toán
không được có quan hệ tham gia góp vốn, nắm giữ cổ phần, vay hoặc cho vay với




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status