BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HỮU TÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH NỮ TRONG HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp. Hồ Chí Minh – Năm 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN HỮU TÀI
ẢNH HƯỞNG CỦA GIỚI TÍNH NỮ TRONG HỘI ĐỒNG
QUẢN TRỊ ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC
DOANH NGHIỆP VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. Trần Thị Thùy Linh
TÓM TẮT ............................................................................................................................. 1
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN BÀI NGHIÊN CỨU .................................. 2
1.1.
Lý do chọn đề tài ..................................................................................................... 2
1.2.
Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................ 4
1.3.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ........................................................................... 5
1.4.
Phương pháp nghiên cứu ......................................................................................... 5
1.5.
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn ................................................................................. 6
1.6.
Kết cấu bài nghiên cứu ............................................................................................ 6
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM ...... 7
2.1.
Nền tảng cơ sở các lý thuyết ................................................................................... 7
Phân tích mối tương quan ..................................................................................... 51
4.3.
Phân tích kết quả hồi quy ...................................................................................... 54
4.3.1. Kết quả hồi quy về sự tác động của đa dạng giới tính đến hiệu quả hoạt động
công ty 55
4.3.2. Kết hồi quy giữa các thuộc tính của nữ thành viên HĐQT với hiệu quả hoạt
động công ty ................................................................................................................. 62
CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HẠN CHẾ CỦA BÀI NGHIÊN CỨU .......................... 70
5.1.
Kết luận ................................................................................................................. 70
5.2.
Đóng góp của đề tài............................................................................................... 72
5.3.
Hạn chế của bài nghiên cứu .................................................................................. 72
5.4.
Hướng nghiên cứu trong tương lai ........................................................................ 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
1
TÓM TẮT
Mục đích của nghiên cứu là kiểm tra mối quan hệ giữa sự đa dạng giới tính trong
HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty theo phương pháp đo lường kế toán (ROA,
ROE) và thị trường (Tobin’s Q). Bài nghiên cứu sử dụng mẫu của 126 công ty Việt
Nam trên sàn chứng khoán HOSE và thu thập dữ liệu cấu trúc sở hữu và cấu trúc hội
đồng quản trị từ 2010 đến 2017. Với phương pháp ước lượng GMM nhằm khắc phục
các khuyết tật của mô hình, bài nghiên cứu cho thấy kết quả tỷ lệ nữ thành viên có
tương quan âm với cả ROA, ROE và Tobin's Q. Ngoài ra, bài nghiên cứu giả định
rằng những mối quan hệ này bị ảnh hưởng bởi các thuộc tính của nữ thành viên
HĐQT. Để đạt được mục đích này, bài nghiên cứu thu thập được 8 thuộc tính khác
nhau của nữ thành viên, nắm bắt được khả năng giám sát và đóng góp vào nguồn vốn
nhân sự của hội đồng quản trị. Kết quả cho thấy vẫn tồn tại mối quan hệ giữa tỷ lệ nữ
thành viên HĐQT với hiệu quả hoạt động theo số liệu kế toán (tương quan dương) và
số liệu thị trường (tương quan âm) khi đưa vào các thuộc tính này. Thật thú vị là các
thuộc tính khác nhau của nữ thành viên không đồng nhất ảnh hưởng đến hiệu quả kế
toán và thị trường. Các mối quan hệ khác nhau giữa các thuộc tính và kết quả hoạt
động của công ty được lý giải thông qua sự cân bằng giữa lợi ích và chi phí của việc
đa dạng về hiệu quả của HĐQT, đặc biệt trong môi trường bảo vệ nhà đầu tư thấp.
Keywords: Nữ thành viên HĐQT, các thuộc tính của nữ thành viên HĐQT, hiệu
quả hoạt động công ty, sự đa dạng giới tính trong HĐQT, cấu trúc HĐQT
2
CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN BÀI NGHIÊN CỨU
quả quy trình giám sát, ra quyết định, và tư vấn của HĐQT.
3
Đặc biệt theo nghiên cứu của Bennouri và cộng sự (2017), phân tích mối quan hệ
giữa nữ thành viên HĐQT và hiệu quả hoạt động theo số liệu kế toán (ROA và ROE)
và theo số liệu thị trường (Tobin's Q) của công ty mà không xét đến các thuộc tính
của nữ thành viên HĐQT. Kết quả cho thấy rằng nữ thành viên trong ban quản trị sẽ
có mối tương quan dương với ROA và ROE, và có mối tương quan âm với Tobin's
Q. Kết quả của Bennouri và cộng sự (2017) cho thấy sự đa dạng về giới tính có thể
ảnh hưởng đến việc ra quyết định của HĐQT, có thể nâng cao hiệu quả hoạt động của
công ty. Tuy nhiên, các nhà đầu tư thị trường không nhận thấy sự đa dạng về giới tính
của hội đồng quản trị. Sau đó, các ông xem xét các mối quan hệ này thông qua việc
đưa các thuộc tính của nữ thành viên vào mô hình. Kết quả cho thấy rằng mối quan
hệ tích cực giữa hiệu quả hoạt động trên số liệu kế toán và sự đa dạng về giới tính
vẫn có ý nghĩa thống kê khi đưa các thuộc tính của nữ thành viên vào mô hình hồi
quy. Tuy nhiên, mối quan hệ tiêu cực giữa Tobin' Q và nữ thành viên HĐQT biến
mất khi bao gồm các thuộc tính. Điều này cho thấy sự hiểu biết của các nhà đầu tư
thị trường đối với HĐQT có thành viên là nữ chủ yếu liên quan đến những gì họ có
thể mang lại cho hội đồng quản trị.
Dựa vào các kết quả thực nghiệm này, bài nghiên cứu ở đây sẽ tiến hành kiểm tra
mối quan hệ giữa sự đa dạng giới tính trong HĐQT và hiệu quả của công ty bằng
cách sử dụng một mẫu các công ty phi tài chính tại Việt Nam trong khoảng thời gian
từ 2010 đến 2017. Cũng như ở một số nước trên thế giới, hệ thống pháp luật Việt
Nam chưa hoàn thiện, ít bảo vệ các cổ đông thiểu số hơn (La Porta và cộng sự, 2008).
Do đó, bài nghiên cứu phân tích mối quan hệ giữa đa dạng giới tính và hiệu quả hoạt
động của công ty trong một môi trường cụ thể. Thêm vào đó, cũng dựa trên nghiên
cứu của Bennouri và cộng sự (2017) tiến hành phân tích sâu các thuộc tính của nữ
thành viên nhằm thấy được vai trò trung gian như thế nào. Như vậy, cụ thể lý do cho
Xác định sự ảnh hưởng của nữ thành viên trong HĐQT đến hiệu quả hoạt động
của các doanh nghiệp tại Việt Nam, qua đây có thể xác định được ảnh hưởng của nữ
thành viên trong HĐQT đến hiệu quả hoạt động công ty là do bản chất của sự tồn tại
nữ giới trong HĐQT hay do các thuộc tính của các nữ thành viên này tác động đến
hiệu quả hoạt động công ty.
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
Xác định mối quan hệ giữa nữ thành viên HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty
theo số liệu kế toán (ROA và ROE) và theo thị trường (Tobin's Q). Khi xác định được
5
mối tương quan này, có thể thấy được tính chất và vai trò của các thuộc tính ở người
nữ thành viên trong HĐQT có thể ảnh hưởng đến việc ra quyết định và giám sát hiệu
quả của hội đồng quản trị và do đó ảnh hưởng hiệu quả hoạt động của công ty, khi
mà luật pháp Việt Nam còn chưa bảo vệ được các nhà đầu tư nhỏ lẻ.
Các câu hỏi nghiên cứu của bài:
(1) Liệu rằng sự tỷ lệ nữ thành viên HĐQT có tương quan với hiệu quả hoạt
động của công ty hay không?
(2) Liệu rằng sự ảnh hưởng của đa dạng giới tính trong HĐQT đến hiệu quả
hoạt động công ty là do bản chất của sự tồn tại nữ giới trong HĐQT hay do các thuộc
tính của các nữ thành viên này tác động đến hiệu quả hoạt động công ty?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.
Đối tượng của bài nghiên cứu là hiệu quả hoạt động công ty chịu sự tác động của
nữ thành viên trong HĐQT và các thuộc tính của các nữ thành viên này (liên quan
đến nhân khẩu học, trình độ học vấn, mối quan hệ,…) tại 126 công ty phi tài chính
tương tác giữa sự đa dạng về giới tính và hiệu quả của công ty không thống nhất qua
các biện pháp đo lường hiệu quả khác nhau (theo phương pháp kế toán – ROA và
ROE, theo phương pháp thị trường – Tobin’s Q). Phát hiện này phù hợp với các kết
quả trong các lý thuyết nghiên cứu, đặc biệt, Adams và Ferreira (2009) cho các công
ty lớn của Hoa Kỳ hay Bennouri và cộng sự (2017) cho các công ty tại Pháp. Thứ hai,
bài nghiên cứu phân tích sâu về mối quan hệ giữa sự đa dạng về giới tính và kết quả
hoạt động của công ty bằng cách nghiên cứu tác động trung gian của một tập hợp lớn
các thuộc tính của nữ thành viên HĐQT liên quan đến vấn đề kiểm soát và nguồn vốn
nhân lực của công ty. Cuối cùng, đóng góp vào cuộc tranh luận về luật đa dạng giới
tính bằng cách nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xem xét các thuộc tính của nữ
thành viên để nắm bắt những hệ quả kinh tế của luật pháp.
1.6.
Kết cấu bài nghiên cứu
Chương 1. Giới thiệu tổng quan về bài nghiên cứu
Chương 2. Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây
Chương 3. Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu
Chương 4. Kết quả nghiên cứu tại Việt Nam
Chương 5. Kết luận
7
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM
Trong phần này, bài nghiên cứu nghiên cứu sẽ trình bày các lý thuyết và nghiên
cứu liên quan đến sự tác động của sự đa dạng về giới tính trong HĐQT và các thuộc
tính của nữ thành viên HĐQT ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Cụ thể bao gồm các phần: - Cơ sở lý thuyết về vấn đề đại diện, lý thuyết phụ thuộc
nguồn lực, lý thuyết vốn con người; - Các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề đại
nợ). Với mục tiêu kiểm soát khả năng thu hồi được khoản vay và thu được lãi cho
vay, chủ nợ có xu hướng ràng buộc một số điều khoản trong hợp đồng khi cho vay
như: kiểm soát việc chia cổ tức, kiểm soát đầu tư, yêu cầu mức lãi vay phạt cao khi
vi phạm các điều khoản. Việc này sẽ làm xuất hiện một số chi phí đại diện, làm ảnh
hưởng đến hiệu quả hoạt động và giá trị doanh.
- Ba là, bất cân xứng thông tin giữa cổ đông kiểm soát và cổ đông nhỏ lẻ: vì lợi
ích nhóm, các cổ đông kiểm soát sẽ thực hiện một số chuyển dịch tài sản gây bất lợi
cho cổ đông thiểu số như mua bán tài sản công ty với giá có lợi cho họ, cho vay với
lãi suất cao,…những phương thức chuyển dịch tài sản này sẽ ít nhiều ảnh hưởng đến
hiệu quả hoạt động của công ty.
Theo Healy và Palepu (2001) hợp đồng tối ưu giữa nhà quản trị với nhà đầu tư,
thỏa thuận thù lao và tiền thưởng của nhà quản trị, giải pháp dung hòa lợi ích giữa
nhà quản trị với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài. Những hợp đồng này thường yêu
cầu doanh nghiệp phải sử dụng thông tin được cung cấp bởi hệ thống kế toán quản trị
như: hệ thống ngân sách, thông tin kiểm soát chi phí, phân bổ các nguồn lực… để nhà
đầu tư đánh giá sự tuân thủ những cam kết trong hợp đồng và đánh giá nhà quản trị
có quản trị các nguồn lực của công ty gắn với lợi ích của nhà đầu tư bên ngoài.
Đặc biệt, lý thuyết đại diện trong quản trị doanh nghiệp là một phần mở rộng của
lý thuyết đại diện được thảo luận ở trên. Nó liên quan đến một loại mối quan hệ đại
diện cụ thể tồn tại giữa các cổ đông và giám đốc/quản lý của một công ty. Các cổ
đông, chủ sở hữu thực sự của công ty, như chủ tịch HĐQT, đề cử các giám đốc điều
hành để điều hành và đưa ra quyết định thay cho họ. Mục đích là để đại diện cho quan
điểm của chủ sở hữu và tiến hành các hoạt động vì lợi ích của chủ sở hữu. Mặc dù có
lý do rõ ràng trong việc đề cử ban giám đốc, có rất nhiều trường hợp khi các vấn đề
phức tạp xuất hiện và các giám đốc điều hành cố ý hoặc vô tình đưa ra các quyết định
9
không đem lại lợi ích tốt nhất cho cổ đông. Trong môi trường kinh doanh năng động,
công ty đều được quan tâm. Các cổ đông nên tin tưởng vào việc quản lý của công ty,
tương tự như vậy, quản lý cũng nên giữ lợi ích của các chủ sở hữu thực sự của công
ty trong tâm trí của họ. Một thông tin rõ ràng nên được gửi đi giải thích lý do đằng
sau các quyết định kinh doanh chính để giúp các cổ đông hiểu và đánh giá cao những
thay đổi nếu có.
2.1.2. Lý thuyết về phụ thuộc nguồn lực (Resource Dependence Theory)
Các công ty phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài doanh nghiệp để tồn tại,
những phụ thuộc này sẽ gây ra rủi ro cho các doanh nghiệp. Để giảm bớt những rủi
ro này các công ty có thể tăng cường mối liên kết bên ngoài để kiểm soát các nguồn
lực đó. Pfeffer và Salancik (1978) lập luận rằng các HĐQT là kênh phục vụ cho sự
liên kết công ty với các tổ chức bên ngoài khác để giải quyết vấn đề phụ thuộc môi
trường. Pfeffer và Salancik (1978) đề xuất bốn lợi ích chính cho các mối liên kết bên
ngoài: (1) cung cấp các nguồn lực như thông tin và chuyên môn; (2) tạo ra các kênh
giao tiếp với các thành phần quan trọng đối với công ty; (3) cung cấp các cam kết hỗ
trợ từ các tổ chức hoặc nhóm quan trọng trong môi trường bên ngoài; và (4) tạo ra
tính hợp pháp cho công ty trong môi trường bên ngoài. Hillman, Cannella và Paetzold
(2000) mở rộng bốn lợi ích này thành phân loại các kiểu quản lý cung cấp nhiều
nguồn lực khác nhau cho công ty: người trong cuộc, chuyên gia kinh doanh, chuyên
gia hỗ trợ và ảnh hưởng của cộng đồng. Hillman và cộng sự (2000) mở rộng lý thuyết
phụ thuộc nguồn lực cho thấy rằng các kiểu quản lý khác nhau sẽ cung cấp các nguồn
lực có lợi khác nhau cho công ty. Kết quả là, một hội đồng đa dạng hơn sẽ cung cấp
nhiều nguồn lực quý giá hơn, điều này sẽ tạo ra hiệu suất tốt hơn.
Hơn nữa, sự đa dạng trong hội đồng là quan trọng đối với doanh nghiệp. Ví dụ,
Booth và Deli (1999) thấy rằng sự hiện diện của một chủ ngân hàng thương mại trong
HĐQT có liên quan tích cực đến tổng nợ của công ty và họ kết luận rằng các ngân
hàng thương mại cung cấp chuyên môn và liên kết với thị trường nợ ngân hàng.
Agrawal và Knoeber (2001) nhận thấy rằng các nhà quản lý bên ngoài có nguồn gốc
chính trị và pháp lý có nhiều khả năng tham gia vào hội đồng quản trị của các công
12
Terjesen, Sealy và Singh (2009) cho thấy lý thuyết vốn nhân lực bắt nguồn từ
công trình của Becker (1964) đề cập đến vai trò của giáo dục, kinh nghiệm và kỹ năng
của một người có thể được sử dụng vì lợi ích của một tổ chức. Hơn nữa, kết quả sự
khác biệt giới tính trong ban quản lý là do nét riêng biệt trong nguồn vốn nhân lực
của họ (Terjesen et al., 2009). Nếu vốn nhân lực của ban quản lý doanh nghiệp bị ảnh
hưởng bởi giới tính, thì giả thuyết rằng vốn nhân lực của các dân tộc thiểu số sẽ là
duy nhất so với cả nam và nữ da trắng. Lý thuyết vốn nhân lực bổ sung một số khái
niệm liên quan đến sự đa dạng của HĐQT bắt nguồn từ lý thuyết phụ thuộc tài nguyên.
Một câu hỏi được đưa ra bởi thực tế là phụ nữ và các dân tộc thiểu số có nguồn
nhân lực duy nhất là, "tuyên bố rằng phụ nữ thiếu quyền vốn nhân lực cho ban quản
lý công ty"(Terjesen et al., 2009: 325). Thực tế về nguồn vốn nhân lực nữ cho rằng
phụ nữ chỉ có đủ điều kiện như nam giới về một số phẩm chất quan trọng bao gồm
trình độ học vấn nhưng phụ nữ ít có kinh nghiệm làm chuyên gia kinh doanh (Terjesen
et al., 2009). Peterson và cộng sự (2007) tìm thấy rằng các quản lý người Mỹ gốc Phi
đảm nhận các vai trò khác nhau trong HĐQT so với các quản lý người Da trắng có
thể gắn liền với vốn nhân lực độc đáo của họ, điều này cũng tương tự đối với các
quản lý nữ (Hillman và cộng sự, 2002; Peterson và cộng sự. 2007). Kết quả là lý
thuyết vốn nhân lực dự đoán rằng hiệu suất của hội đồng quản trị sẽ bị ảnh hưởng bởi
sự đa dạng của hội đồng quản trị, cụ thể là kết quả của vốn nhân lực đa dạng và độc
đáo nhưng sự đa dạng có thể là tích cực hay tiêu cực đến hiệu quả tài chính.
2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm liên quan
2.2.1. Các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề đại diện và quản trị doanh nghiệp
Theo Shleifer & Vishny (2000) nêu vấn đề về xung đột lợi ích giữa các thành
phần bên trong công ty (như ban giám đốc và các cổ đông kiểm soát) với thành phần
bên ngoài công ty (ví dụ như các cổ đông thiểu số, người cho vay). Những người
trong nội bộ kiểm soát tài sản của công ty có thể sử dụng những tài sản này cho một
Như vậy, một trong những vấn đề mà lý thuyết đại diện đặt ra đó là thiết lập cấu
trúc HĐQT nhằm đảm bảo lợi ích của các cổ đông. HĐQT có thể được thiết lập theo
nhiều cách thức khác nhau nhằm đạt được mục tiêu chung của một tổ chức. Sự khác
nhau trong cấu trúc HĐQT xuất phát từ hai quan điểm đối lập. Một là, HĐQT thiết
lập nhằm hỗ trợ sự kiểm soát của đội ngũ quản lý, dựa trên sự hiểu biết công ty của
14
ban giám đốc điều hành hơn là của thành viên HĐQT độc lập bên ngoài, điều này
làm gia tăng giá trị doanh nghiệp (Mace, 1971). Hai là, HĐQT thiết lập nhằm tối thiểu
hóa chi phí đại diện với cấu trúc HĐQT bên ngoài, giám sát hành vị của đội ngũ quản
lý, làm giảm bớt sự mâu thuẫn lợi ích giữa cổ đông và nhà quản lý (Fama và Jensen,
1983). Một số cấu trúc HĐQT thường được thiết lập trong thực tế như sau:
Đầu tiên, cấu trúc HĐQT có cấu trúc lãnh đạo hợp nhất hay phân tách. Khi mà
giám đốc điều hành (CEO) cũng là chủ tịch HĐQT thì ta nói công ty có cấu trúc lãnh
đạo hợp nhất, ngược lại, khi hai vị trí này đảm nhận bởi hai người khác nhau được
gọi là cấu trúc phân tách. Sự tách biệt vai trò của CEO và chủ tịch HĐQT được đề
cập nhiều trong lý thuyết đại diện, do vai trò của HĐQT là giám sát ban quản lý công
ty và bảo vệ lợi ích cổ đông. Việc hợp nhất vai trò của CEO và chủ tịch HĐQT sẽ tạo
ra một CEO tập trung quyền lực, điều này dễ dàng dẫn đến sự giám sát kém hiệu quả
ban quản lý công ty (Lam và Lee, 2008).
Một cơ chế quan trọng khác của HĐQT là thành phần của HĐQT, đề cập tới
thành viên HĐQT điều hành và không điều hành. HĐQT với đa số thành viên không
điều hành được củng cố và đề cập trong lý thuyết đại diện. Theo lý thuyết đại diện,
một HĐQT hiệu quả nên bao gồm đa số thành viên HĐQT không điều hành, do tính
độc lập của các thành viên này đối với hoạt động quản lý công ty có thể gia tăng hiệu
quả hoạt động công ty. Ngược lại, thành viên HĐQT có điều hành có trách nhiệm
thực hiện các hoạt động hàng ngày của công ty như về kinh doanh, marketing, tài
chính,…. Với vai trò quản lý điều hành hoạt động công ty, họ không thể thực hiện
Một sự thật là nam giới và nữ giới có xu hướng quản trị khác nhau. Điều này
không chỉ thể hiện trong hành vi ứng xử xã hội của họ mà đặc biệt thể hiện qua cách
họ suy nghĩ và mong muốn trong xã hội. Những mong muốn này góp phần thiết lập
vai trò của giới tính. Theo lý thuyết vai trò xã hội, các nhà xã hội học kết luận rằng
có một mối liên hệ giữa các dạng hoạt động con người tham gia vào và khuynh hướng
cảm xúc bên trong (Eagly và các cộng sự, 2000). Các nhà nghiên cứu tại Học viện
Nghiên cứu Giới tính Clayman đã xem xét hai ngôn ngữ điều hành ăn sâu vào nhiều
khía cạnh của chốn công sở, từ nơi làm việc, đăng tin tuyển nhân sự hoặc đánh giá
hiệu quả công việc: Ngôn ngữ cá nhân hay ngôn ngữ của tôi (agentic) và ngôn ngữ
16
cộng đồng hay ngôn ngữ của chúng ta (communal). Tính cách thiên về cộng đồng Communal - liên quan đến nữ giới nhiều hơn nam giới, bao gồm thân thiện, dễ dàng
chia sẻ, cảm thông, nhạy cảm và hiền lành. Trong vấn đề chuyên môn, hành vi thuộc
nhóm này thể hiện qua việc nói năng không dứt khoát, không tập trung vào một ai,
chịu sự điều khiển từ những người khác, nhận sự giúp đỡ từ người khác và cố gắng
tìm hướng giải quyết cho các vấn đề liên quan và vấn đề cá nhân. Tính cách thiên về
cá nhân – Agentic - lại phù hợp hơn với nam giới, thể hiện khuynh hướng quyết đoán,
tự tin và kiểm soát mọi việc. Nét đặc trưng của nhóm này bao gồm quả quyết, tham
vọng, thống trị, mạnh mẽ, độc lập, tự tin và luôn luôn đề cao sự cạnh tranh. Trong
vấn đề chuyên môn, hành vi Agentic biểu hiện nói năng dứt khoát, quyết đoán, gây
ảnh hưởng đến người khác, hoàn toàn tập trung và đưa ra các vấn đề tập trung vào
giải quyết (Eagly và Johansen-Schmidt, 2001). Con người trên vị trí lãnh đạo nắm
giữ vai trò điều hành, quản trị xác định vị thế của họ trong tổ chức, nhưng họ cũng
chịu áp lực từ vai trò lãnh đạo của mình. Chính vì thế, dường như chắc chắn nữ giới
và nam giới khi sở hữu cùng vai trò.
Các giám đốc được theo dõi và thông tin chủ yếu từ HĐQT. Mối quan hệ giữa đa
dạng hóa giới tính trong HĐQT và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp thường được
giải thích bởi lý thuyết vấn đề đại diện (chức năng giám sát), sự đa dạng của HĐQT
cũng cho thấy rằng mối quan hệ tích cực giữa các biện pháp hiệu suất doanh nghiệp
và đa dạng giới tính được các nghiên cứu trước đây ghi nhận không phải là nỗ lực để
giải quyết tính đa dạng của tính đa dạng. Thay vào đó, hiệu quả trung bình của đa
dạng giới trên cả định giá thị trường và hiệu suất hoạt động dường như là tiêu cực.
Hiệu ứng tiêu cực này được thúc đẩy bởi các công ty có quyền cổ đông lớn hơn. Ở
các công ty có quyền cổ đông yếu hơn, đa dạng giới có tác động tích cực. Kết quả
của chúng tôi cho thấy HĐQT đa dạng thì kiểm soát khó khăn hơn. Tuy nhiên, việc
ủy thác giới hạn giới tính trong HĐQT có thể không làm tăng hiệu quả của hội đồng
quản trị, nhưng có thể làm giảm hiệu quả của các doanh nghiệp được quản lý tốt, nơi
mà việc giám sát bổ sung là không có hiệu quả.
Bài nghiên cứu của Liu và cộng sự (2014) xem xét sự ảnh hưởng của sự đa dạng
về giới tính đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong các doanh nghiệp niêm
yết của Trung Quốc từ năm 1999 đến năm 2011, ghi nhận mối quan hệ tích cực và có
18
ý nghĩa giữa sự đa dạng về giới và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Nữ giám
đốc điều hành có một tác động tích cực mạnh mẽ đến hiệu suất công ty hơn so với nữ
giám đốc độc lập, điều này cho thấy rằng hiệu quả điều hành lớn hơn hiệu quả giám
sát. Hơn nữa, hội đồng quản trị với ba hoặc nhiều nữ thành viên có tác động mạnh
hơn đến hiệu suất công ty hơn so với các ban với hai hoặc ít giám đốc nữ, phù hợp
với lý thuyết khối lượng quan trọng. Cuối cùng, thấy rằng tác động của các giám đốc
nữ đối với hoạt động của doanh nghiệp là đáng kể trong các doanh nghiệp do tư nhân
kiểm soát nhưng không đáng kể trong các công ty do nhà nước kiểm soát. Khi mà các
chính phủ ngày càng suy ngẫm về chính sách đa dạng giới tính, bài nghiên cứu cung
cấp hướng dẫn thực nghiệm hữu ích cho các nhà quản lý Trung Quốc về vấn đề này.
Đặc biệt theo nghiên cứu của Bennouri và cộng sự (2017), phân tích mối quan hệ
giữa nữ thành viên HĐQT và hiệu quả hoạt động theo số liệu kế toán (ROA và ROE)
và theo số liệu thị trường (Tobin's Q) của công ty mà không tính đến các thuộc tính