Sự ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính đến việc làm đẹp báo cáo tài chính của các doanh nghiệp việt nam trong giai đoạn 2008 2013 - Pdf 18


Mã số: …………….
Sự ảnh hưởng của Đòn bẩy tài chính đến việc
làm đẹp Báo cáo tài chính của các doanh
nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2008 - 2012

i

Mục lục:
1. Giới thiệu 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Vấn đề nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Phạm vi và đối tượng 3
1.6 Nội dung nghiên cứu 3
2. Cơ sở lý luận 3
2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây 3
2.1.1 Vì sao các công ty lại phù phép báo cáo tài chính 3
2.1.2 Việc lựa chọn giữa hai phương pháp AEM và REM 5
2.1.3 Thủ thuật làm đẹp báo cáo tài chính bằng các giao dịch thực (REM ) 8
2.1.4 Ảnh hưởng của đòn bẩy tài chính lên REM 10
2.2 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc làm đẹp báo cáo tài chính 11
2.2.1 Chi phí lãi ròng (INTEXP) 11
2.2.2 Lợi nhuận ròng trên tài sản ( ROA) 12
2.2.3 Quy mô doanh nghiệp (SIZE) 12
2.2.4 Công ty kiểm toán 12
3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu 13
3.1 Dữ liệu 13
3.1.1 Biến phụ thuộc 14
3.1.2 Biến giải thích 14
3.2 Phương pháp luận 15
3.2.1 Ba mô hình đại diện cho REM 15
3.2.2 Mô hình ước lượng 16
4. Kết quả nghiên cứu 18
4.1 Kết quả kiểm định việc lựa chọn phương pháp chạy mô hình hồi quy đối với ba mô hình
đại diện 18
4.2 Kiểm tra và khắc phục hiện tượng “ Đa cộng tuyến” 23


1
1. Giới thiệu
1.1 Lý do chọn đề tài
Khởi đầu năm 2014, nền kinh tế Việt Nam tuy đã có những dấu hiệu phục hồi
về các chỉ số kinh tế vĩ mô, tuy nhiên các chuyên gia đánh giá nhận định rằng đất
nước vẫn đang trong giai đoạn khủng hoảng, trì trệ, và tăng trưởng dưới mức tiềm
năng, đồng thời nhiều yếu tố mang tính chất nền tảng khác vẫn chưa được giải quyết
triệt để. Nền kinh tế khó khăn với hệ lụy theo sau nó là sự sụp đổ của nhiều doanh
nghiệp trong nước. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê trong năm 2013 có khoảng
60.700 doanh nghiệp (DN) phải giải thể, ngừng hoạt động, tăng 11,9% so với 2012 và
tăng 12,5% so với 2011. Phần lớn những doanh nghiệp này đang trong tình cảnh “khát
vốn” để hoạt động kinh doanh thế nhưng hầu hết họ không thể tiếp cận được vốn vay
từ ngân hàng. Ngoài những nhân tố khách quan như lãi suất cho vay cao dẫn đến tình
trạng trên thì không thể phủ nhận là cũng có những nguyên nhân chủ quan từ chính
các doanh nghiệp. Nguyên nhân nằm ở chỗ khi quyết định cho một doanh nghiệp vay
vốn, ngân hàng thường quan tâm đến hoạt động sản xuất kinh doanh và khả năng sinh
lời của doanh nghiệp. Chính vì vậy, để làm đẹp thủ tục xin vay vốn, không ít doanh
nghiệp đã chỉnh sửa báo cáo tài chính theo đúng tiêu chuẩn quy định do ngân hàng đặt
ra. Ngoài ra, hiện nay, báo cáo tài chính định kỳ hàng quý, hàng năm là thông tin đầy
đủ nhất về doanh nghiệp mà nhà đầu tư có thể tiếp cận một cách chính thức. Báo cáo

biến đại diện bằng phương pháp Likelihood và sử dụng mô hình hồi quy mảng và
chéo cho mỗi trường hợp. Kết quả cho thấy, rõ ràng việc làm đẹp báo cáo tài chính bị
ảnh hưởng bởi vấn đề vay nợ của doanh nghiệp.
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sẽ sử dụng kiểm định Hausman hoặc Likelihood để lựa chọn
mô hình mô hình hiệu ứng cố định (fixed effects model) hoặc mô hình hiệu ứng ngẫu
nhiên (random effects model). Kết quả hồi quy của từng mô hình ở trên sẽ được lấy
làm đại diện cho REM để tiếp tục thực hiện việc hồi quy trong mô hình ước lượng
OLS.
3
1.5 Phạm vi và đối tượng
Mẫu bao gồm 100 công ty được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán
TPHCM và Hà Nội, bao gồm 6 nhóm ngành kinh tế trong giai đoạn 2008-2013, trừ
các công ty cung cấp các dịch vụ tài chính ( ngân hàng thương mại, công ty tài chính,
công ty bảo hiểm, và công ty chứng khoán và những công ty có bộ dữ liệu không đầy
đủ hoặc bị mất dữ liệu).
1.6 Nội dung nghiên cứu
 Cơ sở lý luận về việc làm đẹp BCTC và ảnh hưởng của LEV đến REM.
 Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện REM đối với các công ty
được niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam
2. Cơ sở lý luận
2.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây
2.1.1 Vì sao các công ty lại phù phép báo cáo tài chính
2.1.1.1 Làm đẹp báo cáo tài chính nhằm thu hút các nhà đầu tư
Schipper,1989 trong nghiên cứu của mình đã tranh luận rằng (EM) là những
hành động can thiệp có mục đích vào tiến trình đưa báo cáo tài chính ra bên ngoài, với
mục đích đạt đươc các lợi ích cá nhân. Đồng quan điểm trên, Aini và các cộng sự,

cứu ( Ducan, 2001). Ảnh hưởng của những biến này lên việc làm đẹp báo cáo tài
chính ở các quốc gia khác nhau có thể khác nhau. Ví dụ, lý thuyết nợ cho rằng công ty
có tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần lớn hơn thì được dự đoán sẽ lựa chọn bút toán dồn tích
làm gia tăng thu nhập. Tuy nhiên, ở các công ty Nhật thì thích sử dụng bút toán làm
giảm thu nhập hơn (Kesterm,1992; Phan và Yoshikawa,1996; Pourjalali và Hansen,
1996). Có bằng chứng cho rằng các nhà quản lý của cả các công ty ở Nhật và Mỹ đều
chọn bút toán dồn tích làm tăng thu nhập để làm gia tăng tiền thưởng của họ và số tiền
tài trợ từ bên ngoài. Việc lựa chọn bút toán làm tăng thu nhập của các công ty Nhật
cũng được tìm thấy có mối quan hệ cùng chiều với quyền sở hữu của các nhà đầu tư
cá nhân và các công ty uy tín nhưng lại có mối quan hệ ngược chiều với quyền sở hữu
của các tổ chức tài chính và các tập đoàn khác( Darrough, Pourjalali và Saudagaran,
5
1998). Việc lựa chọn các bút toán dồn tích của các nhà quản lý cũng bị ảnh hưởng
bởi sự khác biệt về kinh tế chính trị xã hội và môi trường ở các quốc gia khác nhau.
Hơn nữa, những thay đổi kinh tế bất thường ( chẳng hạn như sự tuột dốc bất thường
của thị trường hay sự tăng trường của thị trường) có thể gây ra những động lực khác
nhau cho việc làm đẹp báo cáo tài chính. Ví dụ, sự sụp đổ của thị trường năm 1990 ở
Nhật đã gây ra sự thay đổi trong các nhân tố kinh tế làm ảnh hưởng đến việc lựa chọn
phương pháp kế toán ( Darrough, Pourjalali, và Saudagaran,1998)
2.1.1.2 Làm đẹp báo cáo tài chính để đáp ứng các thay đổi thuế suất
Roubi và Richardson, (1998) cho rằng việc làm đẹp báo cáo tài chính của các
công ty phi sản xuất ở Malaysia, Singapore và Canada nhằm mục đích đáp ứng việc
thay đổi thuế suất. Phân tích của họ cung cấp những bằng chứng về việc làm đẹp báo
cáo tài chính thông qua các bút toán dồn tích theo ý mình của của các công ty Canada
và Singapore tương tự như các bằng chứng được tìm thấy ở Mỹ. Chúng không đóng
góp nhiều vào các nhân tố văn hóa được tìm thấy trong những kết quả của Malaysia.
Cụ thể, Crazy Eddie, một công ty bán lẻ thiết bị điện tử, đã trốn thuế trong

việc đầu tư.
AEM gia tăng cùng với độ nhạy cảm liên quan đến giá chứng khoán của nhà
quản lý - dựa trên cơ sở cho rằng các khoản bù đắp ảnh hưởng đến giá chứng khoán
và giá cả thị trường của thu nhập. Nghiên cứu của Matsumoto (2002) cũng cho thấy
những kết quả tương tự, ngoại trừ việc tác giả chỉ tập trung vào hành vi của AEM
trong thiết lập MBE.Một số nghiêu cứu lại cho rằng không phát hiện thấy mối quan hệ
đáng kể giữa REM và chi phí sử dụng của nó.Burgstahler và Dichev (1997) cho thấy
rằng cả dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và những thay đổi trong phương pháp hạch
toán gần đây được quản lý nhằm làm gia tăng thu nhập. Burgstahler và Eames (2006)
nghiên cứu cho thấy dòng tiền từ hoạt động kinh doanh và phương pháp hạch toán
tùy ý được kiểm soát nhằm tránh xảy ra kết quả thu nhập trong báo cáo thấp hơn so
với phân tích dư đoán.
7
Barton ( 2001) và Pincus, Rajgopal (2002) đưa ra những bằng chứng cho thấy rằng
các nhà quản lý sử dụng các công cụ phái sinh và các phương pháp hạch toán tùy ý
như việc thay thế một phần cho vấn đề làm mượt thu nhập. Áp dụng sớm hơn quyền
chọn cổ phiếu là một trong những bằng chứng cho phương pháp sử dụng công cụ phái
sinh, Doanh nghiệp tặng tặng nhân viên quyền chọn cổ phiếu được định ngày trước so
với ngày công ty thực sự tặng quyền chọn đó. Do đó, khoản tiền tăng thêm do chênh
lệch giá cổ phiếu sẽ không được tính vào thu nhập chịu thuế. Apple chính là ví dụ
điển hình cho thủ thuật này. Sau khi bị phát hiện, Steve Jobs và các lãnh đạo khác của
Apple đã phải nộp khoản tiền phạt trị giá 14 triệu USD cộng với phí luật sư.
Những quyết định về vấn đề làm đẹp báo cáo tài chính chủ yếu xoay quanh vào kỳ
vọng tăng trưởng của một công ty, kinh phí đãi ngộ cấp quản lý, và chi phí của những
hoạt động mánh khóe thực sự. Những công ty nằm trong những vòng quay hoạt động
khác nhau thì có kỳ vọng về mặt tăng trưởng kinh tế khác nhau.Graham và các cộng
sự (2005) khi nói về các bằng chứng khảo sát cho rằng những nhà quản lý của các

Theo Graham và các cộng sự 2005: Các CFO tin rằng các nhà đầu tư bên ngoài
quan tâm đến thu nhập hơn là dòng tiền. Hai tiêu chuẩn thu nhập quan trọng nhất là
thu nhập từng quý so với cùng quý năm trước và sự ước lượng tính đồng nhất. Các
giám đốc điều hành tin rằng việc đạt được các tiêu chuẩn về thu nhập sẽ tạo dựng nên
sự tin tưởng với thị trường và giúp hoặc duy trì hoặc làm gia tăng giá cổ phiếu của
công ty họ.Các nhà quản lý sẵn sàng đánh mất một khoản hy sinh nhỏ hoặc trung bình
trong giá trị kinh tế để đạt được những kỳ vọng thu nhập theo phân tích đồng thời
những nhà đầu tư thì tránh những tác động nặng nề của thị trường đối với vấn đề phân
phối dưới mức (under-delivering).Đại đa số các CFO thích nguồn thu nhập ổn định (
so với thu nhập biến động). Với việc nắm giữ dòng tiền chảy liên tục thì nguồn thu
nhập biến động được cho là rủi ro hơn so với nguồn thu nhập ổn định. Hơn nữa,
nguồn thu nhập ổn định làm giảm nhẹ công việc dự đoán dòng tiền trong tương lai
của nhà phân tích. Các giám đốc tài chính tin rằng nguồn thu nhập ít mang tính dự
9
đoán – được phản ánh trong việc bỏ lỡ những mục tiêu thu nhập hoặc sự biến động
trong thu nhập – yêu cầu một mức bảo hiểm rủi ro trên thi trường. Điều đáng ngạc
nhiên là 78% các giám đốc tài chính được khảo sát muốn từ bỏ giá trị kinh tế để đạt
được thu nhập ổn định.Các CFO tranh luận rằng hệ thống thị trường ( những sức ép
thị trường và các phản ứng quá mức) khuyến khích các quyết định hy sinh giá trị
trong dài hạn để đạt được những mục tiêu về thu nhập.
Theo Roychowdhury, 2006, mặc dù (REM) có thể làm giảm giá trị của doanh
nghiệp nhưng các nhà quản lý vẫn sẵng sàng thực hiện những thủ thuật làm đẹp thu
nhập thông qua các hoạt động thực,cụ thể là các hoạt động không bị ảnh hưởng bởi
việc kiểm toán hoặc các hoạt động giám sát. Tác giả định nghĩa những thủ thuật sử
dụng các hoạt động thực là những hành động bắt nguồn từ những hoạt động vận hành
bình thường được thúc đẩy bởi kỳ vọng của các nhà quản lý để đánh lừa ít nhất một số
cổ đông tin tưởng vào mục tiêu của các báo cáo tài chính chắc chắn sẽ đạt được trong

của một công ty, điều này được xem như là kết quả về việc phân tích các vụ bê bối
của những công ty đã bị đánh mất lòng tin về những số liệu về thu nhập của mình.
Nguyên nhân là do công ty phải đối mặt với chi phí lãi suất tăng cao nhiều hơn, đây là
kết quả của việc gia tăng các khoản vay tài chính và gia tăng lãi suất. Dòng tiền hiệu
quả từ những hoạt động kinh doanh là cần thiết đối với những công ty này để giữ cho
công ty vẫn có lợi nhuận và tồn tại.việc thiếu hụt dòng tiền có thể dẫn đến kết quả là
sự sụp đổ hoặc công ty sẽ trở thành nạn nhân của một vụ thôn tính. Nhận thức được
các nhà đầu tư sẽ sử dụng báo cáo lưu chuyển dòng tiền để đưa ra các quyết định đầu
tư, các nhóm nhà quản lý thông minh và năng động sẽ có nhiều khả năng giải quyết
vấn đề bằng REM nhằm làm ảnh hưởng lên bức tranh dòng tiền từ hoạt động kinh
doanh thực chất của công ty ( CFO) và nhận được hoặc duy trì khả năng vay nợ bên
ngoài. Những công ty có đòn bẩy tài chính cao có thể thích dòng tiền từ hoạt động
kinh doanh hơn là nhờ vào các nguồn lực hỗ trợ tài chính cơ bản bởi vì một số nhà
phân tích tin rằng dòng tiền từ hoạt động kinh doanh là chỉ số minh bạch hơn về hiệu
quả hoạt động của công ty. Kết quả của bài nghiên cứu được trình bày bởi Nwaeze và
11
các cộng sự (2005), cho rằng đòn bẩy tài chính có ảnh hưởng tích cực và đáng kể vào
vai trò của dòng tiền từ hoạt động kinh doanh.
2.1.4.2 Đòn bẩy tài chính làm hạn chế REM
Một nghiên cứu về các phương pháp phù phép thu nhập nhấn mạnh rằng đòn
bẩy tài chính làm hạn chế EM ( theo Jelinek, 2007; Wasimullah và các cộng sự,
2010). Trong nghiên cứu của Jelinek, 2007, tác giả cho rằng “ gia tăng đòn bẩy tài
chính‟ làm giảm EM. „ Tăng đòn bẩy‟ làm giảm những thủ thuật về thu nhập có tính
cơ hội vì một số lý do: 1) công ty sử dụng đòn bẩy tài chính yêu cầu phải trả nợ vay,
vì vậy làm giảm lượng tiền mặt sẵn có cho vấn đề quản lý đối với những chi tiêu
không tối ưu ( Jensen,1986); 2) Khi một công ty đi vay, nó phải thực hiện việc trả nợ
cho người cho vay, và thường gặp phải những giới hạn trong việc sử dụng tiền

2.2.3 Quy mô doanh nghiệp (SIZE)
Quy mô ảnh hưởng đến việc làm đẹp báo cáo tài chính bằng các ước tính kế
toán ( theo nghiên cứu của Gu và các cộng sự,2005 và Aini và các cộng sự 2006). Tuy
nhiên có hai luồng tranh luận trong mối quan hệ này. Một mặt, Gu và các cộng sự cho
rằng sự biến động trong việc thực hiện các ước tính kế toán giảm theo quy mô của
công ty, phù hợp với việc những công ty lớn thì có độ biến động trong hoạt động và
việc làm đẹp báo cáo tài chính ít hơn do chi phí chính trị cao hơn so với những công
ty nhỏ hơn. Mặt khác, Aini và các cộng sự 2006 cho rằng các công ty có quy mô lớn
hơn thì thích lựa chọn những phương pháp kế toán làm giảm thu nhập để tránh các chi
phí chính trị.
2.2.4 Công ty kiểm toán
Nghiên cứu của Charles E. Jordan trong tác phẩm “ Sự ảnh hưởng của chất
lượng kiểm toán đến việc làm đẹp báo cáo tài chính để đạt được những thành tựu
trong EPS” cho thấy mục đích chính của kiểm toán báo cáo tài chính là cung cấp cho
người sử dụng sử đảm bảo rằng các báo cáo tài chính được thực hiện theo những
chuẩn mực kế toán chung được chấp nhận, tức là cung cấp những thông tin có tính
trung thực. Viêc thực hiện làm đẹp báo cáo tài chính nhằm mục đích đạt được mục
13
tiêu về EPS dường như vi phạm trực tiếp đến tính trung thực đại diện do những kết
quả tài chính được thực hiện không phản ánh hiệu suất thực hiện để đặt được thu nhập
được xác định trước. Vì vậy, tác giả cho rằng chất lượng kiểm toán có mối tương
quan tỷ lệ nghịch với hình thức của việc làm đẹp báo cáo tài chính. Cùng lúc đó, theo
nghiên cứu của Ahmed Ebrahim trong “Auditing Quality, Auditor Tenure, Client
Importance, and Earnings Management: An Additional Evidence” cho rằng tiến trình
kiểm toán được giả định như một thiết bị quản lý sẽ giảm những động lực của các nhà
quản lý để làm đẹp báo cáo tài chính. Vì vậy tác giả cũng cho rằng chất lượng kiểm
toán cao hơn thì các nhà quản lý ít thực hiện những hoạt động làm đẹp báo cáo tài

công ty bảo hiểm, và công ty chứng khoán và những công ty có bộ dữ liệu không đầy
đủ hoặc bị mất dữ liệu). Trọng tâm của bảng số liệu là phác họa được tối đa các chỉ số
thể hiện kết quả hoạt động của các doanh nghiệp nhằm đưa ra được nhận định đáng
tin cậy cho mục tiêu của bài nghiên cứu. Dữ liệu được sử dụng trong quá trình đánh
giá được lấy từ nhiều nguồn thông tin có sẵn như báo cáo thường niên, hồ sơ tại Ủy
Ban Chứng Khoán và sàn giao dịch, trang web công ty.
3.1.1 Biến phụ thuộc
Theo những nhận định trong bài tổng quan nghiên cứu và mô hình, bài nghiên
cứu sử dụng biến RES_REM được đại diện bằng RES_CFO, RES_PROD và RES_
DISEXP là kết quả lần lượt trong ba mô hình khác nhau. Ba biến đại diện trên thể
hiện cho mức độ biến động trong dòng tiền hoạt động kinh doanh, chi phí sản xuất
chung và chi phí hữu ích của từng công ty. Nguồn dữ liệu để chạy ra ba biến này là
các chỉ số được lấy từ các bảng thuyết minh BCTC của các công ty được niêm yết
trên sàn chứng khoán Việt Nam như dòng tiền, giá vốn hàng bán, chi phí nghiên cứu
và phát triển, tài sản, doanh thu vàgiá vốn hàng bán của từng công ty quan sát.
3.1.2 Biến giải thích
 Biến đòn bẩy tài chính ( LEV), thể hiện mức sử dụng nợ của công ty i trong
năm t, được đo lường bằng tỷ lệ giữa tổng nợ trên tổng tài sản.
 Biến chi phí lãi vay ( INTEXP), thể hiện chi phí lãi ròng của tất cả các khoản
nợ mà công ty i đang gánh chịu trong năm t.
 Biến hiệu suất sử dụng tài sản ( ROA t-1) thể hiện khả năng sử dụng tài sản của
doanh nghiệp, được đo lường bằng tỷ lệ giữa thu nhập ròng và tổng tài sản của
công ty i trong năm t-1.
 Biến quy mô doanh nghiệp ( SIZE t ) thể hiện quy mô của doanh nghiệp, được
đo lường bằng cách lấy loga cơ số 10 của tài sản của công ty i trong năm t.
15 ΔSalesit: doanh thu của doanh nghiệp i trong năm t trừ đi doanh thu trong năm t-1
εit :phần dư thể hiện mức độ chênh lệch của dòng tiền bất thường của công ty i trong
năm t
Mô hình RES_PROD
PRODit/Ait-1 = β1 [1/Ait-1] + β2 [Salesit /Ait-1] + β3[ΔSalesit /Ait-1] +
β4[ΔSalesit -1 /Ait-1] + εi
PRODit :tổng giá vốn hàng bán và thay đổi trong hàng hóa của công ty i trong năm t)
ΔSalesit-1: doanh thu của doanh nghiệp trong năm t trừ đi doanh thu của doanh
nghiệp trong năm t-2
Và các biến khác được xác định tương tự như ở trên
Mô hình RES_DISEXP
DISEXPit/A it-1 = β1 [1/Ait-1] + β2 [Sales it -1 /Ait-1] + εit
DISEXPit : tổng chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D), chi phí bán hàng, chi phí
sản xuất chung và chi phí quản lý doanh nghiệp của công ty i trong năm t, và tất cả
những biến được xác định như ở trên
Mô hình kinh tế lượng được sử dụng trong bài nghiên cứu này là hồi quy mảng và
chéo. Hồi quy mảng sử dụng cả dữ liệu chéo và chuỗi thời gian, trong khi hồi quy
chéo ước lượng mô hình cho mỗi năm của tập dữ liệu. Bài nghiên cứu sẽ sử dụng
kiểm định Hausman hoặc Likelihood để lựa chọn mô hình mô hình hiệu ứng cố định
(fixed effects model) hoặc mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (random effects model).
3.2.2 Mô hình ước lượng
Kết quả hồi quy của từng mô hình ở trên sẽ được lấy làm đại diện cho REM để
tiếp tục thực hiện việc hồi quy trong mô hình ước lượng. Việc kiểm tra và khắc phục
tình trạng “ Đa cộng tuyến” là điều cần thiết trong quá trình chạy mô hình, lý do được
đưa ra là do các biến độc lập trong mô hình ước lượng được dự đoán là có mối liên
quan với nhau.
17


Biến giả, bằng 1 nếu công ty i được kiểm toán bởi công ty kiểm toán Big 4 trong năm t và
bằng 0 trong trường hợp khác

IND
Biến giả về loại hình công ty đối với công ty i trong năm t ( bằng 1 nếu quan sát nằm trong
ngành công nghiệp được lựa chọn và bằng 0 trong trường hợp còn lại)

YR
Biến giả cho năm của công ty i trong năm t ( bằng 1 nếu quan sát nằm trong năm được lựa
chọn và 0 cho trường hợp còn lại )

ᵋit
Khoảng chênh lệch của mô hình
Mô hình chính là một hàm gồm có bảy biến trong đó có bốn biến đại diện cho
đặc điểm tài chính của mỗi công ty, ngoài biến LEV đóng vai trò mấu chốt, mô hình
còn sử dụng biến quy mô,ROA và lãi vay nhằm mục đích bổ sung ý nghĩa cho bài
nghiên cứu. Ngoài ra, ba biến giả về IND, AUDITOR và YR cũng được đưa vào mô
18
hình với mục đích lượng hóa các biến chất bên ngoài công ty nhằm làm rõ hơn trong
cách nhìn nhận khi đánh giá kết quả thực nghiệm được thực hiện ở môi trường Việt
Nam.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1 Kết quả kiểm định việc lựa chọn phương pháp chạy mô hình hồi


19 Redundant Fixed Effects Tests
Equation: RES_CFO
Test cross-section fixed effects Effects Test
Statistic
d.f.
Prob.

Cross-section fixed effects test equation:

Dependent Variable: CFO Method: Panel Least Squares Date: 03/08/14 Time: 22:18 Sample: 2008 2013 Periods included: 6 Cross-sections included: 100 Total panel (unbalanced) observations: 599
0.007930
2.173675
0.0301
∆Salet/At-1
0.155231
0.009458
16.41283
0.0000

R-squared
0.673969
Mean dependent var
0.079581
Adjusted R-squared
0.672325
S.D. dependent var
0.501350
S.E. of regression
0.286987
Akaike info criterion
0.347898

cao,đồng thời biến RES_CFO còn thể hiện tính chất đồng xu hướng với hiệu suất sử
Bảng 2: : Kết quả kiểm định việc lựa chọn phương pháp chạy mô hình
RES_ CFO

20
dụng tài sản của các công ty, với hệ số tương quan 0,017 và 0,155 tương ứng với ý
nghĩa 5% và 1%. Điều này cho thấy rằng tài sản và hiệu suất sử dụng tài sản là các
nhân tố tác động đáng kể đến sự biến động trong dòng tiền hoạt động kinh doanh của
các công ty này.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status