Nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm thị trường lên cấu trúc vốn của các doanh nghiệp Việt Nam - Pdf 66

GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------

NGUYỄN THỊ HỒNG NGÂN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM
THỊ TRƯỜNG LÊN CẤU TRÚC VỐN CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2013


GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
--------------------

NGUYỄN THỊ HỒNG NGÂN

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THỜI ĐIỂM
THỊ TRƯỜNG LÊN CẤU TRÚC VỐN CỦA
CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Chuyên Ngành: Tài Chính - Ngân Hàng
Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT

CHƯƠNG 1
KHUNG LÝ THUYẾT CHUNG VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM VỀ
TÁC Đ NG CỦA THỜI ĐIỂM THỊ TRƯỜNG ĐẾN CẤU TRÚC VỐN CỦA
CÔNG TY .............................................................................................................. 7
1.1.

Các lý thuyết về cấu trúc vốn ....................................................................... 7

1.1.1.

Lý thuyết về cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (1958) ..................... 7

1.1.2.

Lý thuyết đánh đổi .................................................................................... 7

1.1.3

Lý thuyết trật tự phân hạng ...................................................................... 8

1.1.4.

Lý thuyết phát hiện tín hiệu ...................................................................... 9

1.1.5.

Lý thuyết chi phí đại diện ....................................................................... 10

1.2.


2.3.2.

Biến độc lập ............................................................................................ 21

2.3.3.

Biến kiểm soát ......................................................................................... 23

2.4.

Mô hình nghiên cứu ................................................................................... 24

2.4.1.

Kiểm định trong ngắn hạn ...................................................................... 24

2.4.2.

Kiểm định trong dài hạn ......................................................................... 25

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2..................................................................................... 26
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................................. 27
3.1.

Thống kê mô tả dữ liệu .............................................................................. 27

3.2.

Kiểm định sự tương quan giữa các biến .................................................... 32

PHỤ LỤC
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1

TÓM TẮT
Bài nghiên cứu này được thực hiện để kiểm tra liệu có thực sự tồn tại
tác động của thời điểm thị trường lên cấu trúc vốn của các công ty niêm yết
trên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không? Với mẫu nghiên cứu là
260 công ty phi tài chính niêm yết trên hai sàn chứng khoán là HOSE và
HNX trong giai đoạn từ năm 2008 đến tháng 6/2013, tác giả đã tiến hành
kiểm định tác động của thời điểm thị trường trong ngắn hạn và dài hạn bằng
các mô hình được đưa ra trong nghiên cứu của Baker và Wurgler (2002).
Kết quả nghiên cứu đã tìm ra các tác động của thời điểm thị trường đến cấu
trúc vốn trong ngắn hạn, đúng như lý thuyết thời điểm thị trường đã đưa ra,
tuy nhiên, tác động này không tồn tại trong dài hạn. Ngoài ra, bài nghiên
cứu còn tìm thấy được tác động của các biến đại diện cho đặc trưng công ty,
bao gồm tài sản cố định, khả năng sinh lợi và quy mô công ty, lên tỷ lệ đòn
bẩy tài chính trong cả ngắn hạn và dài hạn.


2

LỜI MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu đề tài
Mặc dù các chính sách về cấu trúc vốn không phải là một hướng
nghiên cứu mới, nhưng đây vẫn là một trong những đề tài thú vị và đang
còn nhiều tranh cãi. Cấu trúc vốn liên quan đến cách công ty tài trợ các
khoản đầu tư của mình thông qua sự kết hợp giữa nợ và vốn. Chi phí sử

Baker và Wurgler đã đề cập (Alti 2006, Flanner and Rangan 2006, Kayhan
and Titman 2007).
2. Lý do chọn đề tài
Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu được thực hiện về cấu trúc vốn ở
Việt Nam, nhưng vẫn bị hạn chế về mặt số liệu (Nguyen and
Ramachandran 2006, Biger et al 2008, Nguyen et al 2012). Những nghiên
cứu này cố tìm ra các yếu tố quyết định cấu trúc vốn của các doanh nghiệp
niêm yết ở Việt Nam bằng cách tập trung vào các nhân tố cụ thể của doanh
nghiệp. Tuy nhiên lại có rất ít các nghiên cứu về tác động của thời điểm thị
trường lên cấu trúc vốn doanh nghiệp. Do đó, việc nghiên cứu tác động của
thời điểm thị trường lên cấu trúc vốn ở Việt Nam có ý nghĩa vô cùng quan
trọng.
Việt Nam có bối cảnh thích hợp để kiểm định lý thuyết thời điểm thị
trường bởi thị trường vốn Việt Nam là thị trường mới phát triển trong giai
đoạn đầu, cách xa với thị trường hoàn hảo. Thị trường nằm trong tình trạng
có thông tin bất cân xứng cao bởi tính rõ ràng và công khai của các công ty
niêm yết là rất thấp (Leung 2009), do đó khả năng giá chứng khoán bị định
giá sai là rất cao. Chính vì vậy, bài nghiên cứu này được thực hiện để bổ
sung thêm các lý thuyết thực nghiệm về cấu trúc vốn công ty ở Việt Nam,
đưa ra cái nhìn mới về hành vi tài trợ của các doanh nghiệp niêm yết trên
thị trường chứng khoán. Hơn nữa, các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về
cấu trúc vốn được phát triển để giải thích hành vi tài trợ của các quốc gia
phát triển, trong khi đó nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, theo
định hướng xã hội chủ nghĩa, thị trường chứng khoán chịu sự kiểm soát


4

chặt chẽ của chính phủ, do đó, các kết quả đưa ra khá thú vị và có thể có ý
nghĩa đối với các quốc gia đang phát triển.

của thời điểm thị trường đến cấu trúc vốn công ty, sử dụng nhiều mô hình
phân tích khác nhau. Nhìn chung, đa số các bài nghiên cứu đó đều dựa trên
nền tảng là mô hình nghiên cứu của Baker và Wurgler (2002). Tương tự
như vậy, bài nghiên cứu này cũng đi theo hướng phân tích tác động của thời
điểm thị trường đến cấu trúc vốn trong ngắn hạn và sau đó sẽ đi tìm tác
động này trong dài hạn. Cụ thể, bài nghiên cứu sẽ làm rõ các nội dung
chính như sau:
Thứ nhất, kiểm đinh tác động của thời điểm thị trường (đại diện bởi
biến tỷ lệ giá trị thị trường trên giá trị sổ sách – M/B) lên cấu trúc vốn
doanh nghiệp (đại diện bởi biến tỷ lệ thay đổi đòn bẩy tài chính sổ sách –
ΔD/A) trong ngắn hạn. Kết quả kiểm định cho thấy tồn tại sự tác động của
biến tỷ lệ M/B lên tỷ lệ đòn bẩy tài chính công ty, tỷ lệ M/ và đòn bẩy tài
chính có mối tương quan âm với nhau, điều này hoàn toàn phù hợp với lý
thuyết thời điểm thị trường.
Thứ hai, kiểm định xem liệu tác động của tỷ lệ M/

lên đòn bẩy tài

chính (D/A) có phải là do tác động của khối lượng cổ phiếu phát hành thêm
(e/A) hay không, hay là do tác động của khối lượng nợ phát hành thêm
(d/A) và tỷ lệ lợi nhuận giữ lại (ΔRE/A). Kết quả hồi quy cho thấy tác động
của tỷ lệ M/B lên tỷ lệ đòn bẩy tài chính một phần là do tác động của việc
phát hành thêm cổ phiếu. Như vậy có thể khẳng định được có sự tồn tại của
lý thuyết thời điểm thị trường trong ngắn hạn tại Việt Nam.
Thứ ba, ngoài kiểm định tác động của biến tỷ lệ M/B lên tỷ lệ đòn bẩy
tài chính, bài nghiên cứu còn tiến hành kiểm định tác động của các biến đại
diện cho đặc trưng công ty gồm tỷ lệ tài sản cố định (PPE/A), khả năng sinh
lợi (EBITDA/A) và quy mô công ty (Log(S)), lên tỷ lệ đòn bẩy tài chính.
Kết quả hồi quy khá phù hợp với các lý thuyết trước đây về cấu trúc vốn,


Các lý thuyết về cấu trúc vốn

1.1.1.

Lý thuyết về cấu trúc vốn của Modigliani và Miller (1958)

Được coi là lý thuyết mở đầu cho các nghiên cứu về cấu trúc vốn,
Modigliani và Miller (1958) cho rằng, với giả thuyết thị trường vốn là hoàn
hảo, tức trong đó không có chi phí giao dịch, không có thông tin bất cân
xứng, không có thuế, không có chi phí kiệt quệ tài chính, cá nhân và công
ty có thể vay tiền ở mức lãi suất như nhau, nhà quản trị hành động vì lợi ích
của các cổ đông, giá trị doanh nghiệp hoàn toàn độc lập với cấu trúc vốn.
Giá trị doanh nghiệp phụ thuộc vào khả năng sinh lợi của tài sản nhiều hơn
là cách mà tài sản đó được tài trợ bởi nợ hay vốn cổ phần. Tài trợ bên trong
và bên ngoài được đánh giá là sự thay thế hoàn hảo. Tuy nhiên, trên thực tế
các giả định về thị trường vốn hiệu quả là không có thực. Để giải thích cho
cấu trúc vốn trong thực tiễn, các lý thuyết tiếp theo về cấu trúc vốn được
đưa ra để giảm bớt các giả định về thị trường hoàn hảo và sẽ được trình bày
trong các phần tiếp theo.
1.1.2.

Lý thuyết đánh đổi

Với lý do thị trường không hoàn hảo, cấu trúc vốn doanh nghiệp có
tác động đến giá trị doanh nghiệp. Một mặt, tài trợ nợ làm tăng giá trị doanh
nghiệp do lợi ích từ tấm chắn thuế, mặt khác, nó làm giảm giá trị doanh
nghiệp do các chi phí có thể xảy ra do tình trạng kiệt quệ tài chính. Lý
thuyết đánh đổi được đưa ra bởi Merton Miller (1977), cho rằng mỗi doanh
nghiệp sẽ có một cấu trúc vốn tối ưu cho mình. Cơ sở để xác định cấu trúc
vốn tối ưu là lựa chọn giữa nợ và vốn cổ phần sao đạt được sự cân bằng

tiêu thấp mà vì họ không cần đến tiền bên ngoài. Các doanh nghiệp có khả
năng sinh lợi ít hơn thì phát hành nợ vì họ không có các nguồn vốn nội bộ


9

đủ cho chương trình đầu tư vốn và vì tài trợ nợ đứng đầu trong trật tự phân
hạng của tài trợ từ bên ngoài.
Ngoài ra lý thuyết này còn giải thích được mối tương quan nghịch
trong ngành giữa khả năng sinh lợi và đòn bẩy tài chính. Các doanh nghiệp
thường đầu tư theo mức tăng trưởng của ngành, do đó với các tỷ lệ chi trả
cổ tức cho sẵn và không thể linh hoạt được thì các doanh nghiệp ít sinh lợi
nhất sẽ có ít nguồn vốn nội bộ hơn và sẽ phải vay mượn thêm.
1.1.4. Lý thuyết phát hiện tín hiệu
Dựa trên giả định về thông tin bất cân xứng giữa nhà đầu tư và nhà
quản lý, Ross (1977) đã đưa ra lý thuyết phát tín hiệu. Khi doanh nghiệp
phát hành chứng khoán mới, sự kiện này có thể được coi là đang cung cấp
một tín hiệu cho thị trường về viễn cảnh hay các hoạt động tương lai của
doanh nghiệp. Các tín hiệu do thay đổi cấu trúc vốn cung cấp là đáng tin
cậy vì nếu dòng tiền tương lai không xảy ra, doanh nghiệp phải chịu số tiền
phạt tức chi phí phá sản có thể có.
Giả định rằng những người trong công ty biết rõ về việc phân phối lợi
nhuận doanh nghiệp, trong khi các nhà đầu tư thì không, lý thuyết này cho
rằng thị trường có thể suy luận được từ một sự gia tăng nợ rằng doanh
nghiệp đang giàu có lên, dẫn đến một sự gia tăng trong giá cổ phiếu. Từ đó,
nhà quản lý có thể chuyển tín hiệu đến thị trường khi họ thay đổi tỷ lệ đòn
bẩy tài chính doanh nghiệp. Do vậy, những công ty có khả năng sinh lợi
nhiều hơn và viễn cảnh về sự phát triển tốt hơn sử dụng nhiều tài trợ nợ hơn
các công ty còn lại.
Vì vậy, khi một doanh nghiệp quyết định thay đổi cấu trúc vốn, doanh

nợ nhiều hơn là cổ đông.
Do cả nguồn vốn chủ sở hữu và tài trợ nợ đều mắc phải chi phí đại
diện, lý thuyết chi phí đại diện cho rằng một cấu trúc vốn tối ưu cần được
xác định bằng cách tối thiểu hóa chi phí phát sinh từ mâu thuẫn lợi ích giữa
các bên liên quan.


11

1.2.

Các nghiên cứu về cấu trúc vốn và thời điểm thị trường

1.2.1. Khung lý thuyết chung
Lý thuyết thời điểm thị trường được nghiên cứu thành công bởi Baker
và Wurgler (2002), tại thị trường Mỹ trong khoảng thời gian từ năm 1968
đến 1998. Lý thuyết này cho rằng cấu trúc vốn doanh nghiệp là kết quả tích
lũy của những nổ lực trong quá khứ để xác định thời điểm thị trường.
Doanh nghiệp sẽ phát hành cổ phiếu khi cổ phiếu của họ có giá thị trường
cao hơn so với giá sổ sách và giá thị trường trong quá khứ. Điều này làm
giảm chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp và lợi ích của các cổ đông hiện
tại xuống bằng chi phí cho cổ đông mới. Ngược lại, doanh nghiệp sẽ quyết
định mua lại cổ phần của mình nếu cổ phiếu bị định giá thấp. Khi cả thị
trường nợ và thị trường vốn biến động một cách thuận lợi, nhà quản trị sẽ
gia tăng các nguồn tiền mặc dù hiện tại doanh nghiệp không cần tài trợ.
Ngược lại, nếu cả hai thị trường không thuận lợi, nhà quản trị sẽ trì hoãn
việc phát hành.
Lý thuyết này cũng cho rằng, định thời điểm thị trường của cấu trúc
vốn có ảnh hưởng rất lớn và lâu dài đến tỷ lệ đòn bẩy. Cụ thể, thông qua
kiểm định hồi quy về cấu trúc vốn với tỷ lệ nợ vay là biến phụ thuộc, M/B

chi phí vốn được cho rằng cao bất thường. Cả hai cách giải thích trên về giả
thuyết thời điểm thị trường đều có những dự đoán giống nhau về mối quan
hệ giữa giá trị doanh nghiệp và quyết định tài trợ. Những doanh nghiệp phát
hành cổ phiếu là những doanh nghiệp có giá thị trường cao hơn so với giá
trị sổ sách và do đó có thể kiếm được một khoản lợi nhuận bất thường
dương trước khi tăng vốn. Baker và Wurgler (2002) cho rằng tỷ lệ M/B có
thể đại diện để giải thích ảnh hưởng của thời điểm thị trường, do đó, M/B
có thể đại diện cho cả lựa chọn trái ngược và dự đoán định giá sai, và không
thể xác định được cách giải thích nào là chính xác hơn.
Tóm lại, theo lý thuyết định thời điểm thị trường, quyết định về cấu
trúc vốn được đưa ra dựa trên điều kiện của thị trường. Giá cổ phiếu và các
mức lãi suất tác động đến các quyết định phát hành vốn và nợ. Theo giả


13

thuyết của lý thuyết thời điểm thị trường, không tồn tại tỷ lệ đòn bẩy tài
chính tối ưu.
1.2.2. Các nghiên cứu thực nghiệm:
Sau

aker và Wurgler (2002), đã có rất nhiều các bài nghiên cứu về

sự tồn tại của lý thuyết thời điểm thị trường, được thực hiện ở nhiều quốc
gia trên thế giới.
ancel và Mittoo (2004) đã tiến hành cuộc khảo sát các yếu tố quyết
định đến cấu trúc vốn doanh nghiệp ở 16 quốc gia Châu Âu, kết quả cho
thấy mặc dù môi trường pháp lý ở các quốc gia là yếu tố quan trọng quyết
định đến chính sách nợ, nhưng chỉ đóng một vai trò rất nhỏ trong chính
sách cổ phiếu thường. Các nhà hoạch định coi việc lựa chọn đúng thời điểm

Tijs de Bie and Leo de Haan (2007), đã nghiên cứu với mẫu là 180
công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Hà Lan từ năm
1983 đến 1997, đã tìm thấy bằng chứng về mối tương quan ngược chiều
giữa thời điểm thị trường và cấu trúc vốn trong ngắn hạn, còn trong dài hạn,
cấu trúc vốn có xu hướng di chuyển về cấu trúc vốn mục tiêu. Kayhan và
Titman (2007) đã tiến hành kiểm định mối quan hệ giữa các dòng tiền, chi
phí đầu tư và giá trị lịch sử của cổ phiếu có ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ của
công ty. Kết quả nghiên cứu cho thấy những biến động trong giá cổ phiếu
có tác động đến cấu trúc vốn công ty, tuy nhiên, tác động này chỉ tồn tại
trong ngắn hạn, nhưng qua thời gian, cấu trúc vốn đó lại có xu hướng di
chuyển về một cấu trúc vốn mục tiêu. Nghiên cứu của Bougatef and Chichti
(2010) về sự liên quan của việc xem xét thời điểm thị trường đến việc lựa
chọn tỷ lệ nợ - vốn, bằng cách sử dụng dữ liệu bảng đối với các doanh
nghiệp ở Tuynidi và Pháp. Kết quả kiểm định phù hợp với lý thuyết thời
điểm thị trường khi thấy rằng các doanh nghiệp có xu hướng phát hành vốn
khi giá trị thị trường cao hơn giá trị sổ sách và sau khi hoạt động của thị
trường được cải thiện. Sự tác động của thời điểm thị trường lên cấu trúc vốn
doanh nghiệp được kiểm định kéo dài trong vòng 8 năm.
Alti (2006) nghiên cứu ảnh hưởng của thời điểm thị trường đến cấu
trúc vốn trong dài hạn. Với dữ liệu mẫu là những công ty IPO ở Mỹ trong


15

giai đoạn từ năm 1971 đến năm 1999, sử dụng mô hình tương tự Baker và
Wurgler (2002) nhưng thay thế biến đại diện cho thời điểm thị trường trong
dài hạn M/Befwa bằng biến giả HOT. Kết quả hồi quy cho thấy có sự tương
quan âm giữa biến giả HOT và tỉ lệ đòn bẩy tài chính, chứng minh thành
công sự tồn tại của lý thuyết thời điểm thị trường và ảnh hưởng của nó lên
cấu trúc vốn doanh nghiệp trong dài hạn.

Bản, xóa bỏ ảnh hưởng của việc phát hành vốn và tác động của thời điểm
thị trường lên đòn bẩy tài chính trong ngắn hạn. Điều này không phù hợp
với các dự đoán của giả thuyết thời điểm thị trường và phù hợp hơn với mô
hình hoán đổi. Nghiên cứu của Zhaoxia Xu (2009) về tác động của thời
điểm thị trường đến cấu trúc vốn của các công ty ở Canada và Mỹ, kết quả
là không tìm thấy bằng chứng về ảnh hưởng của thời điểm thị trường lên
cấu trúc vốn công ty. Ảnh hưởng của việc phát hành cổ phiếu trong quá khứ
tác động lên cấu trúc vốn của các doanh nghiệp ở Canada chỉ mang tính
chất tạm thời. Các doanh nghiệp Canada điều chỉnh tỷ lệ đòn bẩy mục tiêu
nhanh hơn các doanh nghiệp ở Mỹ. Các kết quả tìm thấy không thừa nhận
các nguyên tắc của lý thuyết thời điểm thị trường về cấu trúc vốn. Elise
Mansson và Jonas Tonell (2010) đã sử dụng mô hình hồi quy với dữ liệu
bảng với biến độc lập là đòn bẩy tài chính để kiểm định tác động của thời
điểm thị trường lên cấu trúc vốn của các công ty ở Nordic. Việc đo lường
thời điểm thị trường được tính bằng M/B trung bình có trọng số, biến kiểm
soát là ảnh hưởng của kích thước doanh nghiệp, khả năng sinh lợi và tài sản
hữu hình lên cấu trúc vốn. Kết quả cuối cùng không tìm thấy tác động của
thời điểm thị trường lên việc phát hành cổ phiếu, do đó không hỗ trợ được
lý thuyết thời điểm thị trường. Đòn bẩy tài chính chịu ảnh hưởng của M/B
nhưng không phải theo cách dự đoán về thời điểm thị trường vốn. Không
tìm thấy mối tương quan giữa M/B với việc phát hành cổ phiếu, do đó
không giải thích được thời điểm thị trường của việc phát hành vốn.
Mondher Kouki (2011) đã kiểm tra các yếu tố quyết định trong việc
lựa chọn cấu trúc vốn của doanh nghiệp, sử dụng các lý thuyết hoán đổi,
trật tự phân hạng và thời điểm thị trường để giải thích đòn bẩy tài chính của
doanh nghiệp trong thị trường không hoàn hảo. Với mẫu nghiên cứu là 244


17



18

Nguyen (2012), bài nghiên cứu của Nguyen, T.D.K và Ramachandran
(2006) về cấu trúc vốn của các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, đã kết
luận rằng các doanh nghiệp hầu như chỉ sử dụng nợ trong ngắn hạn để tài
trợ cho hoạt động kinh doanh của mình. Hình thức sở hữu cũng ảnh hưởng
đến cách các công ty sử dụng nguồn tài trợ. Cấu trúc vốn của các doanh
nghiệp Việt Nam có mối tương quan dương với tốc độ tăng trưởng, rủi ro
kinh doanh, quy mô công ty, hệ thống chi nhánh và mối quan hệ với các
ngân hàng, nhưng có mối tương quan âm với tài sản cố định hữu hình. Khả
năng sinh lợi không có ảnh hưởng đáng kể đến cấu trúc vốn doanh nghiệp.
Tác động mạnh mẽ của các yếu tố quyết định đến cấu trúc vốn như loại
hình sở hữu, quy mô công ty, mối quan hệ với các ngân hàng và mạng lưới
chi nhánh phản ánh yếu tố bất cân xứng trong quá trình huy động vốn ở một
nền kinh tế đang chuyển đổi như Việt Nam.


19

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hiện nay, đã có rất nhiều các lý thuyết về cấu trúc vốn của công ty,
trong đó có lý thuyết thời điểm thị trường. Lý thuyết này cho rằng công ty
sẽ phát hành cổ phiếu khi giá cổ phiếu trên thị trường được định giá cao, và
tiến hành mua lại cổ phiếu của chính mình khi giá cổ phiếu bị định giá thấp.
Có rất nhiều các nghiên cứu thực nghiệm về lý thuyết thời điểm thị trường
được kiểm định ở nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, tùy theo đặc điểm
và môi trường kinh tế của từng quốc gia, lý thuyết thời điểm thị trường có
thể tồn tại hay không tồn tại, và tác động của lý thuyết này có thể chỉ tồn tại
trong ngắn hạn hoặc kéo dài liên tục trong dài hạn. Riêng đối với Việt Nam,


www.cophieu68.com,

www.cafef.vn,

www.vndirect.com.
Dữ liệu dùng cho nghiên cứu được trích từ Báo cáo tài chính hàng
năm của các công ty niêm yết trên hai sàn giao dịch là HOSE và HNX.
Mẫu nghiên cứu là 260 công ty phi tài chính, có ngày phát hành cổ
phiếu lần đầu ra công chúng nằm trong thời kỳ từ 2008 đến tháng 6/2013,
được niêm yết trên hai sàn chứng khoán HOSE và HNX.
Các công ty tài chính không được đưa vào mẫu kiểm định bởi các
công ty này có cấu trúc vốn đặc biệt và các yếu tố quyết định đến cấu trúc
vốn cũng khác so với các công ty phi tài chính, do đó, nếu đưa vào trong
mẫu sẽ làm ảnh hưởng đến kết quả khách quan của bài nghiên cứu.
Sau khi loại bỏ các quan sát có tỷ lệ có tỷ lệ D/A > 1, và tỷ lệ M/B >
10 (theo Baker và Wurgler (2002)), lọc ra được 1,396 quan sát tương ứng từ
260 công ty, trong giai đoạn từ năm 2008 đến tháng 6/2013.
2.2.

Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong đề tài này là phương

pháp định lượng dựa trên phương pháp bình phương bé nhất (OLS –



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status