BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-o0o-
NGUYỄN THỊ KIM THÙY
KIỂM ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ THÔNG
TIN CHO THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
-o0o-
NGUYỄN THỊ KIM THÙY
KIỂM ĐỊNH TÍNH HIỆU QUẢ THÔNG
TIN CHO THỊ TRƯỜNG CHỨNG
KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.34.0201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Liên Hoa
1.4. Ý nghĩa của việc nghiên cứu lý thuyết thị trường hiệu quả .................. 15
1.4.1. Trong phân tích kỹ thuật ..................................................................... 15
1.4.2. Trong phân tích cơ bản....................................................................... 16
1.4.3. Trong việc hoạch định chiến lược đầu tư ............................................ 17
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC
ĐÂY.............................................................................................................. 19
2.1. Nghiên cứu thị trường hiệu quả thông tin dạng yếu ở các nước phát
triển ................................................................................................................. 19
2.2. Nghiên cứu thị trường hiệu quả thông tin dạng yếu ở các nước đang
phát triển ......................................................................................................... 21
2.3. Một số nghiên cứu thực nghiệm về tính hiệu quả thông tin của thị
trường chứng khoán Việt Nam ...................................................................... 24
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU........................................ 26
2
3.1. Kiểm định tính chuẩn ............................................................................. 26
3.2. Kiểm định tự tương quan (Autocoration test) ....................................... 27
3.3. Kiểm định chuỗi (Run test) .................................................................... 30
3.4. Kiểm định nghiệm đơn vị (Unit root test) .............................................. 33
3.5. Kiểm định tỷ lệ phương sai (Variance ratio test) .................................. 34
3.6. Hiệu ứng ngày trong tuần (Day of the week) ......................................... 36
CHƯƠNG 4: NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ....................... 39
4.1. Nội dung nghiên cứu ............................................................................... 39
4.2. Thống kê mô tả dữ liệu ........................................................................... 42
4.3. Kết quả nghiên cứu ................................................................................. 46
: Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
SGDCK
: Sở Giao dịch Chứng khoán
TP. HCM : Thành phố Hồ Chí Minh
TTCK
: Thị trường Chứng khoán
UBCK
: Ủy ban Chứng khoán
UBCKNN : Ủy ban Chứng khoán Nhà nước
4
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 4.1 - Thống kê mô tả dữ liệu của chỉ số VN-Index và HNX-Index ....................... 42
Bảng 4.2 - Thống kê mô tả dữ liệu của các cổ phiếu CII, FPT, HAG, ITA và MSN ...... 44
Bảng 4.3 - Thống kê mô tả dữ liệu của các cổ phiếu PNJ, REE, SSI, STB và VNM ...... 45
Bảng 4.4 - Kết quả kiểm định Jacque – Bera của VN-Index, HNX-Index, CII, FPT và
HAG ........................................................................................................................... 46
Bảng 4.5 - Kết quả kiểm định Jacque – Bera của các cổ phiếu ITA, MSN, PNJ, REE,
SSI, STB và VNM ........................................................................................................ 46
Bảng 4.6- Kết quả kiểm định tự tương quan của VN-Index, HNX-Index và các cổ
nhiều, nguồn cung sản phẩm trên thị trường gia tăng đột biến, tính đến thời điểm
31/05/2012, tổng cộng đã có 309 công ty niêm yết trên sàn HOSE và 396 công ty
niêm yết trên sàn HNX.
Biểu đồ 1.1 - Biểu đồ tăng trưởng các công ty niêm yết trên HOSE và HNX
800
700
699
705
642
600
500
453
HOSE
400
338
300
257
250
193
393 396
HNX
2009
2010
2011
T5/2012
Tuy nhiên, việc tham gia và kinh doanh trên thị trường chứng khoán Việt Nam
hiện đang là một vấn đề hoàn toàn còn mới mẻ đối với các công ty niêm yết và nhà
đầu tư. Mục tiêu của các công ty niêm yết là dễ dàng huy động vốn và tối đa hóa giá
trị của công ty, trong khi đó mục tiêu chính của nhà đầu tư khi tham gia thị trường
7
là tìm kiếm lợi nhuận trên cổ phiếu mà họ đầu tư vào. Để tránh xung đột lợi ích
giữa hai đối tượng trên thì vấn đề về thông tin trên thị trường là vấn đề đang được
quan tâm hàng đầu. Nói cách khác, thông tin có vai trò đặc biệt quan trọng trên thị
trường chứng khoán Việt Nam, thông tin sẽ được phản ánh vào giá của chứng
khoán và đó cũng là nhân tố đánh giá mức độ hiệu quả của thị trường. Có rất nhiều
nhà đầu tư khi tham gia vào thị trường đặt câu hỏi: liệu thị trường chứng khoán Việt
Nam có đáng tin cậy và công bằng với mọi nhà đầu tư không? Nếu tham gia vào thị
trường mà chưa nắm bắt được tất cả các thông tin thì có bị thua thiệt nhiều không?,
… Vì vậy với đề tài: “Kiểm định tính hiệu quả thông tin cho thị trường chứng
khoán Việt Nam”, tác giả hy vọng sẽ làm rõ các câu hỏi trên theo hướng nghiên
cứu định lượng và dựa trên lý thuyết thị trường hiệu quả.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
Với những vấn đề đã đặt ra, có thể khái quát mục tiêu nghiên cứu của luận văn
lực có được, người sử dụng sẽ tạo ra kết quả đầu ra lớn nhất, tức là họ sử dụng được
một cách tối ưu.
b.
Hiệu quả về tổ chức hoạt động của thị trường
Đối với thị trường chứng khoán, tính hiệu quả trên phương diện tổ chức hoạt
động thể hiện bởi khả năng làm cực đại hóa quy mô giao dịch trên một thị trường
chứng khoán cụ thể.
Việc tổ chức hoạt động của thị trường chứng khoán với mục tiêu cực đại hóa
quy mô giao dịch phải dựa trên các nguyên tắc căn bản như ở các thị trường khác
là: Mở rộng khả năng lựa chọn “hàng hóa - các loại chứng khoán” và lựa chọn
“dịch vụ - các tổ chức trung gian” cho khách hàng; tạo thuận lợi cho khách hàng
trong việc tham gia vào thị trường với chi phí thấp, từ đó thị trường đạt đến độ
thanh khoản cao; có các biện pháp hữu hiệu chống lại các hoạt động đầu cơ gây
thiệt hại đến đa số khách hàng.
c.
Hiệu quả về mặt thông tin
Một thị trường được coi là hiệu quả về mặt thông tin khi giá cả của loại hàng
hóa giao dịch trên thị trường được phản ánh đầy đủ và tức thời bởi các thông tin có
liên quan. Những thông tin đó bao gồm nhiều loại khác nhau, như thông tin về môi
trường kinh tế vĩ mô, thông tin về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và các đối
thủ cạnh tranh, thông tin về thị trường.
Trong các bài nghiên cứu về tính hiệu quả của thị trường, các nhà nghiên cứu
thường tập trung vào việc đánh giá tính hiệu quả về mặt thông tin, ít đi sâu vào góc
độ tìm hiểu về thị trường hiệu quả trên phương diện phân phối hay tổ chức. Bởi vì
trên thị trường chứng khoán, tính hiệu quả về mặt thông tin có ý nghĩa quyết định
đối với sự thành công của toàn thị trường.
Các nhà đầu tư luôn tìm cách để điều chỉnh giá chứng khoán thật nhanh nhằm
phản ánh chính xác ảnh hưởng của thông tin. Mặc dù sự điều chỉnh của giá có thể là
không hoàn hảo, tuy nhiên nó không hề ưu tiên cho một mặt nào. Có khi sự điều
chỉnh là quá mức, cũng có khi là dưới mức cần thiết, nhưng ta không thể dự đoán
được điều gì sẽ xảy ra ở mỗi thời điểm xác định. Giá chứng khoán được điều chỉnh
một cách nhanh chóng bởi số lượng lớn các nhà đầu tư với mục tiêu tối đa hoá lợi
nhuận cạnh tranh với nhau.
10
1.3.3. Các dạng thị trường hiệu quả
a.
Thị trường hiệu quả dạng yếu
Giả thiết thị trường hiệu quả giả định rằng giá chứng khoán hiện tại là sự phản
ánh đầy đủ mọi thông tin của thị trường chứng khoán, bao gồm các chuyển dịch liên
tục của giá, tỷ suất thu nhập, khối lượng giao dịch và các thông tin chung khác như:
mua bán lô lẻ, giao dịch lô lớn và các thương vụ của các chuyên gia ngoại hối hay
của các nhóm độc quyền khác. Thị trường hiệu quả dạng yếu cũng giả định rằng
mức giá thị trường hiện tại đã phản ánh tất cả các thu nhập trong quá khứ và mọi
thông tin trên thị trường, chính vì vậy giả thiết này có nghĩa là tỷ suất sinh lợi của
chứng khoán trong quá khứ cũng như các thông tin khác không có mối liên hệ với
tương lai (các tỷ suất sinh lợi độc lập với nhau).
b.
Thị trường hiệu quả dạng trung bình
Giá cả phản ánh không chỉ giá cả quá khứ mà còn phản ánh tất cả các thông
THỊ TRƯỜNG
HIỆU QUẢ DẠNG
YẾU
THỊ TRƯỜNG
HIỆU QUẢ DẠNG
TRUNG BÌNH
THỊ TRƯỜNG
HIỆU QUẢ DẠNG
MẠNH
Thông tin: Giá quá
Thông
Thông
khứ.
thông tin công bố.
thông tin có thể.
Đặc điểm: Nếu thị
Đặc điểm: Nếu thị
Đặc điểm: Nếu thị
phép người sử dụng
ích bất thường.
ích bất thường.
chúng thu được lợi
khứ
tin:
Mọi
tin:
ích bất thường.
Mọi
12
1.3.4. Các mô hình kiểm định cho lý thuyết thị trường hiệu quả
Lý thuyết thị trường hiệu quả là một quy luật rất quan trọng trong nền tảng lý
thuyết tài chính hiện đại. Lý thuyết thị trường hiệu quả đã lý giải phần nào cách
thức vận hành thực tế của thị trường chứng khoán, sự chuyển động của giá cả chứng
khoán theo mỗi thông tin được đưa ra. Nếu thị trường chứng khoán là hiệu quả thì
việc các nhà đầu tư tìm kiếm các khoản lợi nhuận bất thường trên thị trường là hoàn
toàn không thể. Tuy nhiên, để chứng minh được thị trường có hiệu quả hay không
13
-
Pi,t+1: quan sát giá thực tế của cổ phiếu i tại thời điểm t+1
-
E(Pi, t+1/It): giá được mong đợi của cổ phiếu i tại thời điểm t+1, trong
điều kiện tập hợp thông tin thị trường là It
-
Xi,t+1: phần chênh lệch giữa giá thực tế và giá được mong đợi của cổ
phiếu
Nếu thị trường hiệu quả theo đúng lý thuyết trò chơi công bằng thì lúc này giá
chứng khoán thực tế và giá cả chứng khoán được mong đợi sẽ không có sự chênh
lệch, nghĩa là:
E(Xi,t+1/It) = E[Pi,t+1 – (Pi,t+1/It)] =0
Tương tự, nếu thị trường là hiệu quả thì thu nhập của chứng khoán cũng sẽ
diễn ra tương tự như giá chứng khoán theo phương trình sau:
Zi,t+1 = Ri,t+1 – E(Ri,t+1/It)
Với:
E(Zi,t+1/It) = E[Ri,t+1 – (Ri,t+1/It)] = 0
Trong đó:
-
Ri, t+1 : quan sát thu nhập thực tế của cổ phiếu i tại thời điểm t+1
phần dôi ra (Zi, t+1) sẽ lớn hơn 0.
Tăng giá là kết quả điều chỉnh của thị trường khi có thông tin mới xuất hiện
trên thị trường. Trên thị trường hiệu quả, mọi thông tin được công bố một cách rất
ngẫu nhiên, chúng ta không thể nào biết được khi nào sẽ có thông tin mới và thông
tin đó là gì, bởi vì nếu bạn biết thì người khác cũng biết. Chính vì đặc tính quan
trọng này trong thị trường hiệu quả nên mọi phương pháp dự báo về giá của cổ
phiếu trong tương lai đều hoàn toàn không có ý nghĩa.
1.3.4.3. Mô hình “Bước đi ngẫu nhiên”
Trong thị trường chứng khoán, thu nhập của mỗi cổ phiếu tại một thời điểm
được hiểu là tổng các giá trị hiện tại của dòng thu nhập mà các nhà đầu tư sẽ nhận
được trong tương lai. Nếu thị trường hiệu quả, giá của mỗi cổ phiếu sẽ phản ánh tất
cả những thông tin liên quan đến tình hình công ty đó trong tương lai. Mọi thay đổi
về giá cổ phiếu đều ảnh hưởng đến dòng thu nhập của cổ phiếu. Nhưng các yếu tố
ảnh hưởng đến giá cổ phiếu chính là những thông tin mới xuất hiện trên thị trường.
Nếu không có thông tin mới về chứng khoán, chúng ta sẽ không mong đợi gì sự
thay đổi về thu nhập của cổ phiếu đó. Tuy nhiên, thông tin mới hay tin tức là không
thể dự đoán được. Vì vậy, thu nhập của chứng khoán cũng sẽ thay đổi tương ứng
với thông tin mới theo một chiều hướng với một lượng mà chúng ta không thể dự
đoán. Dù cho thu nhập ngày mai chắc chắn khác hôm nay thì nó cũng khác theo
15
cách hoàn toàn ngẫu nhiên. Do đó, nếu thị trường hiệu quả thì chúng ta có phương
trình sau:
Pt+1= Pt + et+1
Hay
rt+1= rt + et+1
thái kém hiệu quả nhất là dạng yếu của thị trường hiệu quả thì mọi thông tin trong
quá khứ đã được phản ánh trong giá chứng khoán ở hiện tại, tức là mọi thông tin
quá khứ về chứng khoán đã được công chúng đầu tư biết đến và đã được phản ánh
vào giá chứng khoán. Do vậy, mọi cố gắng để sử dụng những thông tin quá khứ chỉ
giúp các nhà đầu tư tìm được mức lợi nhuận cân bằng trên thị trường, đủ bù đắp cho
những chi phí và rủi ro mà họ có thể gặp phải khi đầu tư vào chứng khoán. Nhà
phân tích kỹ thuật không thể tìm kiếm được lợi nhuận vượt bậc trên thị trường
chứng khoán hiệu quả. Việc dự đoán bằng đồ thị về giá chứng khoán trong tương lai
chỉ là “sự tự lừa dối chính mình”.
1.4.2. Trong phân tích cơ bản
Ở thị trường hiệu quả dạng yếu, thị trường có thể bỏ qua một số thông tin có
tính chất đại chúng, có liên quan đến hoạt động của tổ chức phát hành hoặc đánh giá
những thông tin đó không chính xác. Một nhà phân tích cơ bản có kỹ năng phân
tích cơ bản điêu luyện, có thể dự đoán được kết quả hoạt động của công ty trong
tương lai dựa trên những dữ liệu ở hiện tại thì có khả năng tìm kiếm được lợi nhuận
vượt bậc hay thu nhập tăng thêm khi lựa chọn được đúng loại chứng khoán mà thị
trường đang đánh giá không chính xác.
Trong thị trường hiệu quả dạng trung bình, phân tích cơ bản phần lớn là không
có giá trị. Với thị trường dạng này, mọi thông tin cơ bản có tính chất đại chúng đã
được phản ánh tức thời trong giá chứng khoán ở hiện tại, vì vậy việc sử dụng phân
tích cơ bản để tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức trung bình của thị trường là hết sức
khó khăn. Lợi nhuận vượt trội chỉ có thể xuất hiện trong trường hợp ngắn hạn, khi
đó một vài loại chứng khoán trên thị trường phản ứng chậm sau một sự kiện có liên
quan đến tổ chức phát hành được công bố. Nhà đầu tư muốn tìm kiếm thu nhập cao
hơn thị trường phải có khả năng đánh giá và lựa chọn đúng loại chứng khoán mà thị
17
trường đang đánh giá chưa chính xác để ra quyết định đầu tư. Trong dài hạn, phản
mục đầu tư như số lượng và cơ cấu của các chứng khoán được sử dụng để hình
thành nên một chỉ số nào đó.
Chẳng hạn tại Mỹ, đầu tư theo chỉ số được xuất hiện và phát triển từ năm 1976
với sự thiết lập danh mục đầu tư theo chỉ số gồm 500 cổ phiếu dựa trên cơ cấu của
500 cổ phiếu được sử dụng để hình thành nên chỉ số giá cổ phiếu S&P 500. Mọi
hoạt động giao dịch đều chỉ nhằm thay đổi cơ cấu của danh mục đầu tư theo đúng
sự biến động của cơ cấu 500 loại cổ phiếu trong chỉ số S&P 500.
Như vậy, việc nghiên cứu và hiểu rõ về lý thuyết của thị trường hiệu quả rất
quan trọng đối với nhà đầu tư khi tham gia trên thị trường chứng khoán. Mọi cố
gắng của nhà đầu tư cũng như người phân tích nên theo hướng nào phụ thuộc vào
mức độ hiệu quả của thị trường.
Tóm lại, Chương 1 luận văn đã tập trung giới thiệu về những nền tảng lý
thuyết của giả thiết thị trường hiệu quả. Lý thuyết thị trường hiệu quả vẫn là lý
thuyết nền tảng và chính thống của nền tài chính học hiện đại. Các lý thuyết khác về
tài chính đều được xây dựng và phát triển dựa trên giả thiết thị trường hiệu quả. Nói
chung lý thuyết thị trường hiệu quả được xem xét và kiểm định dưới ba dạng hiệu
quả tương ứng với các tập thông tin phản ánh vào thị trường. Việc nhận dạng các
tập thông tin là rất quan trọng để đưa ra các mô hình kiểm định, là công việc được
các nhà nghiên cứu về lý thuyết thị trường hiệu quả liên tục tiến hành. Thị trường
càng hiệu quả khi các thông tin thị trường được phản ánh đầy đủ vào trong giá
chứng khoán càng nhanh và ngược lại. Ngày nay, khi xét đến thị trường chứng
khoán hiệu quả người ta không hy vọng nó hiệu quả một cách tuyệt đối mà chỉ xem
xét thị trường hiệu quả trong dài hạn.
19
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC KẾT QUẢ
NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
cứu trên thị trường chứng khoán các nước phát triển với việc mở rộng phân tích ảnh
hưởng của hiệu ứng “day of the week” đến tỷ suất sinh lợi của cổ phiếu không chỉ
về mặt trung bình (thể hiện qua kỳ vọng) mà cả về sự biến động của chúng (thể hiện
qua phương sai) dựa trên việc kết hợp biến giả và mô hình GARCH (1,1).
Lee (1992) sử dụng phương pháp kiểm định tỷ lệ phương sai đối với tỷ suất
sinh lợi cổ phiếu hàng tuần của Hoa Kỳ và 10 nước công nghiệp gồm: Úc, Bỉ,
Canada, Pháp, Ý, Nhật Bản, Hà Lan, Thụy Sĩ, Anh, và Đức dựa trên mô hình bước
đi ngẫu nhiên cho các giai đoạn 1967 - 1988. Qua nghiên cứu, ông nhận thấy rằng
mô hình bước đi ngẫu nhiên là phù hợp tại đa số các quốc gia này, tức thị rường
chứng khoán đạt hiệu quả thông tin dạng yếu.
Ayadi (1994) áp dụng phương pháp kiểm định tỷ lệ phương sai để kiểm tra lý
thuyết thị trường hiệu quả trên thị trường chứng khoán Hàn Quốc cho giai đoạn từ
năm 1984 đến 1988. Theo giả định phương sai không đổi (homoscedasticity), tác
giả bác bỏ mô hình bước đi ngẫu nhiên. Tuy nhiên, theo giả định phương sai thay
đổi (heteroscedasticity) thì không thể bác bỏ mô hình bước đi ngẫu nhiên cho dữ
liệu hàng ngày. Ngoài ra, tác giả cũng sử dụng dữ liệu hàng tuần, hàng tháng, 60
ngày và 90 ngày để tiến hành kiểm định. Các kết quả cũng không bác bỏ mô hình
bước đi ngẫu nhiên và qua đó đưa ra kết luận thị trường chứng khoán Hàn Quốc đạt
hiệu quả thông tin dạng yếu.
C.Cheung (2001) sử dụng phương pháp kiểm định tỷ lệ phương sai với giả
định phương sai không đổi (homoscedasticity) và phương sai thay đổi
(heteroscedasticity) để kiểm tra giả thuyết của mô hình bước đi ngẫu nhiên cho chỉ
số Hang Seng của thị trường chứng khoán Hồng Kông trong giai đoạn 1985 - 1997.
Tác giả kết luận rằng tỷ suất sinh lợi của chỉ số Hang Seng đi theo mô hình bước đi
ngẫu nhiên và do đó kết luận thị trường chứng khoán Hồng Kông đạt hiệu quả
thông tin dạng yếu.
21
22
tương quan với mức ý nghĩa từ 5% và 10%. Như vậy chứng tỏ thị trường chứng
khoán Nigeria là thị trường hiệu quả thông tin ở dạng yếu.
Tiếp theo, Asma Mobarek (2000) cũng tiến hành kiểm chứng liệu rằng có tồn
tại thị trường hiệu quả thông tin dạng yếu tại thị trường chứng khoán Dhaka hay
không. Dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu gồm chỉ số giá chứng khoán trong
khoảng thời gian 1988-1997 trên thị trường chứng khoán Dhaka. Các phương pháp
kiểm định được sử dụng gồm: kiểm định phi tham số (kiểm định chuỗi) và kiểm
định tham số (kiểm định tự tương quan, mô hình tự hồi quy và mô hình ARIMA).
Kết luận cuối cùng cho thấy thị trường chứng khoán Dhaka không đạt hiệu quả ở
dạng yếu.
Abeysekera (2001) tiến hành kiểm định tính hiệu của thông tin trên thị trường
chứng khoán Colombo (Srilanka) với các dữ liệu được thu thập theo tuần và tháng
trong thời điểm từ tháng 01/1991 đến tháng 12/1996. Bài nghiên cứu cũng sử dụng
hai phương pháp đó là kiểm định tự tương quan và kiểm định chuỗi. Với kiểm định
chuỗi, kết quả cho thấy các chuỗi quan sát có những thay đổi không theo đúng theo
mô hình bước đi ngẫu nhiên, chứng tỏ giả thiết H0 về thị trường hiệu quả của thị
trường chứng khoán Colombo đã bị bác bỏ. Ngoài ra, với kiểm định tự tương quan
cũng cho kết luận tương tự.
Surya Bahadur G.C (2010) sử dụng dữ liệu là 1970 quan sát hàng ngày từ
năm 2003 – 2009 của chỉ số NEPSE và 7 chỉ số ngành khác nhau để kiểm định
xem thị trường chứng khoán Nepal có đạt hiệu quả ở dạng yếu hay không. Các
phương pháp kiểm định dựa trên mô hình bước đi ngẫu nhiên được sử dụng là:
kiểm định tự tương quan, kiểm định chuỗi, kiểm định đơn vị (unit root test), kiểm
định tỷ lệ phương sai (variance ratio test), kiểm định tự hồi quy có điều kiện. Kết
quả kiểm định cho thấy các chỉ số hàng ngày của thị trường chứng khoán Nepal
không tuân theo mô hình bước đi ngẫu nhiên và thị trường không đạt hiệu quả
thông tin ở dạng yếu.