GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY DƯỢC PHẨM TRUNG ƯƠNG I - Pdf 66

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI
CHÍNH TẠI CÔNG TY DƯỢC PHẨM TRUNG ƯƠNG I
3.1. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY DƯỢC PHẨM TRUNG ƯƠNG I.
Để có thể đưa ra được một chiến lược phát triển hoạt động kinh doanh phù
hợp nhất với tình hình hiện tại, Công ty cần phải nghiên cứu những thuận lợi
và khó khăn đối với Công ty trong thời gian tới. Nó được thể hiện trên một số
nội dung sau:
Năm 2002 là một năm có nhiều sự kiện ảnh hưởng tới hoạt động kinh doanh
của Công ty. Trước hết, nước ta đang trong thời gian tiến tới hoà nhập vào
AFTA, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ vừa được ký kết, cùng với sự hoạt động
của các Công ty nước ngoài và các doanh nghiệp có 100 % vốn nước ngoài ở
Việt Nam, sẽ tạo nên sức ép cạnh tranh đối với Công ty. Nếu nhà quản lý Công
ty không có những chính sách phù hợp nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm
chi phí bán hàng và chi phí quản lý, hạ giá thành sản phẩm thì sẽ không đứng
vững được trên thị trường, dẫn tới kinh doanh kém hiệu quả. Đây là một khó
khăn rất lớn mà Công ty phải lưu tâm đến.
Không chỉ có các đối thủ cạnh tranh ở bên ngoài, mà ngay cả trong nước Công
ty cũng phải đối mặt đối với những trở ngại do các nhà sản xuất trong nước
gây lên. Các nhà sản xuất trong nước có xu hướng ngày càng mở rộng thị
trường tiêu thụ, nhất là ở các tỉnh lớn, đông dân, có sức mua cao, do vậy thị
trường truyền thống của Công ty bị thu hẹp dần, nguồn hàng có nguy cơ giảm
dần và bị động cả về số lượng và giá cả.
Trong năm 2002, Công ty vẫn phải tiếp tục đầu tư xây dựng nâng cao hệ thống
kho tàng, đào tạo đội ngũ nhân viên và cán bộ… Công ty cần phải tìm nguồn
vốn thích hợp để tài trợ cho các hoạt động này.
Ngoài những khó khăn trên, Công ty cũng có những thuận lợi như:
- Một phần lớn số kho của Công ty đã được công nhận đạt GSP, Công ty đang
tiến hành tìm hiểu và áp dụng từng phần công tác quản lý chất lượng theo ISO
nhằm nâng cao uy tín và tạo khả năng cạnh tranh cho Công ty trên thị trường.
- Công ty luôn được Bộ Y tế, Tổng Công ty Dược Việt nam, các ngành chức năng
ở Trung ương, Hà Nội quan tâm theo dõi và giúp đỡ về nhiều mặt.

- Xây kho dự trữ Quốc gia nếu Bộ Y tế và Bộ Tài chính cho phép giải ngân trong
năm 2002.
- Đào tạo bồi dưỡng cán bộ đủ năng lực để đáp ứng với yêu cầu công việc.
- Nâng cao và hoàn thiện chương trình quản lý trên mạng về tính xuyên suốt và
mở rộng đến tất cả các khâu trong Công ty theo yêu cầu quản lý từng thời
điểm.
3.2. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH TẠI
CÔNG TY DƯỢC PHẨM TRUNG ƯƠNG I.
3.2.1. Hoàn thiện giai đoạn chuẩn bị cho hoạt động phân tích tài chính.
Muốn hoạt động phân tích tài chính đạt hiệu quả cao, cần phải làm tốt ngay từ
khâu chuẩn bị. Nó bao gồm một số công đoạn như: xác định mục tiêu phân tích,
thu thập và xử lý thông tin, lập kế hoạch phân tích.
• Xác định mục tiêu phân tích.
Phân tích tài chính nhằm đánh giá thực trạng tài chính của Công ty trong thời
gian qua để thấy được điểm mạnh, điểm yếu của hoạt động tài chính và đánh
giá khả năng phát triển của Công ty trong tương lai. Trên cơ sở đó, lập kế
hoạch tài chính ngắn hạn và xây dựng chiến lược phát triển cho Công ty.
• Thu nhập và xử lý thông tin:
Chất lượng phân tích tài chính của Công ty phụ thuộc rất nhiều vào thông tin
sử dụng. Thông tin sử dụng dùng để phân tích tài chính phải chính xác, đầy đủ,
kịp thời và có tính so sánh. Nó bao gồm hai nguồn thông tin chính:
- Nguồn thông tin bên trong Công ty bao gồm các báo cáo tài chính như: bảng
cân đối kế toán, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển
tiền tệ và thuyết minh báo cáo tài chính. Số liệu trên báo cáo tài chính phải
phản ánh chính xác tình hình hoạt động kinh doanh của Công ty, đồng thời cần
lập số liệu hàng tháng để theo dõi sự biến động tình hình kinh doanh một cách
kịp thời và có giải pháp phù hợp.
- Nguồn thông tin quan trọng thứ hai là nguồn thông tin bên ngoài Công ty
như: thông tin về môi trường, thị trường kinh doanh cũng như những thông
tin về các doanh nghiệp cùng ngành…điều đó là cơ sở cho việc ra quyết định tài

Bảng 3.1. Các tỷ lệ về khả năng thanh toán.
Chỉ tiêu
Năm
1999
Năm
2000
Năm
2001
Khả năng thanh toán tức thời (lần) 0,086 0,160 0,079
Vốn lưu động ròng (triệu đồng) 37.851 36.684 37.196
Khả năng thanh toán tức thời của Công ty tăng từ 0,086 lần (năm 1999) đến
0,16 lần (năm 2000) nhưng lại giảm xuống 0,079 lần (năm 2001). Điều này
cho thấy khả năng đáp ứng các khoản nợ tức thời của Công ty có xu hướng bị
thu hẹp dần.
Ngược lại, vốn lưu động ròng của Công ty luôn dương và lớn hơn nợ ngắn hạn
trong suốt giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2001. Điều này chứng tỏ toàn bộ
tài sản cố định và một phần tài sản lưu động đã được tài trợ bằng vốn chủ sở
hữu và khả năng thanh toán của Công ty là khả quan. Tuy nhiên, cần phải kết
hợp với việc phân tích khả năng sinh lời để thấy được quyết định tài trợ này có
phù hợp hay không.
• Các tỷ lệ về khả năng cân đối vốn.
Công ty là một loại hình doanh nghiệp thương mại, nên phần lớn nguồn vốn tài
trợ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh là nợ ngắn hạn và vốn chủ sở hữu.
Vì vậy, vấn đề cơ cấu vốn ở Công ty không được quan tâm. Tuy nhiên, để nắm
bắt được đầy đủ, chính xác tình hình tài chính cần phải tiến hành phân tích
khả năng cân đối vốn.
Bảng 3.2. Các tỷ lệ về khả năng cân đối vốn.
Chỉ tiêu
Năm
1999


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status