Thực trạng hoạt động kinh doanh và quá trình thực hiện chiến lược
kinh doanh của Công ty Cao su sao vàng
I. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CAO SU SAO VÀNG
1. Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Năm 1956 sau khi thành phố Hà Nội được giải phóng, Nhà nước ta đã
nắm được tầm quan trọng của sản phẩm cao su trong nền kinh tế quốc dân,
nên ngày 7/10/1956, xưởng đắp vá săm lốp ôtô được thành lập tại số 2 - Đặng
Thái Thân, tháng 11/1956 bắt đầu đi vào hoạt động, đến năm 1960 thì sát
nhập vào nhà má cao su Sao Vàng và được coi là tiền thân của nhà máy cao su
Sao Vàng Hà Nội.
Trong kế hoạch phục hồi nền kinh tế (1958-1960) Đảng và Chính phủ ta
đã quyết định xây dựng khu công nghiệp Thượng Đình tại đường Nam Thanh
Xuân, nhà máy cao su Sao Vàng được xây dựng từ ngày 22/12/1958 và bắt
đầu sản xuất thử từ 6/4/1960, những sản phẩm săm lốp xe đạp đầu tiên mang
tên Sao Vàng. Ngày 23/5/1960, nhà máy cắt băng khánh thành và đây được
coi là ngày truyền thống của nhà máy. Nhà máy được xây dựng với sự giúp đỡ
nhiệt tình của nước bạn Trung Quốc cả về lao động, máy móc và trang thiết bị.
Trong những năm chiến tranh chống Mỹ, nhà máy sản xuất theo kế hoạch
của Nhà nước, những sản phẩm mang tên "Sao Vàng" cũng ra mặt trận và
đóng góp một phần không nhỏ vào sự thắng lợi của quân và dân ta.
Sau chiến tranh, nhịp độ sản xuất của nhà máy vẫn tăng trưởng nhưng
sản phẩm lại rất nghèo nàn, đơn điệu về chủng loại, ít được cải tiến vì không
có đối thủ cạnh tranh. Bộ máy quản lý cồng kềnh và bắt đầu bộc lộ nhiều
nhược điểm như hoạt động không có hiệu quả, thu nhập người lao động thấp,
đời sống gặp nhiều khó khăn.
Những năm 1988-1989, nhà máy trong thời kỳ quá độ sang nền kinh tế
thị trường. Đây là thời kỳ khó khăn nhất của nhà máy. Trong tình hình đó, ban
lãnh đạo của nhà máy nhận định rằng: "Nhu cầu tiêu thụ săm lốp ở Việt Nam
là rất lớn, cốt yếu là chúng ta phải làm sao để thị trường chấp nhận. Với định
hướng đó, cùng với tinh thần đoàn kết, nhất trí, sáng tạo và truyền thống của
mình, nhà máy đã tiến hành tổ chức, sắp xếp lại sản xuất có chọn lọc, tìm hiểu
đến nay Công ty cao su Sao Vàng đã khẳng định được vị trí khá vững chắc của
mình trên thương trường.
Những kết quả và thành tích trên đã góp phần không nhỏ vào sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2. Chức năng, nhiệm vụ, địa vị pháp lý của Công ty
Công ty cao su Sao Vàng là một doanh nghiệp nhà nước thuộc Tổng Công
ty Hoá Chất Việt Nam, có tư cách pháp nhân, có con dấu riêng, có tài khoản tại
ngân hàng. Công ty có chức năng cơ bản là trực tiếp sản xuất và tổ chức tiêu
thụ các sản phẩm cao su, chủ yếu là săm lốp xe đạp, xe máy, ôtô...
Để làm tốt chức năng của mình, Công ty cao su Sao Vàng phải làm tốt các
nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu và nắm vững nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước
trong từng thời kỳ để xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh và thực hiện kế
hoạch đó sau khi cấp trên đã phê duyệt.
- Bảo toàn và phát triển vốn kinh doanh, giữ vững và phát triển vị trí của
Công ty trên thị trường.
- Công ty được quyền liên doanh, liên kết với mọi thành phần kinh tế
trong và ngoài nước để có thêm nguồn vật tư, hàng hoá với hình thức hùn vốn
hoặc vay vốn nhằm kinh doanh ở quy mô lớn.
- Công ty trực tiếp ký các hợp đồng tiêu thụ hàng hoá và tổ chức thực hiện
trên cơ sở cân đối khả năng sản xuất, tự chủ về tài chính, chịu trách nhiệm về
vật chất và tuân thủ theo pháp lệnh hợp đồng.
- Chấp hành tốt luật kinh tế và chế độ nguyên tắc quản lý kinh doanh của
Nhà nước.
- Thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách Nhà nước.
3. Cơ cấu tổ chức sản xuất và quản lý của Công ty cao su Sao Vàng.
Bộ máy quản trị được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng, giám
đốc điều hành chung chịu trách nhiệm về mọi mặt hoạt động sản xuất kinh
doanh của Công ty trước Tổng Công ty.
Giám đốc điều hành hoạt động của Công ty thông qua ba phó giám đốc
xuất đúng tiến độ quy hoạch.
- Phó giám đốc kinh doanh: Có chức năng thay mặt giám đốc điều hành về
kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, theo dõi các hoạt động cung ứng vật
tư, tình hình tiêu thụ sản phẩm.
Bộ tham mưu được chia thành các phòng ban chức năng có chức năng
tham mưu về các lĩnh vực mình phụ trách:
- Phòng kế hoạch thị trường: Có chức năng tham mưu cho giám đốc về kế
hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, phương hướng phát triển sản xuất và kế
hoạch ngắn hạn, dài hạn, trực tiếp điều độ kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng
ngày giữa các đơn vị, lập kế hoạch hàng quý, hàng năm theo nhu cầu thị
trường. Điều tiết kế hoạch vận chuyển, có kế hoạch cung ứng vật tư nhằm đảm
bảo kế hoạch sản xuất đã định, cụ thể là đảm bảo cung ứng vật tư nhập ngoại
và vật tư chủ yếu cho các đơn vị sản xuất theo định mức căn cứ vào kế hoạch
sản xuất kinh doanh. Xây dựng kế hoạch và chiến lược tiêu thụ hàng năm.
- Phòng tổ chức hành chính: Tham mưu cho giám đốc về công tác tổ chức
bộ máy lao động sản xuất, quản lý, sử dụng đào tạo đội ngũ cán bộ công nhân
viên chức thực hiện mọi chính sách đối với người lao động, xây dựng kế hoạch
lao động và quỹ tiền lương hàng năm, quy chế hoá các nguyên tắc trả lương,
xác định các đơn giá tiền lương và định mức lao động.
- Phòng tài vụ: Tham mưu cho giám đốc về quản lý nguồn vốn, các số liệu
về kế toán tài chính, quyết toán tổng kết (kiểm tra tài sản hàng năm theo định
kỳ của nhà nước). Phòng tài vụ có trách nhiệm báo cáo về tài chính lên các cơ
quan cấp trên, nộp ngân sách nhà nước các khoản theo luật định, kiểm tra về
tài chính các hoạt động sản xuất của các đơn vị trong Công ty, hàng quý tổ
chức quyết toán, khi cần thiết thì tiến hành thanh tra tài chính đối với đơn vị
thành viên, làm thủ tục về thanh lý tài sản, quản lý tiền mặt điều phối giữa các
đơn vị giúp bảo toàn phát triển và quay vòng vốn nhanh để không ngừng nâng
cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty.
- Phòng đối ngoại xuất nhập khẩu: Tham mưu cho giám đốc trong lĩnh
vực thị trường (chủ yếu là thị trường nước ngoài). Giải quyết các thủ tục trong
nhà nước.
- Phòng đời sống: Tham mưu cho giám đốc về các vấn đề liên quan đến
đời sống của cán bộ công nhân viên, tổ chức khám sức khoẻ ban đầu cho
những người có thẻ bảo hiểm y tế đăng ký khám tại Công ty, kiểm tra điều kiện
vệ sinh môi trường lao động, phòng hiện có 27 người.
- Phòng điều độ: có 4 nhân viên làm chức năng điều hoà phân phối năng
lượng điện, hơi nóng, khí nén cho các đơn vị sản xuất nhằm đảm bảo cho các
đơn vị sản xuất thực hiện tốt kế hoạch sản xuất kinh doanh của mình, nâng cao
hiệu quả kinh tế cho Công ty.
Dưới các phòng ban là các xí nghiệp trực thuộc. Các xí nghiệp này hoạt
động trên nguyên tắc hạch toán độc lập. Trong phạm vi của mình, các xí
nghiệp có thể tự mua nguyên vật liệu, tự sản xuất theo công nghệ kỹ thuật
riêng, tự thành lập hệ thống tiêu thụ. Tuy vậy, hàng năm căn cứ vào kế
hoạch sản xuất của Công ty, các xí nghiệp này được giao một phần nhiệm vụ
sản xuất đó. Điều này cho thấy được hai nhiệm vụ cơ bản của các xí nghiệp
thành viên là: một mặt hoàn thành kế hoạch sản xuất do Công ty giao cho,
một mặt vẫn phải đáp ứng nhu cầu sản phẩm của thị trường. Đây là hướng
đi mới của Công ty trong việc từng bước gắn người sản xuất với thị trường
và hướng việc sản xuất theo thị trường. Hiện nay, Công ty có 4 xí nghiệp sản
xuất chính đó là:
- Xí nghiệp cao su số 1: Sản xuất săm lốp xe máy, những sản phẩm cao su
kỹ thuật, cao su chống xăng dầu, cao su chống ăn mòn, curoa, ống các loại...
- Xí nghiệp cao su số 2: Sản xuất lốp xe đạp các loại.
- Xí nghiệp cao su số 3: Chuyên sản xuất lốp ôtô, lốp xe thồ.
- Xí nghiệp cao su số 4: Chuyên sản xuất săm xe đạp, săm xe máy các loại.
Ngoài bốn xí nghiệp sản xuất chính Công ty còn có các xí nghiệp sản xuất
phụ khác là:
- Xí nghiệp năng lượng: Cung cấp nước lạnh, khí nén, hơi nóng cho các xã
hội sản xuất chính.
- Xí nghiệp cơ điện: Đảm bảo cung cấp điện cho sản xuất và chiếu sáng,
kết hợp phức tạp của các nguyên vật liệu, các nguyên tố hoá học... Tóm lại,
nguyên vật liệu của Công ty có thể chia thành 11 nhóm chính.
- Nhóm 1: Bao gồm các loại cao su: cao su thiên nhiên và cao su tổng hợp.
- Nhóm 2: Chất lưu hoá, chủ yếu là lưu huỳnh (5)
- Nhóm 3: Chất xúc tác: Axit Stearic, xúc tác M...
- Nhóm 4: Chất trợ xúc tác: ZnO, axit Stearic...
- Nhóm 5: Chất phòng lão: Phòng lão D, phòng lão MB...
- Nhóm 6: Chất phòng tự lưu AP.
- Nhóm 7: Chất độn: than đen, N330, N774, SiO2, bột than BaSO4, cao
lanh, màu đỏ (Fe3O4)...
- Nhóm 8: Chất làm mềm: Parphin, antilux 654.
- Nhóm 9: Vải mành: vải mành ôtô, vải mành xe máy, vải mành xe đạp.
- Nhóm 10: Tanh các loại
- Nhóm 11: Các nguyên vật liệu khác: Bạt PA, xăng công nghệ...
Nguồn cung ứng nguyên vật liệu từ 2 nguồn chính
- Nguồn trong nước: Sử dụng khoảng 60% giá trị, khoảng 2.500
tấn/năm cao su thiên nhiên từ các tỉnh miền Trung, miền Nam. Một số loại
hoá chất khác như: Oxit kẽm, Oxit sắt, bột tan, xà phòng, vải lót... lấy từ các
nhà máy hoá chất. Phương thức mua các loại vật tư hoá chất này thường là
ký hợp đồng cả năm với đơn vị cung cấp.
- Nguồn nhập khẩu: Hầu như các nguyên liệu quan trọng của ngành cao
su, Công ty đều phải nhập khẩu ở nước ngoài, chủ yếu từ Nhật Bản, Nam Triều
Tiên, úc. Phương thức nhập khẩu theo 2 cách:
+ Công ty nhập khẩu trực tiếp từ nước ngoài với khối lượng lớn, giá cả rẻ
hơn và không phải trả chi phí trung gian.
+ Công ty nhập qua các Công ty kinh doanh xuất nhập khẩu trong nước
khi số lượng nguyên vật liệu cần nhập là nhỏ. Theo phương thức này, Công ty
sẽ tiết kiệm được thời gian, chi phí và rủi ro.
Chính do việc Công ty phải thường xuyên nhập khẩu nguyên vật liệu từ
nước ngoài ,nên Công ty gặp khó khăn trong việc bị phụ thuộc nhiều vào các
Hiện nay, tổng số lao động chính thức của Công ty là 2769 người, những
khi vào thời vụ thì số lao động làm theo hợp đồng có khi lên tới hơn 500 người.
Trình độ của người lao động trực tiếp đều tốt nghiệp phổ thông trung học,
ngoài ra có hơn 100 người tốt nghiệp trung cấp chiếm hơn 3,3% và 200 người
tốt nghiệp đại học và trên đại học chiếm gần 10% trong tổng số lao động.
Lao động gián tiếp trong Công ty cũng được tinh giảm dần tạo bộ máy
quản lý gọn nhẹ, năng động, năm 1994 lao động gián tiếp là 316 người chiếm
16,6% tổng số lao động, đến năm 1999 chỉ còn 287 người, chiếm 10,36%.
Bên cạnh đó, Công ty cũng có các hoạt động nâng cao chất lượng của lực
lượng lao động bằng việc đào tạo lại nghiệp vụ chuyên môn cho cán bộ công
nhân viên trong toàn Công ty.
- Về tiền lương:
Đời sống của cán bộ công nhân viên trong Công ty không ngừng được cải
thiện, mức lương bình quân của cán bộ công nhân viên không ngừng được
nâng cao. Năm 1997 là 950.000 đồng/người/tháng, năm 1998 là 1.250.000
đ/người/tháng, năm 1999 là 1.300.000 đ/người/tháng và dự kiến năm 2000
sẽ là 1.400.000 đ/người/tháng.
Công ty áp dụng phương pháp trả lương linh hoạt. Với công nhân viên
làm việc ở các cửa hàng, bộ phận tiêu thụ, kho trạm, ban đại diện Công ty trả
lương theo phần trăm công việc hoàn thành, % doanh số, khối lượng sản phẩm
nguyên vật liệu xuất kho. Với công nhân trực tiếp sản xuất thì trả lương theo
sản phẩm. Cán bộ quản lý thì áp dụng trả lương theo thời gian.
5. Tình hình tài chính của Công ty.
Chức năng của bộ phận tài chính trong Công ty bao gồm việc phân tích,
lập kế hoạch và kiểm tra việc thực hiện kế hoạch tài chính và tình hình tài
chính của Công ty và nó có ảnh hưởng sâu rộng trong toàn Công ty. Các nhân
xét về tài chính, các mục tiêu và chiến lược tổng quát của Công ty gắn bó mật
thiết với nhau vì các kế hoạch và các quyết định của Công ty liên quan đến
nguồn tài chính. Bộ phận tài chính của Công ty có nhiệm vụ lập kế hoạch huy
động và sử dụng các nguồn lực về vốn. Nguồn vốn kinh doanh của Công ty hiện
Tổng nguồn vốn 155.361.627 183.711.340 265.629.241
Nguồn: Phòng tài vụ
Qua bảng trên ta thấy, tổng nguồn vốn của Công ty khá lớn. năm 1997
là 155.361.627 nghìn đồng, năm 1998 là 183.711. 340 nghìn đồng tăng
18,2% 28.349,713 năm 1999 là 265.629.241 nghìn đồng, tăng (81.917.901)
44,9% so với năm 1998 và tăng 71% (11.02.67.614 nghìn đồng)
So với năm 1997. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng
quy mô sản xuất và áp dụng các tiến bộ kỹ thuật.
Bên cạnh đó, khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập về
mặt tài chính cũng cho thấy khái quát tình hình tài chính của doanh nghiệp. Để
làm rõ điều này, ta đi phân tích các chỉ tiêu tài chính sau:
Tỷ suất tài trợ =
Tỷ suất tài trợ năm 1997 là 0,51, năm 1998 là 0,49, năm 1999 chỉ còn
0,34. Tuy nhiên, xét về số tuyệt đối, cả vốn chủ sở hữu và công nợ phải trả đều
tăng lên. Sở dĩ tỷ suất tài trợ giảm là do tốc độ tăng vốn chủ sở hữu (năm 1998
tăng 112,8% so với năm 1997, năm 1999 tăng 101, 5% so với năm 1998)thấp
hơn tốc độ tăng công nợ phải trả (năm 1998 tăng 124% so với 1997, năm
1999 tăng 186, 2% so với năm 1998). Như vậy, mức độ độc lập về tài chính
của Công ty giảm dần theo các năm, đặc biệt năm 1999 nguồn vốn huy động từ
bên ngoài chiếm tới 65% tổng nguồn vốn.
=
Tỷ suất này cho ta thấy khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn của
doanh nghiệp là cao hay thấp. Tỷ suất thanh toán hiện hành năm 1997 là 0,98,
năm 1998 là 0,91 năm 1l999 là 0,94. Vậy Công ty khả năng thanh toán các
khoản nợ ngắn hạn trong vòng 1 năm.
=
Năm 1997, tỷ suất này là 0,14, năm 1998 là 0,03, năm 1999 là 0,05 cho
thấy doanh nghiệp không đủ tiền để thanh toán. Tuy nhiên nếu tính cả các
khoản phải thu thì tỷ suất này năm 1997 là 0,4, năm 1998 là 0,39, năm 1999 là
0,34. Điều này cho thấy doanh nghiệp có thể đảm bảo khả năng thanh toán