PHƯƠNG PHÁP LUẬN VỀ HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC SẢN XUẤT KINH
DOANH TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG.
I - SỰ CẦN THIẾT KHÁCH QUAN PHẢI XÂY DỰNG CHIẾN LƯỢC KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THI TRƯỜNG.
Trong cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước các doanh nghiệp
muốn tồn tại và phát triển được ngoài những lỗ lực của bản thân doanh
nghiệp, các doanh nghiệp còn phải biết xây dựng cho mình những chiến lược
đầy tham vọng.
Để làm được điều đó, trước hết các doanh nghiệp phải nắm được các
thông tin và sau đó phải có tư duy phán đoán chiến lược và lựa chọn cho mình
đường đi thích hợp.
Trong cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chiến lược kinh doanh là
phạm trù tương đối mới mẻ, ít được nhắc đến. Các doanh nghiệp hoạt động
theo kế hoạch của Nhà nước, mang tính tập trung cao độ. Chiến lược kinh
doanh trong thời kỳ này chỉ là mắt xích kế hoạch hoá nền kinh tế quốc dân
chiến lược cấp trên đảm nhận. Tư duy đều tập trung cho rằng: Nhà nước có
trách nhiệm hàng đầu trong việc xây dựng chiến lược phát triển toàn bộ nền
kinh tế quốc dân trong tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hoá, xã hội, sản xuất...
Do đó, vấn đề xây dựng chiến lược kinh doanh ở các doanh nghiệp chưa được
áp dụng phổ biến.
Từ khi có sự chuyển đổi cơ chế quản lý, đa số các doanh nghiệp nước ta
phải đối diện với những điều kiện kinh doanh ngày càng khó khăn, phức tạp
mang tính biến động và rủi ro cao. Mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp
lúc này là đảm bảo sự tồn tại và phát triển. Để đạt được mục tiêu đó, các
doanh nghiệp phải biết điều chỉnh hoạt động của mình một các linh hoạt để
thích nghi với sự thay đổi thường xuyên của môi trường kinh doanh. Sự biến
đổi nhanh chóng của môi trường kinh doanh, sự cạnh tranh ngày càng gay gắt
cùng với việc khan hiếm của các nguồn tài nguyên làm cho hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp ngày càng khó khăn hơn. Bên cạnh đó, cùng với
sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu của xã hội ngày càng mở rộng, người
tiêu dùng đòi hỏi những hàng hoá có chất lượng ngày càng cao. Do vậy, nhiệm
lược.
Xét về mặt lịch sử, chiến lược được sử dụng đầu tiên trong lĩnh vực
quân sự. Sau đó mới du nhập vào các lĩnh vực khác của đời sống kinh tế xã hội.
Từ những năm 50 của thế kỷ 20, chiến lược kinh doanh được triển khai áp
dụng rộng rãi tại các Công ty ở các nước có nền kinh tế phát triển.
Sự xuất hiện của thuật ngữ chiến lược không chỉ đơn thuần là sự vay
mượn khái niệm mà bắt nguồn từ sự cần thiết phản ánh thực tiễn khách quan
của quản lý doanh nghiệp trong cơ chế thị trường.
2 - Một số quan điểm tiếp cận chiến lược kinh doanh của doanh
nghiệp.
2.1 Quan điểm cổ điển.
Quan điểm này xuất hiện từ trước những năm 60, theo quan điểm này
thì doanh nghiệp có thể kế hoạch hoá, tối ưu tất cả các yếu tố đầu vào để từ đó
tạo ra lợi thế cạnh tranh dài hạn nhằm đạt được mục tiêu hiệu quả và tối ưu
hoá lợi nhuận. Vì vậy, trong thời kỳ này dùng nhiều hàm sản xuất và máy tính
tối ưu hoá lợi nhuận.
Thực tế, đến những năm 70 cách tiếp cận này đã mất ý nghĩa vì toàn bộ
hoạt động của doanh nghiệp đều do kế toán trưởng và Giám đốc chỉ đạo không
đề cập đến bên ngoài. Mặt khác, lúc này đã hình thành khu vực Bắc Mỹ, Nam
Mỹ, Tây âu, Đông âu... chi phối toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp, cạnh
tranh giữa các doanh nghiệp đòi hỏi các doanh nghiệp phải có tiếng nói chung
phối hợp với nhau.
2.2 Quan điểm tiến hoá.
Quan điểm này coi “doanh nghiệp là một cơ thể sống và nó chịu sự tác
động của môi trường bên ngoài, đồng thời cơ thể sống tự điều chỉnh chính
mình để thích nghi với môi trường kinh doanh”. Như vậy quan điểm này không
thừa nhận doanh nghiệp như là một “hộp đen”, mà trái lại doanh nghiệp như
là một hệ thống mở chịu sự tác động từ bên ngoài, “doanh nghiệp không thể
ngồi trong bốn bức tường mà phải mở cửa sổ để quan sát bầu trời đầy sao”
nhằm tìm kiếm cơ hội kinh doanh và phát hiện nguy cơ có thể đe dọa doanh
Theo nhóm tác giả Garry Osmith, Danny Rarnold, Bobby G.Bizzell trong
cuốn “chiến lược và sách lược kinh doanh “cho rằng: “chiến lược được định ra
như là kế hoạch tổng quát hướng dẫn Công ty đạt được mục tiêu mong muốn.
Kế hoạch tác nghiệp này tạo cơ sở cho các chính sách và các thủ pháp tác
nghiệp”.
Cách tiếp cận phổ biến nhất hiện nay xác nhận :”chiến lược kinh doanh
là tổng hợp các mục tiêu dài hạn, các chính sách và giải pháp lớn về sản xuất
kinh doanh về tài chính và về giải quyết nhân tố con người nhằm đưa hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp phát triển lên một trạng thái mới cao hơn
về chất.
Nhìn chung các quan niệm trên về thuật ngữ chiến lược đều bao hàm
và phản ánh các vấn đề sau:
+Mục tiêu chiến lược .
+ Thời gian thực hiện.
+ Quá trình ra quyết định chiến lược .
+ Nhân tố môi trường cạnh tranh.
+ Lợi thế và yếu điểm của doanh nghiệp nói chung và theo từng hoạt
động riêng.
Có thể nói, tư tưởng chiến lược đã thay đổi và hoàn thiện dần, đặc
biệt trong bốn thập kỷ qua. Lúc đầu xuất hiện các phương pháp đánh giá cơ
hội, thời cơ... để tìm các phương án sử dụng hợp lý vào kinh doanh. Tiến đến
việc xuất hiện các phương án dài hạn quản lý việc thực hiện các mục tiêu
kinh doanh từ các nỗ lực hoàn thiện quản lý sản xuất nội bộ, khai thác
nguồn lực nội sinh và kết hợp với nguồn lực bên ngoài. Sau đó, các nỗ lực
hoàn thiện tư tưởng chiến lược lại hướng vào phát triển thị trường và chiến
lược Marketing. Ngày nay việc nghiên cứu hoàn thiện tư tưởng chiến lược
đang hướng tới các nỗ lực kết hợp xâu chuỗi các kết quả đã đạt được vận
dụng một cách tổng hợp hơn vào môi trường hoạt động mới đầy biến động.
Cùng với sự biến đổi của tư tưởng chiến lược là quá trình tìm tòi một quan
điểm hoàn chỉnh. Song mọi nỗ lực hiện vẫn còn đang ở phía trước và quan
xây dựng chiến lược và thường xuyên soát xét các yếu tố nội tại khi thực thi
chiến lược.
Chiến lược kinh doanh trước hết và chủ yếu được xây dựng cho các
ngành nghề kinh doanh, các lĩnh vực kinh doanh chuyên môn hoá, truyền
thống, thế mạnh của doanh nghiệp. Điều đó đặt doanh nghiệp vào thế phải xây
dựng, lựa chọn và thực thi chiến lược kinh doanh cũng như tham gia kinh
doanh trên những thương trường có chuẩn bị và có thế mạnh.
Từ những đặc điểm nêu trên ta dễ dàng phân biệt phạm trù chiến lược
kinh doanh với các khái niệm và phạm trù có liên quan. Khái niệm gần gũi với
chiến lược là kế hoạch, trước đây người ta cứ lầm tưởng chiến lược là kế
hoạch. Ta có thể so sánh hai khái niệm này để làm rõ phạm trù về chiến lược
kinh doanh.
Xét theo trình tự thì chiến lược kinh doanh được hình thành trên cơ sở
phân tích chuẩn đoán môi trường, đến lượt nó chiến lược lại làm cơ sở cho các
kế hoạch triển khai thực hiện chiến lược.
Đặc trưng nổi bật của chiến lược là tính định hướng và xác định những
giải pháp, chính sách ở những mục tiêu chủ yếu, còn ở kế hoạch tính cân đối
định hướng là chủ đạo, tất cả các mục tiêu đều được lượng hoá, liên kết với
nhau thành hệ thống chỉ tiêu phản ánh toàn diện hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp ở đây cũng cần phân biệt chiến lược với kế hoạch dài
hạn.
Theo tác giả D.Smith, R.arnold, G.Bizzrell thì sự khác nhau giữa chúng
là phương pháp xây dựng. Trong khi các kế hoạch dài hạn chủ yếu dựa trên cơ
sở phân tích các nguồn lực “ dự đoán tương lai” để đề ra giải pháp sử dụng có
hiệu quả các nguồn lực nhằm đạt tới mục tiêu xác định theo hai cách”: doanh
nghiệp có năng lực và trình độ sản xuất sản phẩm A, như vậy hãy lập kế hoạch
để sản xuất và phát triển nó. Còn chiến lược thì ngược lại, chiến lược chú trọng
tới việc xác lập mục tiêu mong muốn sau đó tiến hành sử dụng các nguồn lực
cần thiết để đạt được mục tiêu ( nếu mục tiêu đó có thể đạt được bằng cách
sản xuất sản phẩm A thì hãy tiến hành sản xuất nó, nếu không đạt được bằng
dụng tài nguyên hợp lý, tối ưu, khuyến khích được tinh thần trách nhiệm của
mỗi nhân viên.
-Trong nội bộ doanh nghiệp, giúp cho việc tạo điều kiện ra quyết định
mang tính thống nhất, phối hợp các hoạt động nhịp nhàng uyển chuyển, tạo ra
sức mạnh nội bộ.
-Giúp nhà quản trị luôn luôn chủ động trước những thay đổi của môi
trường như: biết khai thác những cơ hội, giảm bớt những đe dọa. Từ đó là
quản trị định ra những giải pháp, mục tiêu thích nghi được với môi trường.
-Giúp nhà quản trị sử dụng tốt nguồn tài nguyên ( nhân lực, vật lực, tài
lực,...) đưa đến những thành công, những lợi nhuận cao trên con đường kinh
doanh.
Bên cạnh đó, quản trị chiến lược còn tồn tại các nhược điểm:
-Thường mất thời gian và chi phí hơn đối với một doanh nghiệp có
kinh nghiệm và có một quan điểm quản trị chiến lược thích hợp thì khuyết
điểm này có thể hạn chế tối đa được.
-Dễ rơi vào cứng nhắc thậm chí thụ động nếu như không nhận thấy
đặc điểm của chiến lược là năng động và phát triển phù hợp với môi trường
hoạt động.
-Khi tiên đoán sai sẽ dẫn tới thất bại nặng nề, đây là khuyết điểm dễ
làm các nhà quản trị e ngại khi thực hiện chiến lược.
6- Những yêu cầu cần phải quán triệt khi xây dựng chiến lược kinh
doanh.
Khi xây dựng chiến lược kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải đáp
ứng những yêu cầu sau:
-Phải đảm bảo tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị
trường.
Các doanh nghiệp phải xác định được thị trường mục tiêu. Từ đó, xác
định vùng an toàn trong kinh doanh và xác định rõ được phạm vi kinh doanh,
xác định mức độ rủi ro cho phép.
- Phải xác định rõ những mục tiêu then chốt và những điều kiện cơ bản
1- Xác lập hệ thống mục tiêu.
1.1 Bản chất mục tiêu của doanh nghiệp.
Trong quá trình xây dựng và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp
xác định hệ thống mục tiêu là khâu mở đầu và quan trọng nhất bởi lẽ chỉ khi
nào doanh nghiệp xác định được hệ thống mục tiêu đúng đắn và hợp lý thì mới
tạo ra được định hướng chỉ đạo cho các giai đoạn tiếp theo. Hơn nữa, nó cũng
là một trong những căn cứ để cung cấp các nguồn lực kiểm tra, đánh giá và
điều chỉnh chiến lược. Mục tiêu chiến lược là sự cụ thể hoá của tính mục đích
của doanh nghiệp về hướng, quy mô, cơ cấu và tiến trình triển khai theo thời
gian. Nói cách khác, mục tiêu chiến lược là những gì mà doanh nghiệp cần
vươn tới, cần đạt được trong một khoảng thời gian xác định. Việc xác định các
mục tiêu đưa doanh nghiệp đến chỗ năng động hơn, tự nguyện hơn và có tổ
chức hơn.
1.2 Hệ thống mục tiêu chiến lược.
Đối với một doanh nghiệp có rất nhiều mục tiêu được xác định trong
từng thời kỳ tương ứng tạo thành một hệ thống mục tiêu chiến lược. Đó là
những mục tiêu về lợi nhuận, doanh thu, năng suất, thâm nhập thị trường, Đổi
mới, an toàn, tính độc lập. Hệ thống các mục tiêu chiến lược trên được khái
quát thành mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn.
Chúng ta sẽ bàn về 2 loại mục tiêu là mục tiêu ngắn hạn và mục tiêu dài hạn.
thường thì 2 loại mục tiêu này khác nhau ở số năm thực hiện. Mục tiêu ngắn
hạn thường được thực hiện trong một năm còn mục tiêu dài hạn thường được
thực hiện trong thời gian hơn một năm.
Mục tiêu dài hạn là các kết quả mong muốn được đề ra cho một khoảng
thời gian tương đối dài nhìn chung thường dài hơn chu kỳ quyết định. Mục
tiêu dài hạn thường được ấn định 7 lĩnh vực chủ đề sau:
- Mức lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Năng suất lao động.
- Vị thế cạnh tranh.
- Phát triển việc làm.