Năng lực cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp - Pdf 66

Năng lực cạnh tranh và sự cần thiết nâng cao năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp.
1. Cạnh tranh và năng lực cạnh tranh.
1.1.Khái niệm cạnh tranh và vai trò của cạnh tranh.
1.1.1.Khái niệm cạnh tranh.
Cạnh tranh là một thuật ngữ phổ biến trong mọi lĩnh vực của đời sống xã
hội, đó là hành động ghanh đua, đấu tranh chống lại các cá nhân hay nhóm, các
loài vì mục đích giành sự tồn tại, sống còn, lợi nhuận, địa vị, sự kiêu hãnh, hay
các phần thưởng khác.
Trong lĩnh vực kinh tế, cạnh tranh xuất hiện khi tiền tệ ra đời, đặc biệt trong
thời kỳ nền sản xuất hàng hoá của chế độ Tư bản chủ nghĩa phát triển mạnh.
Cùng với thời gian cũng như theo các cách tiếp cận khác nhau, có nhiều
quan điểm khác nhau về cạnh tranh.
Theo K.Mark, “Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt của các nhà Tư
bản nhằm tìm kiếm lợi nhuận siêu ngạch, cạnh tranh là quy luật điều chỉnh tỷ
suất lợi nhuận, các nhà Tư bản luôn cạnh tranh với nhau và tìm đến nơi nào có
tỷ suất lợi nhuận cao hơn, qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường”.
Theo Kinh tế chính trị học, “Cạnh tranh là sự thôn tính lẫn nhau giữa các đối
thủ nhằm giành giật thị trường, khách hàng cho doanh nghiệp của mình”.
Theo quan điểm Marketing, “Cạnh tranh là việc đưa ra những chiến thuật,
chiến lược phù hợp với tiềm lực của doanh nghiệp, xử lý tốt các chiến lược,
chiến thuật của đối thủ, giành được lợi thế trong kinh doanh hàng hóa và dịch
vụ nhằm tối đa hoá lợi nhuận”.
Dù hiểu theo cách tiếp cận nào đi chăng nữa, bản chất của cạnh tranh vẫn
là sự ganh đua của các chủ thể với nhau nhằm mang lại lợi ích cho chủ thể. Đối
với các doanh nghiệp thì cạnh tranh là hoạt động nhằm đối phó lại với các đối
thủ khác trên thị trường, với mục đích chiếm lĩnh thị phần, nâng cao vị thế của
doanh nghiệp nhằm mục đích cao nhất là lợi nhuận.
Hiện nay, khi tình hình kinh tế thế giới có nhiều chuyển biến, người ta
hiểu cạnh tranh không đơn thuần chỉ là cuộc chiến giữa các đối thủ nhằm phân
chia thặng dư kinh tế mà còn là giành những cơ hội xuất hiện trong tương lai.

phát triển đi lên, không tụt lại sau so với sự phát triển chung của kinh tế thế giới.
1.1.2.2. Đối với doanh nghiệp.
Cạnh tranh giúp doanh nghiệp nhận thức rõ vị trí hiện tại của mình trên
thị trường, từ đó doanh nghiệp buộc phải có những đối sách nhằm nâng cao vị
thế của mình.
Trong cơ chế thị trường, doanh nghiệp không còn nhận được sự bảo hộ
của Nhà nước, để tồn tại và phát triển, doanh nghiệp buộc phải tự cứu lấy chính
mình trước sự cạnh tranh của các đối thủ khác trong việc giành giật và đáp ứng
nhu cầu khách hàng.
Bất kỳ một doanh nghiệp tồn tại trong một phân đoạn thị trường nào đều
muốn mình là người chiếm lĩnh các lợi thế của thị trường đó, nhằm thu lợi
nhuận tối đa. Để đạt được mục đích đó, doanh nghiệp buộc phải làm tốt nhất
việc phục vụ nhu cầu của khách hàng. Đó là động lực để doanh nghiệp không
ngừng cải tiến công nghệ sản xuất sản phẩm, năng động, linh hoạt hơn trong
việc tìm ra các tính năng mới cũng như các sản phẩm mới. Doanh nghiệp phải
tìm cách tối thiểu hoá chi phí sản xuất, hoàn thiện hơn dịch vụ bán hàng và sau
bán hàng…
Vì thế cạnh tranh là động lực mang lại sự phát triển cho doanh nghiệp.
1.1.2.3. Đối với sản phẩm.
Thành công của doanh nghiệp trong cạnh tranh thể hiện một phần qua các
sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp tạo ra. Để giành chiến thắng trong cạnh
tranh, doanh nghiệp phải tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao hơn, giá thành
thấp hơn, mẫu mã đa dạng hơn, phù hợp hơn với thị hiếu của người tiêu dùng.
Cạnh tranh của các doanh nghiệp trong ngành là động lực để tạo nên sự hoàn
thiện hơn của các sản phẩm.
1.1.2.4. Đối với người tiêu dùng.
Các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau đều nhằm mục đích phục vụ tốt
hơn nhu cầu của khách hàng. Khách hàng trở thành cái đích trước lợi nhuận của
các doanh nghiệp trong các hoạt động cạnh tranh của mình.
Khi mà cuộc sống của người tiêu dùng được cải thiện nhiều hơn, nhu cầu

hiệu quả kinh tế vĩ mô, là năng lực một nền kinh tế đạt được và duy trì tăng
trưởng kinh tế bền vững, thu hút đầu tư, đảm bão ổn định kinh tế xã hôi, nâng
cao đời sống nhân dân”.
Theo quan điểm của Asian Development 2003, “Năng lực cạnh tranh của
quốc gia là khả năng cạnh tranh của một nước đế sản xuất các hàng hóa dịch vụ,
đáp ứng được thử thách của thị trường quốc tế đồng thời duy trì và mở rộng thu
nhập thực tế của người dân nước đó”.
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của quốc gia, thường dựa vào các tiêu
chí: Thể chế kinh tế, Cơ sở hạ tầng, Kinh tế vĩ mô, Hệ thống giáo dục và Y tế
phổ thông, Giáo dục đại học, Hiệu quả của cơ chế thị trường, Mức độ sẵn sàng
về công nghệ, Mức độ hài lòng doanh nghiệp, Mức độ sáng tạo.
Theo báo cáo của diễn đàn kinh tế thế giới WEF năm 2008 thì 10 nước có
năng lực canh tranh lớn nhất của thế giới bao gồm: Mỹ, Thụy Sỹ, Đan Mạch,
Thụy Điển, Singapo, Phần Lan, Đức, Hà Lan, Nhật Bản, Canada. Cũng theo
đánh giá của diễn đàn này, năng lực cạnh tranh của Việt Nam giảm từ vị trí 68
năm 2007 xuống vị trí 70.
Trong nhóm các yếu tố đánh giá thì nhóm các yếu tố căn bản của Việt nam
bị đánh giá thấp nhất.
Bảng1.1: Tổng hợp “12 trụ cột” cho năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam
Nguồn: Diễn đàn kinh tế thế giới WEF
Đồ thị 1.1: Thang điểm các yếu tố phản ánh năng lực cạnh tranh của Việt Nam năm
2008
Nguồn : Diễn đàn kinh tế thế giới WEF
Năng lực cạnh tranh của Việt Nam bị đánh giá thấp chủ yếu là do các yếu
tố như lạm phát, cơ sở hạ tầng và lao động được đào tạo. Bên cạnh đó thì Việt
Nam vẫn được đánh giá cao trong các lĩnh vực như quy mô thị trường, y tế, giáo
dục tiểu học.
Trong nước, hàng năm Phòng công nghiệp và thương mại Việt Nam
(VCCI) cũng tiến hành đánh giá năng lực canh của các tỉnh dựa vào chỉ số PCI
được đánh giá theo 10 tiêu chí:

sản phẩm, hệ thống phân phối…
Một đất nước có năng lực cạnh tranh tốt đòi hỏi các doanh nghiệp trong
đó phải có năng lực cạnh tranh tốt.
Theo đánh giá của WEF thì năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp
Việt Nam được xếp hạng ở mức thấp 79/120. Do các doanh nghiệp Việt Nam
mới chỉ chú trọng công tác sản xuất sản xuất sản phẩm mà chưa chú ý nhiều đến
các hoạt động tạo giá trị gia tăng cao như R&D(nghiên cứu và triển khai),
P&M( xúc tiến và tiếp thị).
Các cấp độ cạnh tranh có mối quan hệ khăng khít với nhau, theo đó, cấp
độ cạnh tranh thấp sẽ góp phần tạo nên năng lực cạnh tranh cho cấp cao hơn và
ngược lại. Một doanh nghiệp sẽ có được năng lực cạnh tranh tốt so với các đối
thủ của mình khi sản phẩm của họ có khả năng cạnh tranh với các sản phẩm của
doanh nghiệp đối thủ. Khi doanh nghiệp có năng lực canh tranh tốt sẽ góp phần
tạo nên năng lực cạnh tranh quốc gia. Ngược lại, khi quốc gia có năng lực cạnh
tranh lớn, nó sẽ tạo điều kiện thúc đẩy cao hơn năng lực cạnh tranh của các
doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khi doanh nghiệp có đủ năng lực cạnh tranh
với các doanh nghiệp khác trên thị trường, sản phẩm của doanh nghiệp đó sẽ có
khả năng đối phó với các sản phẩm của đối thủ.
1.2.3. Năng lực cạnh tranh của sản phẩm.
Đó là những đặc tính hay giá trị sử dụng mà sản phẩm có được lợi thế so
với các sản phẩm thay thế như chất lượng, mẫu mã, giá cả. Đó là khả năng giúp
cho sản phẩm duy trì được vị trí của mình trong mắt của người tiêu dùng.
Năng lực cạnh tranh của sản phẩm là yếu tố quan trọng giúp nâng cao
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Sản phẩm có năng lực cạnh tranh tốt là các sản phẩm có giá thành thấp,
chất lượng cao, mẫu mã đẹp, đáp ứng được độ thõa dụng của khách hàng. Để có
được các sản phẩm có năng lực cạnh tranh tốt, các doanh nghiệp phải chú ý đầu
tư nhiều cho các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ vào sản
xuất, chủ động nguồn nguyên liệu đầu vào, sở hữu lao động có trình độ cao
cũng như nguồn vốn lớn, cở sở hạ tầng hiện đại đồng bộ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status