Quy trình thu thập, bảo quản và quán lý mẫu vật thuộc họ Bồ hòn - Pdf 67

BÁO CÁO THỰC TẬP
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1 Tính cấp thiết của đề tài:
Chúng ta đang sống trong một thời đại văn minh con người không chỉ
nhìn nhận sự việc một cách thô sơ như trước đây. Xã hội càng phát triển thì nhu
cầu học tập nghiên cứ càng tăng cao. Do đó, vấn đề tìm hiểu thế giới xung
quanh giờ đây không chỉ là việc tìm tòi khám khá mà còn là việc bào tồn lưu trữ
lại những giá trị của cuộc sống. Thưc vật có ý nghĩa vô cùng to lớn với con
người trên trái đất, nó là nền tảng của đa dạng sinh học, đa dạng nông nghiệp,
bảo đảm cho phát triển bền vững. Vì thế nhận biết và bảo tồn các loài thực vật
ngày càng trở nên quan trọng hơn cũng như việc học tập nghiên cứu về thực vật
ngày càng giữ một vị thế quan trọng trong sự phát triển của khoa học.
Việc thu thập mẫu vật và lưu trữ trong các phòng tiêu bản là một việc hết
sức quan trọng vì nó sẽ giúp xác định các loài thực vật mới, thực hiện bản kiểm
kê thực vật trong một khu vực hay trong một phạm vi nhất định.
Phòng mẫu cây khô là nơi lưu trữ các vật mẫu cây của một vùng nào đó
hay của nhiều vùng khác nhau trên Trái đất để minh chứng cho sự giàu có nguồn
tài nguyên thực vật, là cơ sở đẻ nghiên cứu, học tập cũng như để giói thiệu cho
các thế hệ mai sau, là nơi bảo lưu giá trị của tất cả các tên bởi vì nếu mẫu chuẩn
mất đi thì tên cây đó không còn giá trị nữa.
Các loài thực vật hiện nay được các nhà khoa học thu thập và bảo quản
lưu trữ trong các phòng tiêu bản là nguồn tư liệu vô cùng quan trọng mà mỗi nhà
nghiên cứu cũng như người học tập về thực vật rất cần thiết.
Họ Bồ hòn (Sapindaceae Juss.) có khoảng140 chi với hơn 1450 loài, phân
phối hầu hết các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới. Ở Việt Nam họ
này có khoảng 25 chi, gần 70 loài, phân bố rải rác khắp cả nước. Hầu hết các
loài trong họ là cây gỗ hoặc cây bụi, một số cây ăn quả nổi tiếng, nhiều loài
chứa những chất quan trọng … Chính vì vậy, bên cạnh những giá trị về khoa
học, họ này còn có giá trị lớn về kinh tế.
Chính vì thế tôi lựa chọn đề tài thực tập “Quy trình thu thập, bảo quản và
quán lý mẫu vật thuộc họ Bồ hòn (Sapindaeae Juss.) tại phòng tiêu bản thực vật,

của thế giới được công bố trong “Index Herbarium” do Holmgren và Keuken
(1974) biên soạn. Mỗi phong có kíiệu riêng ví dụ P – kí hiệu Bảo tàng lịch sử tự
nhiên Pari (Pháp), K – Phòng mẫu ở Vườn thực vậ Hoàng gia Kiu (Anh), HN-
Bảo tàng Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, thuộc Viện Khoa học và Công
nghệ Việt Nam, Hà Nội.
Họ Bồ hòn (Sapindaceae) được nghiên cứu trong nhiều tài liệu và trong
các nghiên cứu đã có nhiều hệ thống phân loại khác nhau đề cập đến vị trí họ Bồ
hòn (Sapindaceae) trong bộ Bồ hòn thuộc ngành Mộc lan. Do đó, số lượng và vị
trí của họ cũng thay đổi theo từng hệ thống. Trong phạm vi nghiên cứu của báo
Phạm Thị Mai Hương K33C – Sinh
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 Trang 2
BÁO CÁO THỰC TẬP
cáo thực tập tôi dựa vào hệ thống của Takhtajan (1997) để xác định mẫu cũng như số
lượng các mẫu trong họ. Trên cơ sở hệ thống này, họ Bồ hòn được xếp vào bộ Bồ hòn
(Sapindales Dumortier), phân lớp Hoa hồng (Rosidae Takhtajan), lớp Mộc
lan(Magnoliopsida Brongniart) hay còn gọi là Dicotyledones – Hai lá mầm) ngành Mộc lan
(Magnoliophyta Cronquirt, Takhtajan et W. Zimmermann).
PHẦN III: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu:
Nắm được quy trình thu thập, bảo quản và quản lý mẫu thuộc họ Bồ hòn
(Sapindaceae) tại phòng tiêu bản thực vật, viện sinh thái và tài nguyên sinh vật
Hà Nội.
3.2 Đối tượng:
Các loài thuộc họ Bồ hòn (Sapindaceae) ở Việt Nam được lưu trữ tại
phòng tiêu bản thực vật, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Hà Nội)
3.3 Phương pháp:
Phương pháp được tuân theo quá trình xử lý và quản lý tiêu bản của Viện
Sinh thái và Tài nguyên sinh vật. Đông thời kết hợp với phương pháp đã được
công bố của Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997, 2004.

ghi chép riêng, dây buộc, kéo cắt cành, nhãn, kim chỉ, bút chì (2B), cồn, giấy
báo.
Nguyên tắc thu mẫu:
- Mỗi mẫu phải có đầy đủ các bộ phận, nhất là: cành, lá, hoa và cả quả
càng tốt (đối với cây lớn) hay cả cây đối với cây thân thảo.
- Mỗi cây thu từ 3 – 5 mẫu, còn mẫu cây thân thảo thì tìm các mẫu giống
nhau và cũng thu với số lượng trên để vừa nghiên cứu các biến dạng của loài,
vừa để trao đổi.
Phạm Thị Mai Hương K33C – Sinh
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 Trang 4
BÁO CÁO THỰC TẬP
- Các mẫu thu trên cùng một cây thì cùng đánh một số hiệu mẫu. Có hai
cách đánh số phổ biến hiện nay: đánh từ 1 trở đi kể từ khi thu mẫu đầu tiên cho
đến hết sự nghiệp làm nghiên cứu khoa học hoặc đánh số theo năm tháng không
phụ thuộc vào các đợt thu mẫu trước đó. Ví dụ: đợt nghiên cứu vào tháng 9 năm
2006, đánh số 069 là gốc và sau đó lần lượt ghi tiếp từ số 1 trở đi. Cách này tiện
lợi là không cần phải nhớ số trước đó mà thu đợt nào đánh số đợt đó và qua số
đó có thể nhận biết được thời gian thu mẫu nhưng có nhược điểm là không thể
biết cả cuộc đời của nhà thực vật đã thu được bao nhiêu mẫu.
- Khi thu phải ghi chép ngay những đặc điểm dễ nhận biết ngoài thiên
nhiên như đặc điểm vỏ cây, kích thước cây, nhất là các đặc điểm dễ mất sau khi
khô như màu sắc của hoa, quả, mùi vị,…; phân bố, toạ độ, sinh thái, giá trị sử
dụng,… vào sổ lý lịch tiêu bản và ghi các thông tin tóm tắt (nơi thu, người thu,
ngày thu, số hiệu mẫu, các thông tin khác) vào phiếu etiket. Trong quá trình thu
mẫu, nên chụp ảnh toàn bộ cây và mẫu vật.
- Sau khi thu mẫu, mẫu được cắt tỉa sao cho kích thước tối đa cỡ 40 x 30
cm (các vật đi kèm để bảo quản mẫu như kẹp, tủ sấy, tủ bảo quản,… đều tuân
theo kích thước này). Sau khi cắt tỉa, mẫu được đeo etikét.
- Thu và ghi chép xong cho vào cặp thu mẫu hoặc túi polyetylen to mang
về nhà mới làm mẫu. Việc cho vào túi polyetylen có lợi là gọn nhẹ, không bị va

Đối với các cây sống nhờ, sống bám, cây hoại sinh (nấm, địa y, phong
lan, tầm gửi …) ta dùng dao nhỏ hay cưa cắt lấy cả một phần cảu cây chủ. Mặt
khác, cũng cần lấy cả cây chủ để phục vụ cho việc nghiên cứu khi cần thiết.
Thu mẫu các loài cây có giá trị kinh tế
Đối với các loài cây có giá trị kinh tế cao như cây làm thuốc, cây cho tinh
dầu, cho nhựa, cho gỗ quý… thì ngoài phần thu mẫu bình thường như các loài
Phạm Thị Mai Hương K33C – Sinh
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 Trang 6
BÁO CÁO THỰC TẬP
cây khác, cần bổ sung các bộ phận có công dụng đặc biệt để sau đó đủ nguyên
liệu phân tích các thành phần hóa học hoặc tính chất cơ lý của cây.
4.2. Xử lý trong Phòng tiêu bản
Sau một ngày thu mẫu cần đeo nhãn cho mỗi mẫu. Trên mỗi nhãn cần ghi
chép:
- Số hiệu mẫu.
- Địa điểm và nơi lấy (tỉnh, huyện, xã, mọc ven suối, thung lũng, sườn hay
đỉnh núi hoặc đồi,…).
- Ngày lấy mẫu.
- Đặc điểm quan trọng: cây gỗ hay dây leo, độ cao, màu sắc lá, hoa, quả,
lông, gai, mùi vị,…
- Người lấy mẫu.
Khi ghi phải dùng bút chì mềm, tuyệt đối không dùng bút bi, bút mực để
tránh bị mất khi ngâm tẩm về sau.
Nhãn có thể chỉ ghi số hiệu mẫu của tác giả còn các thông tin khác sẽ ghi
vào sổ riêng hoặc ghi phiếu mô tả.
Sau khi đã đeo nhãn, các mẫu cần được xử lý. Sử dụng hai phương pháp
xử lý mẫu sau:
4.2.1. Xử lý khô
Mỗi mẫu được đặt gọn trong một tờ báo cỡ lớn gập bốn với kích thước 30
x 40 cm, vuốt ngay ngắn nhưng chú ý trên mỗi mẫu phải có có lá sấp, lá ngửa để

tiếng Việt
Phạm Thị Mai Hương K33C – Sinh
Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 Trang 8
BÁO CÁO THỰC TẬP
• Số hiệu mẫu (No):
• Tên phổ thông (Common name):
• Tên Khoa học (Scientific name):
• Tên họ (Family name):
• Người thu mẫu (Leg. = Legit):
• Ngày thu mẫu:
• Địa điểm thu mẫu:
Ngoài ra một số nhãn khác thường bé hơn độ 3 x 10cm được dán kèm
theo ở phía trên hay bên cạnh ghi những thay đổi do các chuyên gia viết về sau,
khi kiểm tra mẫu, có thể sửa đổi tên khoa học cho cập nhật hoặc thay lại tên
khoa học cũ bằng một tên mới sau khi kiểm tra lại đã có sẵn trong đó ghi cả họ
và tên người kiểm tra và ngày kiểm tra. Nếu mẫu đã có tên đúng thì chuyên gia
kiểm tra cần dán thêm một nhãn con ghi đủ tên và ngày tháng và ở giữa ghi dấu
“!” để khẳng định tên trong mẫu là đúng. Trên bìa mẫu cũng có những nhãn chỉ
ra người đã lấy hạt phấn hay các bộ phận khác để nghiên cứu tế bào hay sinh
hóa.
- Trình bày mẫu
Trình bày mẫu là một quá trình gắn mẫu và nhãn vào tờ bìa. Hầu hết các
bìa mẫu của các nước Bắc Mỹ có kích thước 29 x 41cm. Ở Việt Nam thường
dùng kích thước 28 x 42 cm. Bìa mẫu là những giấy Crôki (Croquis) dày, đanh
và cứng. Chất lượng giấy tùy thuộc vào mục đích sử dụng. Đối với phòng mẫu
cây khô giấy cần 100% chất xơ để đảm bảo độ cứng, còn để học tập chất lượng
giấy thấp hơn. Giấy cần phải cứng khó gấp để đỡ hỏng mẫu nhất là khi chuyền
tay nhau.
Để đính mẫu vào bìa mẫu có nhiều cách khác nhau. Ở Việt Nam theo
truyền thống dùng chỉ để khâu các bộ phận đính chặt lên bìa mẫu. Vì điều kiện

Trường đại học sư phạm Hà Nội 2 Trang 10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status