CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG TIỀN THƯỞNG TRONG CÁC DOANH NGHIỆP HIỆN NAY - Pdf 67

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÔNG
TÁC QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG TIỀN THƯỞNG TRONG CÁC
DOANH NGHIỆP HIỆN NAY
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ TIỀN LƯƠNG, TIỀN
THƯỞNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ
TRƯỜNG
I.1. Khái niệm và cơ cấu của thù lao lao động trong doanh nghiệp
1. Khái niệm thù lao lao động:
Thù lao lao động theo nghĩa rộng: Đó là các khoản thu về quyền lợi vật chất và tinh
thần mà người lao động được hưởng để bù đắp lại sức lao động mà họ đã hao phí.
Thù lao lao động theo nghĩa hẹp: Là tất cả các khoản thu mà người lao động nhận
được thông qua quan hệ thuê mướn giữa người lao động và người sử dụng lao động.
2. Cơ cấu của thù lao lao động:
2.1 Cơ cấu của thù lao lao động theo nghĩa rộng:
Theo nghĩa rộng thì thù lao động được chia làm 2 bộ phận sau:
a) Các khoản thù lao có tính chất tài chính- vật chất: bao gồm
 Các khoản thù lao trực tiếp như: Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp, tiền
thưởng…
 Các khoản thù lao gián tiếp như: BHXH,BHYT, các khoản phúc lợi và dịch vụ …
b) Các khoản thù lao có tính chất phi tài chính- phi vật chất. Bao gồm:
 Các yếu tố thuộc về bản thân công việc: Như là công việc đó có hấp dẫn không
có đòi hỏi sự nỗ lực phấn đấu không, người lao động cảm thấy trách nhiệm và
cảm giác hoàn thành nhiệm vụ, cơ hội thăng tiến, sự đánh giá của cấp trên và
đồng nghiệp…
 Môi trường công việc: Như các chính sách của tổ chức, thời gian làm việc linh
hoạt, bầu không khí làm việc tốt đẹp …
2.2 Cơ cấu thù lao lao động theo nghĩa hẹp: Được chia làm 3 loại sau
a) Thù lao cơ bản: Là phần thù lao cố định (phần cứng) mà người lao động nhận
được một cách thường kỳ dưới dạng tiền công hay tiền lương. Phần thù lao này được
trả trên cơ sở của loại công việc cụ thể, mức độ thực hiện công việc và thâm niên của
người lao động

Thứ hai: tiền lương là bộ phận cơ bản (hoặc duy nhất) trong thu nhập của người
lao động, đồng thời là một trong các yếu tố chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp.
Thứ ba: Nghiên cứu tiền lương cho ta thấy tiền lương mang bản chất kinh tế- xã
hội. Bản chất kinh tế của tiền lương đòi hỏi ta phải tính toán vì nó là thước đo giá trị, là
một yếu tố chi phí đầu vào của sản xuất kinh doanh. Bên cạnh đó do tính chất đặc biệt
của hàng hoá sức lao động mà tiền lương không chỉ đơn thuần mang bản chất kinh tế
mà còn là một vấn đề xã hội rất quan trọng, liên quan đến đời sống và trật tự xã hội, do
đó nó phải được nhà nước can thiệp vào để đảm bảo đúng pháp luật
Tóm lại, bản chất của tiền lương đối với người lao động đó là số tiền nhận được
sau khi đã hoàn thành công việc phù hợp với số lượng và chất lượng lao động quy định
thoả thuận trước. Đối với người sử dụng lao động(doanh nghiệp, nhà nước) thì bản chất
của tiền lương đó là một yếu tố đầu vào của chi phí sản xuất kinh doanh. Tiền lương
phụ thuộc vào chế độ, chính sách phân phối, các hình thức trả lương của doanh nghiệp
và sự điều tiết bằng các chính sách của nhà nước
3.2 Phân biệt tiền lương với tiền công:
Ngoài khái niệm về tiền lương ở trên ta đi tìm hiểu và phân biệt giữa tiền lương
với tiền công. Tiền công thực chất chỉ là một biểu hiện, một tên gọi khác của tiền lương.
Trong đó, tiền lương- tiền công là các khoản biểu hiện của phần thù lao cơ bản mà
người lao động nhận được thông qua mối quan hệ thuê mướn lao động giữa họ với
người sử dụng lao động.Cụ thể là:
Tiền lương(Salary): Là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động
một cách cố định và thường xuyên theo một đơn vị thời gian(tuần, tháng, quý, năm),
dụa trên cơ sở loại công việc cụ thể, mức độ thực hiện công việc, trình độ và thâm niên
cong tác của người lao động. Tiền lương thường áp dụng đối với lao động quản lý, cán
bộ lãnh đạo, cán bộ chuyên môn kỹ thuật.
Tiền công(Wages): Là số tiền mà người sử dụng lao động trả cho người lao động
tuỳ thuộc vào số lượng(số giờ làm việc thực tế, khối lượng sản phẩm sản xuất ra, khối
lượng công việc hoàn thành) và chất lượng mà công việc mà người lao động hoàn
thành.Tiền công thường áp dụng đối với công nhân trực tiếp sản xuất hay nhân viên bảo

động đã được sử dụng trong quá trình sản xuất. Tuy nhiên, khi người lao động nhận
được tiền lương thoả đáng sẽ là động lực kích thích năng lực sáng tạo để làm tăng năng
suất lao động, khi mà năng suất lao động tăng lên thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ
tăng lên và do đó nguồn phúc lợi của doanh nghiệp mà người lao động nhận lại sẽ tăng
lên, nó làm bổ sung thêm cho tiền lương, làm tăng thu nhập và tăng lợi ích của người
lao động. Hơn nữa, khi lợi ích của người lao động được đảm bảo bằng mức lương thoả
đáng, nó tạo ra sự gắn kết tập thể người lao động vì mục tiêu, lợi ích của doanh nghiệp,
tạo ra cho người lao động một sự tự giác, trách nhiệm hơn đối với hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp và do đó sẽ hoàn thành tốt chức năng nhiệm vụ của mình
ứng với mỗi vị trí công việc mà họ đảm nhận…Mặt khác, cũng thông qua tiền lương
doanh nghiệp có thể tiến hành kiểm tra, theo dõi, giám sát người lao động làm việc theo
ý đồ của mình, đảm bảo đạt được mục tiêu của doanh nghiệp đặt ra với chi phí hợp lý,
tối ưu…
3.4 Các chức năng cơ bản của tiền lương
Để tiền lương phát huy tốt vai trò của mình thì yêu cầu đặt ra là phải làm cho tiền
lương thực hiẹen đầy đủ các chức năng của nó.Cụ thể là bao gồm 5 chức năng cơ bản
sau:
a) Thứ nhất: Chức năng thước đo giá trị(sức lao động). Đây là chức năng cơ bản,
nó phù hợp với quy luật giá trị. Vì tiền lương phản ánh sức lao động đã hao phí, nó là
giá cả sức lao động trong thị trường hàng hoá sức lao động. Nên theo quy luật giá trị nó
phải đảm bảo đúng quy luật đó. Thực hiện chức năng này để làm cơ sở cho việc điều
chỉnh giá cả(bao gồm cả sức lao động) biến động.
b) Thứ hai: Chức năng tái sản xuất sức lao động.
Thực hiện chức năng này của tiền lương nhằm duy trì năng lực làm việc lâu dài,
có hiệu quả trên cơ sở tiền lương đảm bảo bù đắp được sức lao động đã hao phí của
người lao động.
c) Thứ ba: Chức năng kích thích
Thực hiện chức năng này nghĩa là phải đảm bảo là khi người lao động làm việc có
hiệu quả, có năng suất lao động cao thì về mặt nguyên tắc tiền lương phải được nâng
lên và ngược lại. Để thực hiện được chức năng này đòi hỏi phải thực hiện tốt hai chức

Tiền thưởng thực chất là khoản tiền bổ xung cho tiền lương, nhằm quán triệt hơn
nguyên tắc phân phối theo lao động và nhằm khuyến khích người lao động trong việc
nâng cao năng suất, cải tiền nâng cao chất lượng sản phẩm và tiết kiệm nguyên vật liệu
trong quá trình sản xuất
Tiền thưởng là một trong khững biện pháp khuyến khích vật chất rất lớn đối với
người lao động trong quá trình sản xuất, qua đó nâng cao năng suất lao động, chất
lượng sản phẩm và rút ngắn thời gian làm việc. Ta cũng biết rằng về mặt nguyên tắc thì
tiền lương phải trả đúng giá cả sức lao động đã hao phí, nhưng đó mới là mức hao phí
sức lao động trung bình, phần vượt hơn mức hao phí sức lao động trung bình là do tiền
thưởng bù đắp. Do đó tiền thưởng là khoản bổ xung cho tiền lương nhằm quán triệt hơn
nữa nguyên tắc phân phối theo lao động, trả đúng giá trị sức lao động đã hao phí
4.2 ý nghĩa của tiền thưởng:
Chúng ta biết rằng tiền thưởng là phần tiền mà người sử dụng lao động trả cho
người lao động khi họ hoàn thành tốt một công việc hay có các thành tích, hay sáng
kiến làm tăng năng suất lao động, chất lượng sản phẩm… Bên cạnh số tiền mà người
lao động nhận được đó về mặt vật chất nó còn có ý nghĩa cả về mặt tinh thần, vì họ cảm
thấy công việc của mình được người khác công nhận và đánh giá. Điều này càng thúc
đẩy người lao động tích cực hơn trong công việc mà không phải chỉ vì tiền mà còn là
địa vị, niềm đam mê trong công việc hay sự thoả mãn về công việc của mình làm. Đồng
thời tiền thưởng còn là một cong cụ để doanh nghiệp quản lý tốt hơn tiền lương và hiệu
quả sản xuất kinh doanh của mình mà vẫn kích thích được người lao động.
I.2 Hệ thống trả công và trình tự xây dựng hệ thông trả công lao động
trong doanh nghiệp
Trong điều kiện của nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ỏ Việt Nam hiện nay
thì công tác trả công lao động được thực hiện cụ thể khác nhau ở từng thành phần kinh
tế (hệ thông doanh nghiệp nhà nước, các doanh nghiệp ngoài quốc doanh) và khu vực
kinh tế(hành chính- sự nghiệp và các doanh nghiệp). Trongđó, ở khu vực hành chính sự
nghiệp(khu vực do nhà nước trả lương) người lao động được trả lương theo cơ chế
chính sách của nhà nước. Còn trong khu vực kinh tế của nhà nước, các doanh nghiệp
nhà nước vận dụng hệ thống thang bảng lương này để trả lương cho người lao động.

với các bậc lương đó.
 Mức lương: Là lượng tiền lương để trả công cho người lao động trong một đơn
vị thời gian(giờ, ngày, tháng) phù hợp với các bậc trong thang lương. Thông
thường, Nhà nước chỉ quy định mức lương bậc một hay mức lương tối thiểu,
còn các mức lương của các bậc khác trong thang lương được tính bằng cách lấy
mức lương bậc một hay mức lương tối thiểu nhân với hệ số lương của các bậc
khác tương ứng.
 Tiêu chuẩn cấp bậc kỹ thuật: Là văn bản quy định về mức độ phức tạp của
công việc và yêu cầu về trình độ lành nghề của công nhân ở bậc nào đó Phải cố
sự hiểu biết nhất định về mặt kiến thức lý thuyết và phải làm được những công
việc nhất định trong thực hành.
1.2. Chế độ tiền lương chức vụ:
Là toàn bộ những quy định của nhà nước mà các tổ chức quản lý nhà nước, các tổ
chức kinh tế – xã hội và các doanh nghiệp áp dung để trả lương cho lao động quản lý.
Chế độ tiền lương chức vụ được thể hiện thông qua bang lương chức vụ do nhà nước
quy định. Bảng lương chức vụ gồm các nhóm chức vụ khác nhau, bậc lương, hệ số
lương và mức lương cơ bản.
2. Hệ thống trả công của các doanh nghiệp.
2.1 yêu cầu để xây dựng hệ thống trả công của các doanh nghiệp:
 Tuân thủ các yêu cầu pháp luật về mặt tiền lương như: Tiền lương tối thiểu,
thời gian làm việc, điều kiện lao động …
 Phản ánh được năng lực và sự đóng góp của mỗi người.
 Trong cơ cấu của tiền lương nên có phần cứng(ổn định) và phần mềm (linh
động) để có thể dễ dàng điều chỉnh khi cố sự thay đổi của các yếu tố liên quan
đến trả công lao động.
 Cách tính đơn giản dễ hiểu, rõ ràng để mọi người đề hiểu và kiểm tra được tiền
lương của mình
2.2 Trình tự xây dựng hệ thống trả công lao động trong doanh nghiệp:
Bao gồm 6 bước sau:
a) Bước 1: Xem xét mức lương tối thiểu của nhà nước ban hành cho từng khu vực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status