LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG - Pdf 67

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN TIỀN LƯƠNG VÀ CÁC
KHOẢN TRÍCH THEO LƯƠNG
I-/ VAI TRÒ CỦA LAO ĐỘNG VÀ CHI PHÍ VỀ LAO ĐỘNG SỐNG TRONG HOẠT ĐỘNG
SẢN XUẤT.
Lao động là một trong ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất và là yếu tố
quyết định nhất. Chi phí về lao động là một trong các yếu tố chi phí cơ bản cấu
thành nên giá trị sản phẩm do đơn vị sản xuất ra. Sử dụng hợp lý lao động trong
quá trình sản xuất là tiết kiệm chi phí về lao động sống. Do đó góp phần làm hạ
thấp giá thành sản phẩm, tăng thêm thu nhập cho đơn vị và là điều kiện cải thiện,
nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho công nhân viên, người lao động trong
Viện.
Tiền lương là phần thù lao lao động để tái sản xuất sức lao động, bù đắp
hao phí lao động của công nhân viên, người lao động đã bỏ ra trong quá trình
sản xuất. Tiền lương gắn liền với thời gian và kết quả lao động mà công nhân
viên, người lao động đã thực hiện. Do đó tiền lương là một yếu tố quan trọng
kích thích vật chất đối với người lao động trong việc phấn đấu và hoàn thành
nhiệm vụ được giao và tăng năng suất lao động.
Ngoài tiền lương để đảm bảo tái tạo sức lao động và cuộc sống lâu dài
của người lao động, theo chế độ tài chính hiện hành. Viện còn phải trích vào chi
phí hoạt động một bộ phận chi phí gồm các khoản trích BHXH, BHYT và kinh
phí công đoàn (KPCĐ), BHXH được trích lập để tài trợ cho trường hợp công
nhân viên tạm thời hay vĩnh viễn mất sức lao động như ốm đau, thai sản, tai
nạn lao động, mất sức, nghỉ hưu....
BHYT để tài trợ cho việc phòng chữa bệnh, chăm sóc và bảo vệ quyền lợi
của người lao động. KPCĐ chủ yếu để cho hoạt động tổ chức của giới lao động
chăm sóc, bảo vệ quyền lợi của người lao động.
Cùng với tiền lương, các khoản trích lập quỹ nói trên hợp thành khoản chi
phí về lao động sống trong giá thành sản phẩm. Việc tính toán chi phí về lao
động sống phải trên cơ sở quản lý và theo dõi quá trình huy động, sử dụng lao
động trong sản xuất kinh doanh, ngược lại việc tính đúng thù lao lao động
thanh toán đầy đủ kịp thời tiền lương và các khoản liên quan cho người lao

nghiệp hoặc các nhân viên thuộc các ngành hoạt động không có tính chất sản
xuất hoặc các nhân viên gián tiếp ở các đơn vị sản xuất như: Nhân viên QLXN,
QLPX... Những nhân viên này không có điều kiện xác định được khối lượng
công việc hoàn thành, lương thời gian có 2 loại đó là: Lương thời gian giản
đơn và lương thời gian có thưởng.
- Hình thức lương thời gian giản đơn: Doanh nghiệp trả CNV theo mức
lương và thời gian làm việc của họ.
= +
Các khoản phụ cấp khác có thể là phụ cấp trách nhiệm, độc hại, phụ cấp
khu vực. Tuỳ thuộc vào từng đặc điểm sản xuất kinh doanh của mỗi doanh
nghiệp mà tính các loại phụ cấp phù hợp theo quy định của nhà nước.
=
Lương ngày thường được áp dụng để tính lương trong những ngày hội
họp, học tập hoặc làm nhiệm vụ khác hoặc để trả lương cho người lao động
làm theo hợp đồng.
=
Lương giờ áp dụng cho những công việc mang lại kết quả trong khoảng
thời gian ngắn và đòi hỏi chất lượng cao.
Nhìn chung hình thức tiền lương này đơn giản, dễ theo dõi nhưng lại
không khuyến khích được người lao động có trình độ tay nghề, chưa phát huy
hết khả năng tiềm tàng của họ.
- Hình thức lương thời gian có thưởng.
= + Tiền thưởng
Đây là tiền lương mà doanh nghiệp phải trả cho CNV căn cứ vào mức
lương và thời gian làm việc có kết hợp khen thưởng khi đạt và vượt mức các
chỉ tiêu đã quy định như: Tiết kiệm thời gian lao động, tiết kiệm nguyên vật
liệu, tăng năng xuất lao động, đảm bảo nhu cầu sản xuất... Hình thức trả lương
này là một trong những biện pháp kích thích vật chất đối với người lao động,
tạo cho họ gắn bó với công việc.
Việc tính trả lương theo thời gian chưa đảm bảo đầy đủ nguyên tắc phân

phẩm tốt, thưởng về tăng năng suất lao động, thưởng về tiết kiệm vật tư... Và
phạt trong những trường hợp người lao động làm ra những sản phẩm hỏng hao
phí vật tư, không đảm bảo đúng ngày công quy định không hoàn thành kế hoạch
được giao...
Theo hình thức này tiền lương của người lao động được tính:
= + -
- Trả lương theo sản phẩm luỹ tiến.
Tiền lương trả theo hình thức này gồm 2phần:
+ Phần thứ nhất, căn cứ vào mức độ hoàn thành định mức lao động tính
ra tiền lương trả theo sản phẩm trong định mức.
+ Phần thứ hai, căn cứ vào mức độ vượt định mức tính ra tiền lương phải
trả cho người lao động theo tỷ lệ luỹ tiến. Tỷ lệ hoàn thành vượt định mức
càng cao thì hiệu xuất luỹ tiến càng nhiều.
Hình thức trả lương này có tác dụng khuyến khích nâng cao năng xuất lao
động và thường được áp dụng đối với những nơi sản xuất còn chậm, nhằm
tăng sản lượng sản phẩm đó.
c. Hình thức tiền lương khoán.
Hình thức này áp dụng đối với những công việc nếu giao cho từng chi tiết,
từng bộ phận sẽ không có lợi mà phải giao toàn bộ khối lượng công việc cho cả
nhóm hoàn thành trong một thời gian nhất định.
Trả lương khoán gọn theo sản phẩm cuối cùng là hình thức trả lương theo
sản phẩm nhưng tiền lương được tính theo đơn giá tập hợp cho sản phẩm hoàn
thành đến công việc cuối cùng. Hình thức này áp dụng cho những doanh nghiệp
mà quá trình sản xuất trải qua nhiều giai đoạn công nghệ nhằm khuyến khích
người lao động quan tâm đến chất lượng sản phẩm. Song tuỳ vào từng doanh
nghiệp mà vận dụng cách tính chia lương phù hợp là chia theo thời gian làm
việc, cấp bậc kỹ thuật kết hợp với bình điểm hoặc là phân loại A,B,C... Trong đó,
các ngành thương nghiệp dịch vụ có thể chia lương theo khoán tỷ lệ doanh thu
bán hàng.
* Các thủ tục, chứng từ thanh toán.

- Tiền lương trả cho người lao động trong thời gian ngừng sản xuất do
nguyên nhân khách quan, trong thời gian được điều động công tác làm nghĩa
vụ theo chế độ quy định, thời gian nghỉ phép, thời gian đi học,...
- Các loại phụ cấp làm đêm, thêm giờ,...
- Các khoản tiền lương có tính chất thường xuyên.
Ngoài ra trong quỹ tiền lương kế hoạch còn được tính cả các khoản tiền
chi trợ cấp BHXH cho CNV trong thời gian ốm đau, thai sản, tai nạn lao động,...
Về phương tiện hạch toán, tiền lương CNV trong doanh nghiệp được chia
làm 2 loại:
Tiền lương chính: là tiền lương trả cho CNV trong thời gian CNV thực
hiện nhiệm vụ chính của họ, bao gồm: tiền lương trả theo cấp bậc và các khoản
phụ kèm theo như phụ cấp trách nhiệm, phụ cấp khu vực,...
Tiền lương phụ: là tiền lương trả cho CNV trong thời gian CNV thực hiện
nhiệm vụ khác ngoài nhiệm vụ chính của họ, và thời gian CNV nghỉ được
hưởng lương theo quy định của chế độ như: nghỉ phép, nghỉ vì ngừng sản xuất.
Cách phân loại như trên có ý nghĩa quan trọng đối với công tác kế toán và
phân tích tiền lương trong giá thành sản phẩm.
Tiền lương chính của công nhân sản xuất gắn liền với quá trình sản xuất
và được hạch toán trực tiếp vào chi phí sản xuất từng loại sản phẩm, tiền
lương phụ của công nhân sản xuất không gắn liền với từng loại sản phẩm, nên
được hạch toán gián tiếp vào chi phí sản xuất sản phẩm.
3-/ Quỹ BHXH, BHYT, và KPCĐ.
a. Quỹ BHXH.
Quỹ BHXH được hình thành do việc trích lập và tính vào chi phí sản xuất
của doanh nghiệp, khoản chi phí BHXH theo quy định của Nhà nước. Theo chế
độ quy định, việc trích lập quỹ BHXH được thực hiện hàng tháng theo tỷ lệ quy
định trên tổng số tiền lương thực tế phải trả cho CNV trong tháng.
Quỹ BHXH được thiết lập để tạo ra nguồn còn để tài trợ cho CNV trong
trường hợp ốm đau, thai sản, nghỉ hưu,...
Quỹ BHXH được phân cấp quản lý sử dụng. Một bộ phận được nộp lên cơ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status