BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
TP. HỒ CHÍ MINH --------o0o---------
HUỲNH TRÂN
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh - Năm 2019
b
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ
CHÍ MINH --------o0o---------
HUỲNH TRÂN
NHỮNG YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng (Hướng nghiên cứu)
Mã số : 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC :
PGS.TS. Nguyễn Thị Ngọc Trang
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ........................................................................................................ 1
1.1 Tên đề tài ..................................................................................................................... 1
1.2
Lý do chọn đề tài ........................................................................................................ 1
1.3
Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................................... 2
1.4
Câu hỏi nghiên cứu .................................................................................................... 2
1.5
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................................. 2
1.6
Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................... 2
1.7
Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu ............................................................................. 3
1.8
Kết cấu luận văn ......................................................................................................... 3
iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết Tắt
Diễn Giải
NHTM
Ngân hàng thương mại
EA
Tỷ lệ vốn chủ sở hữu
Loan
Tốc độ tăng trưởng tín dụng
NPL
Tỷ lệ nợ xấu
NPLt-1
Tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ
ROE
REM
Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effect)
FEM
Mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effect)
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng
Diễn Giải
Bảng 4.1
Tóm tắt các giả thiết và kỳ vọng
Bảng 4.2
Kết quả thống kê mô tả
Bảng 4.3
Ma trận tương quan giữa các biến
Bảng 4.4
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ
Biểu đồ 3.1
Diễn giải
Tỷ lệ nợ xấu trung bình của 26 NHTM Việt Nam giai
đoạn 2009-2018
Biểu đồ 3.2
Mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ xấu quá khứ và tỷ lệ nợ xấu
hiện tại của 26 NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2018
Biểu đồ 3.3
Mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu và tỷ
lệ nợ xấu của 26 NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2018
Biểu đồ 3.4
Mối quan hệ giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu và tỷ lệ nợ xấu
của 26 NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2018
Biểu đồ 3.5
Mối quan hệ giữa tốc độ tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ nợ
xấu của 26 NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2018
Biểu đồ 3.6
TÓM TẮT
Bài luận văn này nghiên cứu về đề tài « Những yếu tố tác động đến nợ xấu
của ngân hàng thương mại Việt Nam » trong khoảng 10 năm từ 2009-2018. Tác giả
sử dụng kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng, chạy mô hình hồi quy đa biến theo POOLED
OLS, REM (Random Effect Model), FEM (Fixed Effect Model). Kết quả nghiên
cứu đã chỉ ra rằng có chín yếu tố thật sự tác động đến tỷ lệ nợ xấu đó là thị phần tín
dụng (MP), tỷ lệ nợ phải trả trên thu nhập (TLI), tỷ lệ thất nhiệp (UNL), tỷ lệ nợ xấu
trong quá khứ (NPLt-1), tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE), Tốc độ tăng
trưởng GDP hàng năm, tốc độ tăng trưởng tín dụng (Loan), tỷ lệ dự trữ tài sản (RR),
lãi suất huy động (DR), đồng thời cũng như cho biết mức độ và chiều hướng tác
động của chúng. Đặt biệt, tác động mạnh nhất đến tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng
thương mại Việt Nam là yếu tố tỷ lệ thất nghiệp (UNL) và tốc độ tăng trưởng GDP
hàng năm. Từ khóa : Nợ xấu, yếu tố vĩ mô, yếu tố vi mô, ngân hàng.
ABSTRACT
This paper examines the factors affecting non-performing loans of Vietnam's
commercial Banks from 2009 to 2018. Using Pooled OLS, Fixed Effects Model and
Random Effects Model estimate for panel data. The empirical results indicate that
six factors negatively or positively impact on the non-performing loans, such as :
market power (MP), total liabilities to income (TLI), unemployment rate (UNL),
past non-performing loans (NPLt-1), return on equity (ROE), economic growth
(GDP), credit growth (Loan), reserve ratio (RR), deposits rate (DR). Particularly,
unemployment rate and economic growth have significant effects on the nonperforming loans of the commercial banking system in vietnam.
Keywords : Non-performing loans, micro determinants, macro determinants, bank.
1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
1.1 Tên đề tài
thế nữa khi nợ xấu quá cao có thể dẫn đến ngân hàng bị phá sản, xảy ra hiệu ứng
domino trong hệ thống ngân hàng, sẽ làm tê liệt toàn bộ nền kinh tế. Vì vậy, việc
nghiên cứu về nợ xấu ngân hàng là rất cần thiết và đó cũng là lý do mà tác giả chọn
đề tài : « Những yếu tố tác động đến nợ xấu của ngân hàng thương mại Việt Nam »
làm đề tài nghiên cứu của mình.
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định chiều hướng tác động của những yếu tố vi mô và vĩ mô đến nợ
xấu của các ngân hàng thương mại Việt Nam.
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Các yếu tố vi mô và vĩ mô tác động thế nào đến nợ xấu ?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.5.1. Đối tượng nghiên cứu
Nợ xấu và các yếu tố vi mô, vĩ mô tác động đến nợ xấu của ngân hàng
thương mại Việt Nam.
1.5.2. Phạm vi nghiên cứu
Ở các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam, ngoại trừ các NHTM
100% vốn nước ngoài và ngân hàng liên doanh. Theo trang web Ngân Hàng Nhà
Nước Việt Nam thì tính đến 30/6/2019 có khoảng 4 NHTM nhà nước và 31
NHTMCP. Tuy nhiên, có một số ngân hàng không đủ số liệu nên nghiên cứu này lấy
mẫu gồm 26 NHTM Việt Nam và sẽ được liệt kê ở phần phụ lục.
Dữ liệu được thu thập trong khoảng 10 năm, từ năm 2009 tới năm 2018.
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Gồm phương pháp định tính và phương pháp định lượng.
- Phương pháp định tính là thu thập thông tin từ những nghiên cứu trước
đây để đưa ra dự đoán về các yếu tố và chiều hướng tác động đến nợ xấu.
- Phương pháp định lượng là sử dụng kỹ thuật hồi quy dữ liệu bảng. Chạy
mô hình hồi quy đa biến theo POOLED OLS, REM (Random Effect), FEM (Fixed
Effect).
Theo thông tư của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 02/2013/TT-HĐNN
ngày 21/01/2013 định nghĩa rằng : « Nợ xấu là những khoản nợ thuộc nhóm 3 (Nợ
dưới tiêu chuẩn), Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn). »
Trong đó :
• Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm : Nợ trong hạn và được đánh giá là có
khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn; Nợ quá hạn dưới 10 ngày và
được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ nợ gốc và lãi bị quá hạn và thu hồi đầy
đủ nợ gốc và lãi còn lại đúng thời hạn;…
• Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm : Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày; Nợ
điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu;…
• Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm : Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180
ngày; Nợ gia hạn nợ lần đầu; Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ
khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng; Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh
tra;…
• Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm: Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày; Nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ
cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai; Nợ phải thu hồi theo kết luận
thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;…
• Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm: Nợ quá hạn trên 360 ngày; Nợ
cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được
cơ cấu lại lần đầu; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ
được cơ cấu lại lần thứ hai; Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa
bị quá hạn hoặc đã quá hạn; Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời
hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được; Nợ của khách hàng là tổ chức tín
dụng được Ngân hàng Nhà nước công bố đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, chi
nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản;…
5
6
Tăng trưởng tín dụng : theo nghiên cứu của Keeton (1999) mối quan hệ giữa
tăng trưởng tín dụng và nợ xấu được giải thích thông qua sự dịch chuyển các nhân
tố trong mối quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và nợ xấu. Mối quan hệ này vừa là
cùng chiều lẫn ngược chiều. Thứ nhất, sự dịch chuyển đường cung trên thị trường
vốn vay hàm ý rằng các NHTM sẵn sàng cho vay nhiều hơn bằng cách giảm các yêu
cầu về tiêu chuẩn tín dụng, có thể là cho vay với lãi xuất thấp, cho vay dưới chuẩn
làm cho các khoản nợ xấu có nguy cơ tăng trong tương lai. Thứ hai, do nhu cầu thay
đổi cấu trúc vốn của doanh nghiệp hay dự án đầu tư, đường cầu tín dụng sẽ dịch
chuyển sang phải. Sự thay đổi cấu trúc vốn này sẽ giúp cải thiện dòng tiền nên khả
năng trả nợ của người vay vốn bị ảnh hưởng tiêu cực, đảm bảo cho chất lượng tín
dụng trong tương lai. Thứ ba, sự dịch chuyển của đường cầu tín dụng do dịch
chuyển trong năng suất lao động, sự gia tăng trong năng suất lao động là dấu hiệu
tốt cho khả năng trả nợ của người vay vốn.
Đa dạng hóa danh mục cho vay : Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng
Vinh (2015) thì cơ hội đa dạng hóa danh mục cho vay của các ngân hàng có mối
liên hệ với chất lượng tín dụng. Đa dạng hóa danh mục cho vay và tỉ lệ nợ xấu được
kì vọng có quan hệ ngược chiều vì đa dạng hóa làm giảm rủi ro tín dụng.
Khả năng bù đắp rủi ro : Nếu không có khả năng bù đắp rủi ro thì sẽ gặp
phải rất nhiều khó khăn khi phát sinh các vấn đề từ những tổn thất hay các rủi ro bất
ngờ có thể xảy ra như rủi ro tin dụng và nợ xấu. Ngoài ra, còn gây mất lòng tin đối
với nhà đầu tư và khách hàng. Tuy nhiên, nếu khả năng bù đắp rủi ro quá cao thì sẽ
làm giảm thu nhập của ngân hàng.
2.3.2. Nguyên nhân từ tự nhiên.
Khi có những biến động lớn về thời tiết, khí hậu, thiên tai, dịch bệnh… đều
gây ảnh hưởng đến chăn nuôi, năng suất cây trồng và các ngành công nghiệp và
hoạt động sản xuất kinh doanh làm giảm khả năng trả nợ của người đi vay, làm tăng
tỷ lệ nợ xấu… theo nghiên cứu của Keeton & Morris (1987) và Goldstein, M. &
Turner, P. (1996).
sẽ làm tăng sự không chắc chắn về trạng thái vốn của ngân hàng, do đó khả năng
huy động vốn bị giớn hạn. Điều này làm tăng lãi suất cho vay của các ngân hàng
dẫn đến việc giảm tăng trưởng tín dụng.
8
Nợ xấu tác động đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Theo nghiên cứu
Berger & DeYoung (1997) cho rằng các khoản nợ khi quá hạn, ngân hàng sẽ bắt đầu
tăng chi phí để xử lý nợ xấu. Do đó khi nợ xấu tăng sẽ dẫn đến hiệu quả chi phí của
ngân hàng suy giảm. Ngoài ra khi nợ xấu tăng thể hiện khả năng quản lý rủi ro tín
dụng kém, ngân hàng hoạt động không hiệu quả.
2.6. Khung lý thuyết
Trình bày các nguyên nhân dẫn đến nợ xấu và các tác động của nợ xấu dựa
trên các nghiên cứu trước đây.
9
2.7. Những yếu tố tác động đến tỷ lệ nợ xấu.
Trên thế giới có nhiều nghiên cứu về đề tài những yếu tố vi mô và vĩ mô tác
động đến nợ xấu của ngân hàng. Điển hình là nghiên cứu của Louzis et al (2010) sử
dụng dữ liệu bảng để kiểm tra các yếu tố vi mô và vĩ mô tác động đến nợ xấu trong khu
vực ngân hàng ở Hy Lạp theo từng loại cho vay như cho vay tiêu dùng, cho vay kinh
doanh và thế chấp trong khoảng thời gian từ quý 1 năm 2003 đến quý ba năm 2009.
Nghiên cứu của Ahmad and Bashir (2013) sử dụng dữ liệu bảng để kiểm tra các yếu tố
vi mô - đặc thù của ngân hàng tác động đến nợ xấu trong khu vực ngân hàng ở Pakistan
trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2011 để thực hiện kiểm định 10 giả
thuyết. Và nghiên cứu của Rajha (2016) sử dụng dữ liệu bảng để kiểm tra các yếu tố vi
mô và vĩ mô tác động đến nợ xấu trong khu vực ngân hàng ở Jordan trong giai đoạn từ
Rajha (2016) và Ahmad and Bashir (2013) thì yếu tố tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ có mối
quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu hiệu tại. Nghĩa là, tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ cao
thì tỷ lệ nợ xấu hiện tại cũng có xu hướng cao, tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ thấp thì tỷ lệ
nợ xấu hiện tại cũng có xu hướng thấp. Nghiên cứu của Rehman(2017) ở Nam Á cũng
cho kết quả tương tự về mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ và tỷ lệ nợ xấu
hiện tại. Hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vình (2015) ở Việt Nam giai đoạn từ
năm 2007 đến năm 2015, nghiên cứu của Phạm Dương Phương Thảo và Nguyễn Linh
Đan (2018) giai đoạn 2005-2016 và nghiên cứu của Bùi Duy Tùng và Đặng Thị Bạch
Vân (2015) về ảnh hưởng của các yếu tố nội tại đến nợ xấu các ngân hàng thương mại
Việt Nam, giai đoạn 2004 đến 2014 cũng có kết quả là tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ tác
động dương (cùng chiều) tới tỷ lệ nợ xấu hiện tại
2.3.1.2.Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)
ROE = Lợi nhuận sau thuế / Vốn chủ sở hữu.
ROE phản ảnh hiệu quả hoạt động của một ngân hàng, nếu ROE cao và ổn định
thể hiện ngân hàng có khả năng kiểm soát rủi ro tốt nên ít phát sinh nợ xấu. Theo
nghiên cứu của Louzis et al (2010), Rajha (2016) thì tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sổ
hữu có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu. Nghĩa là, tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ
sổ hữu cao thì tỷ lệ nợ xấu có xu hướng thấp, và tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu
thấp thì tỷ lệ nợ xấu có xu hướng cao. Nghiên cứu của Rehman (2017) cũng cho kết
quả tương tự về mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sổ hữu và tỷ lệ nợ
11
xấu. Hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vinh (2015) ở Việt Nam giai đoạn từ
năm 2007 đến năm 2015 và nghiên cứu của Bùi Duy Tùng và Đặng Thị Bạch Vân
(2015) về ảnh hưởng của các yếu tố nội tại đến nợ xấu các ngân hàng thương mại
Việt Nam, giai đoạn 2004 đến 2014 cũng cho kết quả tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sổ
hữu có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu.
Theo nghiên cứu của Ahmad and Bashir (2013) thì yếu tố tốc độ tăng trưởng
tín dụng có mối quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu. Nghĩa là, tốc độ tăng trưởng
tín dụng cao thì tỷ lệ nợ xấu cũng có xu hướng cao, tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp
thì tỷ lệ nợ xấu hiện tại cũng có xu hướng thấp. Hay nghiên cứu của Nguyễn Thị
Hồng Vinh (2015) đã kiểm chứng ở Việt Nam cũng cho kết quả tương tự. Tuy
nhiên, nghiên cứu của Rehman(2017) ở Nam Á lại cho kết quả ngược lại, nghĩa là
tốc độ tăng trưởng tín dụng và tỷ lệ nợ xấu có mối quan hệ ngược chiều. Nghĩa là,
tốc độ tăng trưởng tín dụng cao thì tỷ lệ nợ xấu cũng có xu hướng thấp, tốc độ tăng
trưởng tín dụng thấp thì tỷ lệ nợ xấu hiện tại cũng có xu hướng cao.
2.3.1.5. Thị phần tín dụng (MP)
MP = Dư nợ cho vay / Tổng dư nợ các ngân hàng
Thị phần tín dụng mà lớn, thì ngân hàng có cơ hội đa dạng hóa các loại hình
cho vay, đa dạng hóa khách hàng, điều này có thể làm giảm rủi ro tín dụng, giảm tỷ
lệ nợ xấu. Theo nghiên cứu của Ahmad and Bashir (2013) thì yếu tố thị phần tín
dụng có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu. Nghĩa là, thị phần tín dụng cao
thì tỷ lệ nợ xấu có xu hướng thấp, thị phần tín dụng thấp thì tỷ lệ nợ xấu hiện tại có
xu hướng cao.
2.3.1.6.Tỷ lệ nợ phải trả trên thu nhập (TLI)
TLI = Nợ phải trả / Tổng thu nhập
Tỷ lệ nợ phải trả trên thu nhập càng tăng thì chứng tỏ nợ phải trả tăng mà
tổng thu nhập không thay đổi hay Nợ phải trả không đổi mà tổng thu nhập lại giảm
hay nợ phải trả tăng nhiều hơn tổng thu nhập tăng. Điều này chứng tỏ hiệu quả hoạt
động của ngân hàng càng ngày càng kém, thể hiện chất lượng quản lý cũng kém dẫn
đến tỷ lệ nợ xấu có nguy cơ tăng. Theo nghiên cứu của Ahmad and Bashir (2013)
thì yếu tố tỷ lệ nợ phải trả trên thu nhập có mối quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu.
Nghĩa là, tỷ lệ nợ phải trả trên thu nhập cao thì tỷ lệ nợ xấu cũng có xu hướng cao,
tỷ lệ nợ phải trả trên thu nhập thấp thì tỷ lệ nợ xấu cũng có xu hướng thấp.
13
tỷ lệ nợ xấu sẽ thấp đi. Theo nghiên cứu của Louzis et al (2010), Rajha (2016)
14
thì tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu.
Nghĩa là, GDP cao thì tỷ lệ nợ xấu có xu hướng thấp, và GDP thấp thì tỷ lệ nợ xấu
có xu hướng cao. Nghiên cứu của Rehman (2017) cũng cho kết quả tương tự về mối
quan hệ này. Hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vình (2015) ở Việt Nam giai
đoạn từ năm 2007 đến năm 2015, nghiên cứu của Phạm Dương Phương Thảo và
Nguyễn Linh Đan (2018) giai đoạn 2005-2016 và nghiên cứu của Bùi Duy Tùng và
Đặng Thị Bạch Vân (2015) về ảnh hưởng của các yếu tố nội tại đến nợ xấu các ngân
hàng thương mại Việt Nam, giai đoạn 2004 đến 2014 cũng có kết quả tốc độ tăng
trưởng GDP hàng năm có mối quan hệ ngược chiều với tỷ lệ nợ xấu.
2.3.2.2. Tỷ lệ lạm phát hàng năm (INF)
INF = CPIt – CPIt-1 / CPIt-1
Tỷ lệ lạm phát cao sẽ làm giá xăng dầu tăng, chi phí sản xuất cũng tăng, giá
cả hàng hóa cũng tăng làm ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng, có thể
làm tỷ lệ nợ xấu tăng theo. Theo nghiên cứu của Rajha (2016) thì yếu tố tỷ lệ lạm
phát có mối quan hệ cùng chiều với tỷ lệ nợ xấu. Nghĩa là, tỷ lệ lạm phát cao thì tỷ
lệ nợ xấu có xu hướng cao, tỷ lệ lạm phát thấp thì tỷ lệ nợ xấu có xu hướng thấp.
Hay nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vinh (2015) ở Việt Nam, giai đoạn 2007 đến
2015 và và nghiên cứu của Bùi Duy Tùng và Đặng Thị Bạch Vân (2015) về ảnh
hưởng của các yếu tố nội tại đến nợ xấu các ngân hàng thương mại Việt Nam, giai
đoạn 2004 đến 2014 cũng cho kết quả tương tự.
2.3.2.3. Tỷ lệ thất nghiệp (UNL)
UNL = Số người thất nghiệp / lực lượng lao động
Khi tỷ lệ thất nghiệp cao, nhiều người không có việc làm nên cũng không có
thu nhập làm tăng nguy cơ không có khả năng thanh toán nợ, dẫn đến tỷ lệ nợ xấu
có thể tăng cao. Theo nghiên cứu của Louzis et al (2010) thì tỷ lệ thất nghiệp có mối
3.1
2.4
1.7
2.1
1.9
1.8
(Nguồn : Tổng hợp BCTC của 26 NHTM)
Biểu đồ 3.1 : Tỷ lệ nợ xấu trung bình của 26 NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2018
Biểu đồ 3.1 thể hiện tỷ lệ nợ xấu trung bình của mẫu gồm 26 NHTM Việt Nam
trong giai đoạn từ 2009 đến 2018, cho ta thấy nợ xấu tại các NHTM đã được
tích tụ từ nhiều năm qua, tỷ lệ nợ xấu tăng giảm bất ổn qua các năm. Cao nhất là
vào năm 2012 với mức 3,2%, và thấp nhất là vào năm 2009 với mức (1,6%). Nhìn
chung ta có thể chia biểu đồ thành 2 giai đoạn chính :
Giai đoạn tỷ lệ nợ xấu tăng dần đều từ năm 2009 đến năm 2012 do nền kinh tế
Việt Nam chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu vào năm 2008, làm
xuất khẩu giảm mạnh, bất động sản thì đóng băng, để giảm lạm phát ngân hàng nhà
nước thực hiện chính sách tiền tề thắt chặt, làm cho sản xuất kinh doanh gặp nhiều khó
khăn
→
khả năng trả nợ của khách hàng kém đi làm tỷ lệ nợ xấu tăng nhanh.
Giai đoạn từ năm 2013 đến năm 2018 : tỷ lệ nợ xấu có sự biến động tăng giảm
2.5
2.5
2.0
2.0
1.5
1.5
1.0
1.0
0.5
0.5
0.0 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
0.0
NPL
NPL(t-1)
1.6
2.1
Biểu đồ 3.2 thể hiện mối quan hệ cùng chiều giữa tỷ lệ nợ xấu trong quá khứ
và tỷ lệ nợ xấu hiện tại của 26 NHTM Việt Nam giai đoạn 2009-2018. Chỉ có giai
đoạn từ 2009 đến 2010 do bị ảnh hưởng của các yếu tô vĩ mô quá lớn từ cuộc khủng
hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 nên mối quan hệ cùng chiều này không được rõ
ràng. Cũng như ở giai đoạn 2012-2013 hay 2016-2017 do khoảng thời gian đó hệ
thống ngân hàng cùng với chính phủ đã tích cực triển khai và chủ động xử lý nợ xấu
nên tỷ lệ nợ xấu của các NHTM giảm nhanh chóng ở thời điểm hiện tại
17
3.3. Tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE)
Đơn vị (%)
3.5
16.0
3.0
14.0
2.5
12.0
2.0
10.0
8.0
2.4
6.8
1.7
6.3
0.0
2016 2017 2018
2.1
7.4
1.9
10.1
1.8
12.5
(Nguồn : Vietstock và Tổng hợp BCTC của 26 NHTM) Biểu đồ 3.3 : Mối quan hệ
giữa tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ nợ xấu của 26 NHTM Việt Nam
giai đoạn 2009-2018
Biểu đồ 3.3 thể hiện mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu và
tỷ lệ nợ xấu của 26 NHTM Việt Nam giai đoạn 2009- 2018. Cho thấy tỷ lệ ROE tăng giảm không
ổn định qua các năm, nhìn chung tỷ lệ ROE là giảm từ 14,2% năm 2009 xuống 12,5% năm 2018 trong khi tỷ
lệ nợ xấu có xu hướng tăng nhẹ từ mức 1,6% năm 2009 lên 1,8% năm 2018 nên mối quan hệ giữa ROE và
NPL là ngược chiều.
3.4. Tỷ lệ vốn chủ sở hữu (EA)
Đơn vị (%)
3.5
NPL 1.6
EA 11.9
1.7
11.1
2.4
10.6
3.2
11.7
3.1
10.3
2.4
9.2
1.7
9.0
2.1
8.1
1.9
7.6
0.0