Công bằng xã hội và những yếu tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

PHAN THỊ HOÀNG MAI
CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ NHỮNG YẾU TỐ
TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN CÔNG BẰNG
XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2008 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

MỤC LỤC Trang
MỞ ĐẦU

1
Chương 1
Một số vấn đề lý luận về công bằng xã hội và những yếu
tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội
7
1.1.
Một số vấn đề lý luận về công bằng xã hội
7
1.2.
Vai trò của công bằng xã hội trong sự nghiệp xây dựng chủ
nghĩa xã hội
27
1.3.
Những yếu tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội
37
Chương 2
Những yếu tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội ở
Việt Nam hiện nay: thực trạng và giải pháp
51
2.1.
Thực trạng tác động của những yếu tố cơ bản đến thực hiện
công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay
51
2.2.

CNTB: Chủ nghĩa tư bản
CNXH: Chủ nghĩa xã hội
KTTT: Kinh tế thị trường
TBCN: Tư bản chủ nghĩa
Tr.CN: Trước công nguyên
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Công bằng xã hội là khát vọng, mục tiêu phấn đấu vƣơn lên của nhân loại từ
xa xƣa đến nay. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế, khoa học công nghệ
và nhu cầu nhân quyền, tiến bộ xã hội…, CBXH đã trở thành một động lực mạnh
mẽ, một nhân tố bảo đảm sự phát triển bền vững của nền kinh tế và của toàn xã
hội. Với ý nghĩa đó, hiện nay, tất cả các nƣớc đều quan tâm thực hiện CBXH. Tuy
nhiên, mỗi nƣớc lại giải quyết vấn đề này một cách khác nhau, phù hợp với điều
kiện lịch sử cụ thể của quốc gia, dân tộc mình.
Ở Việt Nam, CBXH vừa là mục tiêu vừa là động lực, một nhân tố của sự phát
triển và ổn định xã hội. Hồ Chí Minh đã xác định: "Không sợ thiếu, chỉ sợ không
công bằng". Nƣớc ta là một nƣớc chậm phát triển, đi lên chủ nghĩa xã hội với một
quyết tâm hƣớng tới mục tiêu xây dựng “một xã hội dân giàu, nƣớc mạnh, công
bằng, dân chủ, văn minh" [8,17-18]. Mục tiêu ấy là khát vọng bao đời nay của

ở nƣớc ta vẫn đang là những vấn đề lý luận và thực tiễn cấp bách cần đƣợc làm
sáng tỏ để có cơ sở định ra chính sách, giải pháp nhằm thực hiện tốt hơn CBXH ở
nƣớc ta hiện nay.
Xuất phát từ những lý do trên, tôi chọn vấn đề "
Công bằng xã hội và những
yếu tố tác động đến thực hiện công bằng xã hội ở Việt Nam hiện nay
" làm đề tài
luận văn cao học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến luận văn
Nghiên cứu về vấn đề CBXH và các vấn đề liên quan đến việc thực hiện
CBXH là một chủ đề lớn, thu hút đƣợc sự quan tâm của nhiều nhà khoa học.
- Các đề tài, hội thảo nghiên cứu khoa học:
Đề tài khoa học cấp Bộ của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (2001):
“Kết hợp tăng trƣởng kinh tế với tiến bộ và CBXH trong tiến trình CNH, HĐH,
phát triển kinh tế thị trƣờng theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa ở nƣớc ta” do
GS.TS Trịnh Quốc Tuấn làm chủ nhiệm đề tài. Đề tài đã trình bày mối quan hệ

3
giữa tăng trƣởng kinh tế với phát triển theo định hƣớng XHCN ở Việt Nam, trong
đó có mối quan hệ giữa tăng trƣởng kinh tế và CBXH; mối quan hệ và những tác
động, thách thức của tiến bộ, CBXH đến tăng trƣởng kinh tế. Từ đó, đề tài khẳng
định, Việt Nam muốn phát triển nhanh và bền vững thì điểm mấu chốt phải giải
quyết đƣợc vấn đề kết hợp tăng trƣởng kinh tế với tiến bộ, CBXH.
Hội thảo khoa học "Vấn đề phân phối và phân hoá giàu nghèo trong điều kiện
phát triển kinh tế thị trƣờng định hƣớng XHCN ở nƣớc ta" của Bộ Lao động –
Thƣơng binh xã hội (2004) đã làm rõ khái niệm, cấu trúc và những điều kiện thực
hiện CBXH, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp thực hiện CBXH ở Việt Nam
hiện nay.
Hội thảo khoa học quốc tế “Công bằng xã hội, trách nhiệm xã hội và đoàn kết
xã hội” của Viện Khoa học xã hội Việt Nam (10/2007), trong đó vấn đề CBXH

bài "Từ tƣ tƣởng của C.Mác về công bằng và bình đẳng trong chủ nghĩa xã hội"
của GS.TS Lê Hữu Tầng (Tạp chí Triết học số 2/1993), "Công bằng xã hội trong
điều kiện kinh tế thị trƣờng ở nƣớc ta hiện nay" của tác giả Lƣơng Việt Hải (Tạp
chí Triết học số 4/2004), “Về vai trò của nhà nƣớc đối với việc thực hiện công
bằng xã hội trong tiến trình hiện đại hóa” của tác giả Nguyễn Đình Hòa (Tạp chí
Triết học số12/2002)…
Qua tìm hiểu có thể thấy, đã có nhiều công trình nghiên cứu vấn đề CBXH
dƣới các góc độ khác nhau. Các công trình này là những tài liệu tham khảo quan
trọng của luận văn. Tuy vậy, phần lớn các công trình trên tập trung vào khai thác
mối quan hệ giữa CBXH và tăng trƣởng kinh tế, chƣa có tài liệu nào nghiên cứu
trực tiếp những yếu tố tác động đến thực hiện CBXH ở nƣớc ta hiện nay. Do vậy,
luận văn tập trung nghiên cứu chủ đề này để góp phần làm rõ cách thức và quá
trình thực hiện CBXH ở nƣớc ta hiện nay.

5
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở làm rõ quan niệm, vai trò của việc thực hiện CBXH, những yếu tố
cơ bản tác động đến thực hiện CBXH, luận văn tập trung đánh giá thực trạng và
đề xuất một số giải pháp điều tiết những yếu tố tác động đến thực hiện CBXH ở
Việt Nam hiện nay.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ quan niệm về CBXH, vai trò của CBXH và những yếu tố cơ bản tác
động đến quá trình thực hiện CBXH;
- Phân tích, đánh giá thực trạng tác động của những yếu tố cơ bản đến thực
hiện CBXH ở Việt Nam hiện nay;
- Đề xuất một số giải pháp để phát huy những tác động tích cực, hạn chế


7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
-
Ý nghĩa lý luận
: Luận văn góp phần vào việc nghiên cứu chung về vấn đề
CBXH, đặc biệt là quá trình thực hiện CBXH.
- Ý nghĩa thực tiễn:
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc
nghiên cứu và giảng dạy những chuyên đề có liên quan đến CBXH, thực hiện
CBXH ở Việt Nam hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu
tham khảo, Phụ lục, nội dung chính của luận văn bao gồm hai chƣơng với năm tiết.

7
CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI VÀ NHỮNG
YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI
1.1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI
1.1.1. Quan niệm về công bằng xã hội
CBXH là vấn đề đƣợc đặt ra từ lâu trong lịch sử xã hội loài ngƣời, ngay từ khi
con ngƣời ý thức đƣợc những bất công trong xã hội loài ngƣời. Do đó, nó là một

thống trị trong xã hội. Bởi vậy xã hội chiếm hữu nô lệ càng phát triển thì đấu
tranh giai cấp giữa chủ nô và nô lệ, giữa ngƣời giàu và ngƣời nghèo càng ngày
càng gay gắt.
Việc sử dụng rộng rãi sức lao động của nô lệ là một trong những nguyên nhân
làm cho lao động trí óc tách khỏi lao động chân tay. Nền kinh tế chiếm hữu nô lệ
đã sinh ra một đội ngũ trí thức đông đảo chuyên nghiên cứu triết học, khoa học.
Tuy vậy, đội ngũ trí thức này đều xuất thân từ tầng lớp trên của xã hội, do vậy các
tƣ tƣởng của họ chủ yếu nhằm phục vụ và bảo vệ cho giai cấp chủ nô. Trong quan
niệm của hầu hết các nhà tƣ tƣởng thời kỳ cổ đại ở phƣơng Tây, công bằng và
bình đẳng xã hội bị giới hạn bởi lập trƣờng giai cấp. Theo họ, trong xã hội cần
phải duy trì các hạng ngƣời khác nhau và do đó không thể có bình đẳng hoàn toàn
giữa mọi ngƣời. Theo đó, công bằng là công bằng giữa những ngƣời trong cùng
một đẳng cấp chứ không phải giữa những ngƣời ở các đẳng cấp khác nhau.
Platon
(428 – 348 Tr.CN), một trong những nhà tƣ tƣởng kiệt xuất thời cổ đại
đã có những quan điểm cụ thể về công bằng và bình đẳng xã hội. Trong hai tác
phẩm “Nhà nƣớc” và “Luật lệ”, Platon đã khẳng định không có sự bình đẳng giữa
các tầng lớp ngƣời khác nhau trong xã hội. Từ đó, ông cho rằng, cần phải duy trì
các hạng ngƣời khác nhau, thực hiện các dạng phân công lao động khác nhau nhằm
thỏa mãn các nhu cầu xã hội. Nhƣ vậy, theo Platon, trong xã hội đƣơng thời hoàn
toàn không có sự bình đẳng và điều đó là tất yếu. Tuy nhiên, trong quan niệm của
Platon, mặc dù xã hội không có sự bình đẳng nhƣng vẫn có công bằng, bởi lẽ công

9
bằng là ở chỗ mỗi hạng ngƣời dù ở địa vị xã hội nào cũng phải làm hết trách nhiệm
của mình, sống đúng tầng lớp của mình và biết đƣợc thân phận của mình.
Aritstot
(384 – 322 Tr.CN), nhà triết học vĩ đại của nền văn minh Hy Lạp cổ
đại, cho rằng, công bằng là phạm trù gắn với nhà nƣớc, bởi luật pháp – tiêu chuẩn
của sự công bằng – là quy phạm điều chỉnh mọi sự giao tiếp chính trị - xã hội.

tƣ sản với giai cấp địa chủ phong kiến và hệ tƣ tƣởng Cơ đốc giáo ngày càng sâu
sắc. Chính mâu thuẫn đó đã thúc đẩy hàng loạt các cuộc cách mạng tƣ sản nổ ra
trên khắp lãnh thổ Châu Âu.
Những cơ sở kinh tế - xã hội này đã khiến cho nội dung của những tƣ tƣởng về
CBXH không còn bị bó hẹp trong phạm vi của những đòi hỏi về quyền bình đẳng ở
địa vị xã hội, mà đã ngày càng dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá của nền sản
xuất hàng hóa, sử dụng nó nhƣ là thƣớc đo của CBXH. Tuy nhiên, trong nền sản
xuất hàng hóa TBCN, mặc dù quan hệ trao đổi ngang giá đƣợc coi là thƣớc đo của
CBXH, nhƣng quan hệ phân phối lại lệ thuộc vào quan hệ chiếm hữu tƣ nhân về tƣ
liệu sản xuất. Cho nên thƣớc đo ấy của CBXH chỉ là công bằng đối với những
ngƣời sở hữu tƣ liệu sản xuất, ngƣợc lại là sự bất công và bất bình đẳng đối với
những ngƣời chỉ sống dựa vào sức lao động của mình. Giải pháp để giải quyết vấn
đề xã hội nhằm phát triển kinh tế cũng chỉ mang tính chất nửa vời, và chỉ đƣợc
chính phủ tƣ sản xem là phƣơng tiện để duy trì sự tồn tại của chế độ TBCN. Vì thế,
trong CNTB, CBXH chỉ là phƣơng tiện chứ không phải là mục đích.
Quan niệm về bình đẳng và tự do trong thời kỳ này không chỉ đơn thuần dừng
lại ở việc tiếp thu và khôi phục lại các tƣ tƣởng truyền thống, mà còn phát triển
với những màu sắc riêng của thời đại lịch sử. Đa số các nhà tƣ tƣởng tiến bộ trong
thời kỳ này, trong khi đấu tranh chống lại chế độ chuyên chế với nền tảng tƣ
tƣởng của nó là thần học, cũng nhƣ phê phán tính trạng bất công nảy sinh trong xã
hội TBCN, họ đều đƣa ra những mô hình xã hội mới xây dựng trên mô hình của
tự nhiên. Đồng thời, các nhà tƣ tƣởng luôn đề cao con ngƣời và các quyền của con
ngƣời trong xã hội. Tình hình đó thúc đẩy hình thành những quan niệm mới về

11
CBXH, tiến bộ xã hội, khi nhiều nhà tƣ tƣởng coi công bằng và bình đẳng là tiêu
chuẩn để đánh giá một xã hội tiến bộ.
Tiếp thu tƣ tƣởng của các đại biểu thời kỳ Phục hƣng, các nhà XHCN không
tƣởng mà tiêu biểu là ba nhà XHCN không tƣởng – phê phán nửa đầu thế kỷ XIX ở
Pháp và Anh là

; mặc khác, bởi
một số nhà triết học phƣơng Tây, trong đó, đáng kể nhất là quan điểm của
John

12
Rawls
(1921 – 2002) , nhà triết học chính trị Mỹ, ngƣời đã đƣa ra lý thuyết về
CBXH, với mong muốn khắc phục đƣợc hạn chế của nhiều quan điểm trƣớc đó về
công lý, và về công bằng. J.Rawls coi lý thuyết của mình là sự tiếp nối và phát triển
những tƣ tƣởng truyền thống về CBXH trong lịch sử, mà đặc biệt là tƣ tƣởng “Khế
ƣớc xã hội” của J. Rútxô và những tƣ tƣởng về đạo đức học của I. Kant. Trong tác
phẩm “Lý thuyết về công lý” (A theory of justice) (1971), vấn đề công bằng và bình
đẳng đã đƣợc J.Rawls nghiên cứu một cách hệ thống mang tính lý thuyết thuần túy,
mà đối tƣợng của công bằng đƣợc ông xác định là thể chế xã hội nói chung. Theo
J.Rawls, công bằng chỉ có đƣợc khi con ngƣời tự nguyện cùng tham dự vào hợp tác
xã hội để làm sao mỗi cá nhân giành đƣợc lợi ích nhiều hơn so với khi họ sống đơn
lẻ. Trong quan niệm của J.Rawls, sự công bằng hay không công bằng trong một thể
chế xã hội không phải là sự khác nhau về xuất phát điểm của mỗi cá nhân, mà chỉ
chủ yếu ở chỗ: khi tham gia vào hợp tác xã hội, cho dù có sự bất bình đẳng vì có
những khác biệt bẩm sinh và địa vị xã hội giữa ngƣời với ngƣời, nhƣng nếu đó là sự
chấp nhận mang tính tự nguyện trong cơ chế hoạt động hợp tác xã hội chung đó thì
vẫn đƣợc coi là công bằng. Vì thế, một thể chế xã hội là không công bằng, nếu thể
chế đó bị những ngƣời ở một giai cấp này lợi dụng những nhân tố ngẫu nhiên để
biến thành đặc quyền, đặc lợi cho riêng mình, và biến nó thành sự bất lợi cho những
ngƣời ở giai cấp khác - những ngƣời không biết đƣợc rằng đang có sự chi phối của
những yếu tố ngẫu nhiên đó. Ông đã đƣa ra nguyên tắc “tối đa hóa cái tối thiểu”
cho những ngƣời bị thiệt thòi, yếu thế trong xã hội, xem đó nhƣ là lý tƣởng xã hội
công bằng và con đƣờng tiến lên xã hội đó bằng đạo đức. Nói tóm lại, mặc dù rất cố
gắng và hy vọng đƣa ra đƣợc một quan niệm mới về CBXH, song lý thuyết của ông
vẫn chứa đựng không ít hạn chế rất khó khắc phục, thậm chí cả những bất hợp lý và

nó chính là nguyên tắc phân phối theo lao động, đƣợc trình bày tập trung trong tác
phẩm “Phê phán Cƣơng lĩnh Gôta” (1875). Theo C.Mác, trong nền sản xuất TBCN,
quan hệ trao đổi ngang giá khi mua và bán sức lao động đƣợc nhà tƣ bản coi là quan
hệ công bằng. Nhƣng trên thực tế, hàng hóa sức lao động lại có đặc điểm là khi đƣa
vào sử dụng còn tạo ra một số lƣợng giá trị lớn hơn nó trƣớc khi đƣợc đƣa vào sử

14
dụng, cho nên việc ngƣời công nhân chỉ đƣợc nhận lại “tiền công của lao động”, còn
phần giá trị gia tăng do sức lao động tạo ra không đƣợc trả công và chuyển thành lợi
nhuận của nhà tƣ bản đã làm cho quan hệ trao đổi ngang giá đó không thể đƣợc coi là
công bằng. Đó chính là bản chất bất công của chế độ phân phối TBCN. Vì vậy, theo
các ông, muốn có CBXH phải thực hiện đƣợc nguyên tắc phân phối theo lao động,
nhƣng phải phân phối đúng với giá trị của sức lao động.
Sở dĩ trong chế độ sở hữu tƣ bản tƣ nhân về tƣ liệu sản xuất, mong muốn thực
hiện đƣợc nguyên tắc phân phối (theo lao động) của những ngƣời XHCN trên đây
không thể trở thành hiện thực, bởi vì theo quan điểm của C.Mác và Ph. Ăngghen,
bao giờ “sự công bằng hình nhƣ đòi hỏi cả hai bên ngay từ đầu đã phải đƣợc đặt
vào những điều kiện nhƣ nhau”[23,367], thế nhƣng trong nền sản xuất TBCN sự
thật lại không phải nhƣ vậy. Trong cuộc chạy đua với nhà tƣ bản, ngƣời lao động
luôn ở vào thế bất lợi. “Nếu nhà tƣ bản không đồng ý với công nhân, thì y có điều
kiện để chờ đợi và sống bằng tƣ bản của y. Ngƣời công nhân không thể làm nhƣ
thế đƣợc…Cái đói đặt anh ta vào một hoàn cảnh hết sức bất lợi. Thế mà, theo
khoa học kinh tế chính trị của giai cấp các nhà tƣ bản, đó là đỉnh cao của sự công
bằng” [23,367]. Để xây dựng đƣợc một xã hội công bằng thực sự thì phải xóa bỏ
bất bình đẳng về những điều kiện ban đầu ấy. Muốn thế, phải làm cho mọi ngƣời
đƣợc bình đẳng trong quan hệ sở hữu, tức là làm cho mọi ngƣời phải ngang nhau
về địa vị trong quan hệ với tƣ liệu sản xuất. Đó mới chính là xuất phát điểm bình
đẳng làm cơ sở để thực hiện đƣợc công bằng thực sự trong xã hội. Và điều này chỉ
có đƣợc trong CNXH.
Chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ nguyên tắc công bằng dƣới chủ nghĩa nghĩa xã

bình đẳng hoàn toàn trong xã hội.
c. Quan niệm của Hồ Chí Minh về công bằng xã hội
Tiếp thu quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về công bằng xã hội, Hồ Chí
Minh đã bổ sung, phát triển và vận dụng sáng tạo những quan niệm đó vào công
cuộc xây dựng CNXH ở Việt Nam. Hồ Chí Minh khẳng định: trong chế độ xã hội

16
thực dân, phong kiến hoàn toàn không có CBXH. Trong xã hội đó, những ngƣời lao
động - lực lƣợng chủ yếu sáng tạo nên của cải vật chất cho xã hội, thì suốt đời
nghèo khổ, trong khi một số ít ngƣời không lao động thì lại “ngồi mát ăn bát vàng”.
Giải thích căn nguyên dẫn tới “nỗi chẳng công bằng” này, Hồ Chí Minh cho rằng,
đó là vì: “một số ít ngƣời đã chiếm làm tƣ hữu những tƣ liệu sản xuất của xã hội”
[28,203]. Từ những nhận định này, Hồ Chí Minh kết luận rằng, công bằng chỉ thực
sự có đƣợc trong chế độ xã hội mới - chế độ dân chủ cộng hòa, nơi “nhân dân có
nghĩa vụ, đồng thời có quyền lợi” [28,219]. Hơn nữa, sự công bằng của chế độ
XHCN còn đƣợc đảm bảo bằng những cơ sở vững chắc. Điều này thể hiện ở chỗ:
“Nhà nƣớc này là của tất cả những người lao động… Nhân dân lao động là những
người chủ tập thể của tất cả những của cải vật chất và văn hóa, đều bình đẳng về
nghĩa vụ” [31,310].
Tƣ tƣởng về CBXH đƣợc Hồ Chí Minh thể hiện một cách sinh động, linh hoạt
trong những hoàn cảnh và tình huống cụ thể khác nhau của quá trình xây dựng đất
nƣớc. Khi nói đến CBXH, Hồ Chí Minh thƣờng gắn nó với quan niệm về bình
đẳng xã hội, thông qua mối quan hệ giữa cống hiến và hƣởng thụ, giữa nghĩa vụ
và quyền lợi, của mỗi thành viên trong xã hội. Nói cách khác, Hồ Chí Minh đã coi
CBXH chính là bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi. Với quan niệm nhƣ vậy,
Ngƣời đòi hỏi tất cả những ngƣời lao động ngày nay đều phải nhận rõ mình là
ngƣời chủ nƣớc nhà; và đã có quyền hạn làm chủ thì phải làm trọn nghĩa vụ của
ngƣời chủ - đó là cần kiệm xây dựng nƣớc nhà, xây dựng CNXH, nhằm mục đích
không ngừng nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, trƣớc hết là
nhân dân lao động. Ngƣời khẳng định: “Chủ nghĩa xã hội là công bằng hợp lý:

bổ sung và tiếp tục phát triển quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguyên tắc
phân phối theo lao động - một nguyên tắc đảm bảo CBXH trong quá trình phát
triển theo định hƣớng XHCN.
18
d. Quan niệm của Đảng Cộng sản Việt Nam về công bằng xã hội
CBXH là mục tiêu đƣợc xác định ngay từ những ngày đầu bƣớc vào sự
nghiệp xây dựng CNXH ở nƣớc ta. Quan điểm của Đảng về CBXH và nội dung
của việc thực hiện CBXH có sự thay đổi qua hai giai đoạn phát triển lớn: thời kỳ
trƣớc đổi mới và thời kỳ sau đổi mới đến nay.
Trƣớc đổi mới, từ quan điểm cho rằng chế độ tƣ hữu là nguồn gốc của sự bóc
lột, của tình trạng bất công và bất bình đẳng xã hội nên trong thực tiễn, việc xóa
bỏ chế độ tƣ hữu đã trở thành nội dung chủ yếu trong hoạt động của Đảng và Nhà
nƣớc ta nhằm thực hiện CBXH ở thời kỳ này. Cùng với việc củng cố và hoàn
thiện quan hệ sở hữu nhà nƣớc và sở hữu tập thể, Đảng ta đã nhấn mạnh đến việc
phải tuân thủ nguyên tắc phân phối theo lao động – một nguyên tắc quyết định
cho việc thực hiện CBXH trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Tuy vậy, do thực hiện
nguyên tắc này trong khuôn khổ của cơ chế kế hoạch hóa, tập trung, bao cấp nên
đã làm cho nó bị biến dạng, trở thành vật cản đổi với sự phát triển của lực lƣợng
sản xuất. Kết quả là phân phối theo lao động thực tế bị biến dạng thành phân phối
mang tính chất cào bằng, bình quân, không tính đến hiệu quả kinh tế thực sự và
chính nguyên tắc này đã làm triệt tiêu động lực tăng trƣởng kinh tế.
Khắc phục những sai lầm của tƣ tƣởng chủ quan, nóng vội, giản đơn về
CNXH, Đại hội VI (năm 1986) đã quyết định chuyển đổi từ mô hình kinh tế kế
hoạch hóa tập trung dựa trên chế độ công hữu về tƣ liệu sản xuất chủ yếu sang nền
kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trƣờng dƣới sự quản
lý của nhà nƣớc theo định hƣớng XHCN. Đồng thời, Đại hội VI đã đƣa ra quan
niệm mới về CBXH khi xác định rằng không thể thực hiện CBXH sớm bằng cách

XHCN. Đồng thời, quan niệm về CBXH không chỉ dừng ở phân phối hợp lý tƣ
liệu sản xuất, kết quả lao động mà còn thể hiện ở công bằng về cơ hội; “Công
bằng xã hội thể hiện cả ở khâu phân phối hợp lý tƣ liệu sản xuất, lẫn ở khâu phân
phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi ngƣời đều có cơ hội phát triển
năng lực của mọi thành viên trong cộng đồng”[4,47].

20
Tới Đại hội IX (năm 2001), nguyên tắc phân phối đƣợc Đại hội thông qua đã
thể hiện đƣợc một nội dung đầy đủ, rõ ràng và cụ thể hơn so với các nguyên tắc
phân phối đƣợc nêu ra trong các Văn kiện trƣớc: “Kinh tế thị trƣờng định hƣớng
xã hội chủ nghĩa thực hiện phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả
kinh tế, đồng thời phân phối theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào
sản xuất kinh doanh và thông qua phúc lợi xã hội”[6,88]. Bên cạnh hình thức
đóng góp về lao động, vốn thì Đảng ta vẫn tiếp tục khuyến khích các hình thức
đóng góp khác cùng với phúc lợi xã hội.
Ngoài việc tiếp tục nhấn mạnh quan điểm về CBXH đã đƣợc thể hiện từ các
Đại hội trƣớc, Đại hội X đã khẳng định thực hiện CBXH phải thể hiện trong việc
xây dựng và tiến hành mọi chủ trƣơng, đƣờng lối, chính sách phát triển kinh tế -
xã hội: “Thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bƣớc và từng
chính sách phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động,
hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và
thông qua phúc lợi xã hội”[8,26].
CBXH đã đƣợc Đảng quan niệm phù hợp với từng giai đoạn lịch sử nhất
định, do vậy mà CBXH không chỉ là mục tiêu mà đã thực sự trở thành động lực
cho sự tăng trƣởng kinh tế. Ở đây, CBXH đƣợc hiểu theo hai góc độ: CBXH theo
chiều ngang và CBXH theo chiều dọc. CBXH theo chiều ngang nghĩa là đối xử
ngang nhau với những ngƣời có đóng góp nhƣ nhau và CBXH theo chiều dọc
nghĩa là đối xử khác nhau đối với những ngƣời có những khác biệt bẩm sinh hoặc
có điều kiện xã hội khác nhau.


đạt đƣợc sự phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội.
Trong thời kỳ quá độ lên CNXH, khi tƣ liệu sản xuất chƣa thể công hữu hóa
hoàn toàn, trong xã hội còn tồn tại nhiều loại hình sở hữu khác nhau, thì quan
niệm về cống hiến không chỉ là cống hiến sức lao động, mà sự đóng góp các
nguồn lực khác cho phát triển xã hội cũng đƣợc thừa nhận và đƣợc hƣởng thụ
tƣơng xứng. Mặc dù nguyên tắc cống hiến nhƣ thế nào, hƣởng thụ nhƣ thế ấy

Trích đoạn Tiểu kết chƣơng Xu hướng tác động tích cực của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đến thực hiện công bằng xã hộ Xu hướng tác động tiêu cực của kinh tế thị trường đến thực hiện công bằng xã hộ Vai trò tích cực của Nhà nước trong thực hiện công bằng xã hộ Sự tác động của toàn cầu hóa đến thực hiện công bằng xã hội ở nƣớc ta
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status