i
LỜI CAM ĐOAN
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
––––––––––––––––––––––––––––
Tôi xin cam đoan rằng : Số liệu và kết quả nghiên cứu trong lu ận văn
này là hoàn toàn trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ
một học vị nào
tại Việt Nam.
Tôi xin cam đoan rằng: Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này
đã được cảm ơn và mọi thông tin trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gô
.́ c
NGUYỄN THỊ HIỆP
Thái Nguyên, ngày 11 tháng 8 năm 2012
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN THƢƠNG MẠI
NỘI NGÀNH CHẾ BIẾN CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 - 34 - 01
Nguyễn Thị Hiệp
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Khánh Doanh
Thái Nguyên - 2012
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ..................................................................... vi
Đặc biệt xin chân trọng cảm ơn PGS.TS. Nguyễn Khánh Doanh với
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ............................................................. vii
cương vị hướng dẫn khoa học đã trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tận tình và
PHẦN MỞ ĐẦU .............................................................................................. 1
đóng góp nhiều ý kiến quý báu, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Nhân dịp này, tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo cơ quan, gia đình, bạn
bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Xin chân thành cảm ơn !
1. Tính cấp thiết của đề tài ............................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu .................................................................................. 2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ............................................................ 3
4. Những đóng góp mới của lụân văn ........................................................... 3
5. Bố cục của luận văn................................................................................... 3
Thái Nguyên, ngày 12 tháng 8 năm 2012
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƢƠNG MẠI NỘI NGÀNH......... 4
1.1. Một số khái niệm cơ bản ........................................................................ 4
1.2. Lý thuyết về thương mại nội ngành theo chiều ngang và theo
chiều dọc ................................................................................................. 4
2.1. Thiết kế nghiên cứu .............................................................................. 36
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu ..................................................................... 36
các cam kết của WTO ................................................................... 66
4.1.4. Đẩy mạnh thương mại nội ngành gắn liền với phát huy tốt
2.1.2. Phương pháp thu thập số liệu ........................................................ 36
2.1.3. Phương pháp xủ lý số liệu............................................................. 36
vai trò quản lý của Nhà nước ........................................................ 66
4.1.5. Đẩy mạnh thương mại nội ngành gắn liền với hoàn thiện
khung pháp luật cho hoạt động thương mại ................................. 67
2.2. Mô hình ................................................................................................ 36
2.2.1. Mô tả mô hình ............................................................................... 37
4.1.6. Thúc đẩy thương mại nội ngành bền vững, không gây ô
2.2.2. Phương pháp ước tính ................................................................... 42
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ THƢƠNG MẠI NỘI NGÀNH
HÀNG CHẾ BIẾN CỦA VIỆT NAM ............................................... 43
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ............................................................... 43
nhiễm môi trường.......................................................................... 68
4.2. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy thương mại nội ngành của
Việt Nam .............................................................................................. 68
4.2.1. Đẩy mạnh xuất nhập khẩu giữa các quốc gia trong cùng
3.2. Phân tích thực trạng xuất- nhập khẩu của Việt Nam ........................... 45
KẾT LUẬN .................................................................................................... 82
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 84
CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THƢƠNG MẠI NỘI
NGÀNH HÀNG CHẾ BIẾN CỦA VIỆT NAM ............................... 65
4.1. Quan điểm, định hướng ........................................................................ 65
4.1.1. Đẩy mạnh thương mại nội ngành đi đối với phát huy lợi thế
so sánh ........................................................................................... 65
4.1.2. Đẩy mạnh thương mại nội ngành đi đối với lựa chọn mặt
hàng chủ lực .................................................................................. 66
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
vi
vii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ
Chữ viết tắt
Nội dung
DGDP
Sự khác biệt về quy mô của nền kinh tế giữa hai quốc gia
DPCI
Sự khác biệt về thu nhập bình quân đầu người giữa hai quốc gia
IIT
Thương mại nội ngành
HIIT
Thương mại nội ngành theo chiều dọc
Thương mại nội ngành theo chiều ngang
WTO
Tổ chức Thương mại Thế giới
Tổng sản phẩm quốc nội
Xuất nhập khẩu
Trang
Bảng 3.2
55
Thương mại nội ngành theo chiều ngang của Việt
PCI
GDP
Tên bảng biểu
Bảng 3.1
2011 và quý I/2012
Biểu đồ 3.2
45
Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc năm 2010-2011 và
quý I/2012
Biểu đồ 3.3
46
Một số thị trường nhập siêu chính của Việt Nam 6
tháng/2011
Biểu đồ 3.4
52
Một số thị trường xuất siêu chính của Việt Nam 6
tháng/2011
mở rộng cạnh tranh không hoàn hảo sang một nền kinh tế mở với các giả định
tế đã và đang tiếp tục diễn ra mạnh mẽ trên thế giới. Đây là một xu thế mang
về lợi thế theo quy mô, khác biệt hóa sản phẩm và sở thích của người tiêu
tính tất yếu khách quan với những biểu hiện mới về vai trò của thương mại
dùng về nhiều loại hàng hóa. (Krugman, 1979; Lancaster, 1980).
quốc tế, đầu tư quốc tế, chuyển giao công nghệ, … Quá trình này đã có tác
Trên thực tế, tỷ trọng thương mại nội ngành giữa các quốc gia trong cùng
động rất lớn đối với nền kinh tế thế giới và đặc biệt là tạo điều kiện thuận lợi
một khối liên kết, các quốc gia có sự tương đồng về mức thu nhập hoặc giữa
cho thương mại quốc tế phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều sâu. Kết quả là
các quốc gia tồn tại cầu chồng chéo thường lớn hơn so với tỷ trọng tương ứng
tốc độ tăng trưởng của thương mại quốc tế lớn hơn nhiều so với tốc độ tăng
giữa các quốc gia không cùng một khối liên kết do tận dụng được lợi thế theo
trưởng sản xuất, trong đó thương mại nội ngành đã đóng góp đáng kể vào tốc
quy mô.
công trình nghiên cứu về thương mại nội ngành, đặc biệt là thương mại nội
692,7 triệu USD vào năm 1985, thì con số này đã lên tới 5,6 tỷ USD năm
ngành theo chiều ngang và thương mại nội ngành theo chiều dọc, giữa Việt
1995 và 55,85 tỷ USD năm 2009. Tương tự như vậy, kim ngạch nhập khẩu
Nam với các nước trên thế giới. Xuất phát từ thực tế đó, tôi tiến hành thực
của Việt Nam từ phần còn lại của thế giới cũng tăng nhanh, từ 1,8 tỷ USD năm
hiện đề tài “Các yếu tố tác động đến thương mại nội ngành chế biến của
1985 lên 8,4 tỷ USD năm 1995 và 85 tỷ USD năm 2009. Đây cũng chính là
Việt Nam”.
những dấu hiệu tốt đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Thực tế đã cho thấy, trong thương mại quốc tế giữa các quốc gia thì
2.1. Mục tiêu chung
thương mại nội ngành ngày càng trở nên quan trọng. Thương mại nội ngành
Phân tích cơ cấu và các yếu tố tác động đến thương mại nội ngành chế biến
1.1. Một số khái niệm cơ bản
- Thƣơng mại nội ngành (IITijt): Mức độ thương mại nội ngành phân
tích cơ cấu xuất nhập khẩu của một ngành trong một thời điểm nhất định giữa
một quốc gia với các nước trên thế giới có quan hệ thương mại với nước đó.
- Thƣơng mại nội ngành theo chiều ngang: Thương mại nội ngành
Nam với một số nước trên thế giới.
Khuyến nghị một số giải pháp chủ yếu nhằm thúc đẩy thương mại
nội ngành giữa Việt Nam với các nước trên thế giới...
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
theo chiều ngang xuất hiện khi xuất khẩu và nhập khẩu về một sản phẩm có
chất lượng tương tự như nhau, nhưng lại có đặc điểm khác nhau (khác biệt
hóa sản phẩm theo chiều ngang). Thương mại nội ngành theo chiều ngang
- Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về thương mại nội ngành, đặc biệt
xuất hiện tại thị trường cạnh tranh độc quyền với sự có mặt của lợi thế tăng
là thương mại nội ngành chế biến theo chiều ngang và thương mại nội ngành
dần theo quy mô (mặt cung) và sự đa dạng hóa trong thị hiếu của người tiêu
theo chiều dọc, giữa Việt Nam với một số nước trên thế giới.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu thương mại nội ngành chế biến giữa
Việt Nam với mưòi nước đối tác thương mại chủ yếu của Việt Nam.
+ Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu thương mại nội ngành giữa Việt
Nam và mưòi nước trên thế giới giai đoạn 2000 - 2010.
sánh là thương mại liên ngành. Tuy nhiên, trên thực tế mô hình của Heckscher-
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu.
Ohlin đã không giải thích được hiện tượng thương mại giữa các quốc gia tương
Chương 3: Thực trạng về thương mại nội ngành hàng chế biến của Việt Nam.
Chương 4: Các giải pháp thúc đẩy thương mại nội ngành hàng chế biến
đồng nhau với sự dồi dào các yếu tố sản xuất như nhau. Đây chính là điểm xuất
phát của lý thuyết thương mại mới, thương mại nội ngành (IIT).
Việt Nam.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
5
6
Nghiên cứu của Grubel và Lloy (1975) là một trong những công trình
việc sản xuất mang tính độc quyền hơn là “cạnh tranh hoàn hảo”. Lancaster
dần theo quy mô về mặt cung và thị hiếu phong phú của người tiêu dùng về
(1997) cũng có một mô hình “tính đa dạng của sản phẩm”. Trong mô hình
mặt cầu (theo Mora, 2002). Mô hình này cũng cho rằng, các quốc gia càng có
này, sản phẩm có hàng loạt các đặc điểm khác nhau và người tiêu dùng cũng
nguồn lực giống nhau thì thị phần của thương mại nội ngành theo chiều ngang
đề ra hàng loạt đặc tính của sản phẩm họ ưa chuộng nhất. Từ đó, dẫn đến nhu
càng lớn. Loại thương mại nội ngành thứ hai là thương mại nội ngành theo
cầu về sự đa dạng của hàng hóa tăng lên.
chiều dọc. Thương mại nội ngành theo chiều dọc là việc trao đổi các loại sản
Do lợi thế kinh tế nhờ quy mô bên ngoài (internal economies of scale),
phẩm khác nhau với chất lượng khác nhau (sản phẩm khác biệt hóa theo chiều
chỉ một vài người tiêu dùng có thể mua được sản phẩm lý tưởng (ideal
dọc). Cơ sở lý thuyết cho loại thương mại nội ngành theo chiều dọc được một
products), một số khác mua được “sản phẩm khác biệt hóa” tương đương với
trên “tính đa dạng của thị hiếu” đã được giải thích trên cơ sở của giả định
đầu người cao và giống nhau; còn thương mại nội ngành theo chiều dọc
„phi cạnh tranh’ và “lợi tức tăng dần theo quy mô”. Tuy nhiên, khái niệm
xảy ra giữa các nước có thu nhập đầu người khác nhau (Hellvin, 1996). Sự
“tính đa dạng của thị hiếu”, “cạnh tranh không hoàn hảo” và “lợi tức tăng
khác biệt giữa thương mại nội ngành theo chiều dọc và theo chiều ngang
dần theo quy mô” của các tác giả này không thể giải quyết bằng các lý
rất quan trọng. Mô hình theo chiều dọc có thể giải thích cho thương mại
thuyết thương mại cổ điển.
nội ngành mà không cần đến lợi thế kinh tế nhờ quy mô và do đó, không
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
7
cùng diện tích, cùng thị hiếu, cùng sử dụng công nghệ như nhau có thể có
thương mại nội ngành theo chiều ngang xảy ra với thị trường “cạnh tranh
hoạt động thương mại với nhau khi thương mại đó hoạt động theo kiểu
độc quyền”. Mô hình Thương mại nội ngành theo chiều ngang trong „thị
(lưỡng độc quyền - duopoly)”. Brander (1981) đã thành công khi giải thích
trường cạnh tranh độc quyền” có giả định chung giống nhau về „lợi tức
được hiện tượng thương mại quốc tế có thể diễn ra trong một thế giới mà
tăng dần theo quy mô”, ra - vào thị trường (entry-exit) tự do, cũng như
hàng hóa đồng nhất được sản xuất với chi phí như nhau ở trong nước và
quan điểm rằng thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng giúp đảm bảo rằng
ngoài nước.
một số lượng lớn các công ty sản xuất sản phẩm cùng loại (single product
Có người có thể nghĩ mô hình thương mại này, về mặt xã hội, rất phí
firm) có thể cùng tồn tại trong thế cân bằng (theo Greenaway, 1987).
phạm vì nó liên quan đến việc vận chuyển hàng hóa một cách vô nghĩa từ
một loại sản phẩm nào đó (Tharakan và Kerstens, 1995)
Tuy vậy, trong các công trình nghiên cứu, các mô hình của thương mại
Mặc dù mô hình Thương mại nội ngành theo chiều ngang tồn tại
nội ngành đối với hàng hóa đồng nhất không quan trọng bằng các mô hình
trong thị trường cạnh tranh độc quyền giả định rằng thâm nhập thị trường
của thương mại nội ngành đối với sản phẩm khác biệt hóa theo chiều ngang
(entry) là tự do và lợi thế kinh tế theo quy mô ở mức độ nhỏ, sự thật
(thương mại nội ngành theo chiều ngang) hay mô hình Thương mại nội ngành
không hoàn toàn như vậy. Việc thâm nhập thị trường có thể bị hạn chế và
đối với sản phẩm khác biệt hóa theo chiều dọc (thương mại nội ngành theo
/ hoặc mức độ của lợi thế kinh tế theo quy mô có thể lớn tương ứng với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
giống nhau và như vậy thị hiếu của họ được thể hiện bằng hàm thỏa dụng
ngang tồn tại trong đó.
(utility function) sau đây:
Vì vậy, mô hình Thương mại nội ngành theo chiều ngang có thể chia
U=
v (c )
i
v‟>0, v”
i
0< < 1
( 2.2 )
i
Mô hình giả định rằng:
Dixit và Stiglitz (1977) nghiên cứu nhu cầu về sự đa dạng của sản
(1) hàng hóa ban đầu là n đã được mua
phẩm, lấy bối cảnh là một nền kinh tế đóng tuân thủ theo nguyên tắc cạnh
(2) giá thành của hàng hóa là bằng nhau
tranh không hoàn hảo của mô hình Chamberlin. Theo mô hình của 2 tác giả
(3) thu nhập của người tiêu dùng đại diện là I . Như vậy, người tiêu dùng chắc
này, thương mại xảy ra do tác động của lợi thế kinh tế theo quy mô, chứ
chắn đã mua các mặt hàng khác nhau với cùng một số lượng như nhau. Mỗi
không phải do tác động của khác biệt về nguồn lực. Mô hình của 2 tác giả
loại hàng là c¯ (c¯ = I / n). Mỗi một người tiêu dùng sẽ có mức độ thỏa dụng
được mục tiêu đó. Lợi nhuận bằng không chính là một đặc điểm của mô hình
mức độ thỏa dụng liên quan tới 2 hàng hóa nk và n như sau:
Chamberlin về cạnh tranh độc quyền.
U(nk) - U(n) = n c ( k 1 - 1)
(2.4)
Nếu trong trường hợp thứ 2 này, hàng hóa phong phú hơn, thì k > 1
và công thức 2.4 sẽ có giá trị dương. Nếu mua từng loại hàng hóa với số
lượng ít hơn (I/nk thay thế I/n), nhưng lại mua tăng số lượng hàng, thì
mức độ thỏa dụng sẽ tăng lên dù thu nhập là như nhau và giá tiền không
đổi. Điều này chứng minh tại sao hàng hóa phong phú lại làm chúng ta
i =
Pixi - ( xi ) w = 0
hóa i cân bằng với tổng doanh thu:
Pixi = ( xi ) w
( 2.8 )
Phương trình 2.8 có thể biểu diễn bằng cách khác khi giá tiền cân bằng
với chi phí trung bình để xác định giá tiền mà mỗi công ty đại diện sẽ đưa ra
thích thú.
sản xuất một loại sản phẩm khác biệt hóa và công ty này sẽ cố gắng tận
dụng vị thế độc quyền của mình trên một phân đoạn thị trường; nói cách
khác, công ty này sẽ tạo ra sự cân bằng giữa doanh thu cận biên với chi
Vì đáp số cho P, x và c sẽ bằng với giá trị của tất cả i, lợi nhuận bằng 0
trong mô hình Chamberlin có thể được đơn giản hóa bằng cách loại bỏ chỉ số
dưới là i. Cũng có thể đơn giản hóa hơn nữa bằng cách đặt w = 1.0.
P= x
đẳng và sự khác biệt hóa không tốn kém một đồng xu nào, nên sẽ không bao
giờ có 2 công ty cùng sản xuất một loại hàng như nhau trong mô hình của
Chamberlin. Do đó, đầu ra của một công ty sẽ là:
phí cận biên. Nếu tính tất cả các sản phẩm khác biệt hóa, thì số lượng
Xi = Lci
công ty sản xuất sẽ bằng số lượng sản phẩm cung cấp cho thị trường. Khi
Trong đó
đó với hàm thỏa dụng trong công thức 2.4, và hàm sản xuất trong công
thức 2.5, ta có công thức như sau:
Pi (xi)(1- 1/ei)= w
này, người tiêu đồng nhất với công nhân. Với cách định nghĩa này về xi, công
nền kinh tế của nước được nghiên cứu (home economy) về mọi phương
thức 2.10 có thể viết theo cách khác như sau:
diện. Giả định là phí vận tải bằng 0, thương mại 2 chiều đối với sản phẩm
P=
Lc
(2.13)
khác biệt hóa sẽ diễn ra nếu một loạt sản phẩm giống hệt nhau được sản
xuất riêng rẽ ở 2 quốc gia trên trước khi được trao đổi. (pre-trade). Bởi vì
Kierzkowski (1996) mô tả điều kiện cân bằng (ở công thức 2.6 và
không công ty nào có động lực để sản xuất một loại hàng giống hệt loại
2.13) trong hình minh họa 1 (trang 12) giống Krugman thể hiện năm 1979.
hàng của công ty khác, nên điều này sẽ dẫn đến một sự thay thế hoàn hảo
(pre-trade equilibrium): giá tiền và đầu ra của các loại hàng hóa giống hệt
kinh tế. Tuy vậy, nếu sử dụng toàn bộ nhân lực thì
nhau. Không quốc gia nào trong số hai quốc gia có lợi thế cạnh tranh trong
L= nli = n( xi )
(2.14)
-
Trong công thức trên, ta chưa biết về n (mức độ phong phú của sản
phẩm). Có thể tính n theo công thức sau:
n=
L
=
l0
(đã được tăng lên). Tổng số hàng hóa (nT ) sẵn sàng phục vụ tất cả người
tiêu dùng sẽ tăng tới mức:
L
L
=
x i
li
(2.15)
Trong đó: LH là lực lượng lao động của nước được nghiên cứu và LF
là lực lượng lao động tại quốc gia thứ 2. Và nh là số lượng hàng sản xuất tại
nước được nghiên cứu và nf là số hàng sản xuất tại nước thứ 2. Do đó, mặc
dù sự mở cửa thương mại không có tác dụng đối với mức sản lượng, hoặc
số lượng công ty ở 2 quốc gia, người tiêu dùng có gấp đôi lượng hàng hóa.
Họ chỉ mua một số hàng hóa theo thị hiếu. Nếu nT được công dân cả 2 nước
mua, nhưng chỉ có nh = nf được sản xuất ở mỗi quốc gia, chắc chắn phải có
thương mại 2 chiều giữa 2 nước thông qua việc trao đổi hàng hóa.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
15
16
Kết quả thu được từ thương mại trong mô hình Thương mại nội
tính đa dạng‟ của Chamberlin lại cho rằng tất cả hàng hóa đều đến tay
ngành theo chiều ngang cụ thể trên đây là việc tăng sản phẩm. Đây là kết
người tiêu dùng một cách bình đẳng. Người tiêu dùng được thỏa mãn từ
quả của một hình thức đặc biệt của hàm thỏa dụng. Nếu chi phí trên một
việc mua được nhiều sản phẩm hơn, chứ không phải là mua được sản phẩm
sản phẩm giảm do quy mô sản xuất tăng thì lợi ích sẽ đồng thời có được từ
lại đảm bảo rằng một vài người tiêu dùng mua được hàng hóa lý tưởng đối
khác biệt về nguồn lực ban đầu. Trong trường hợp đó, khi một vài công ty
với mình, số khác mua hàng hóa không lý tưởng đối với họ hoặc không
ở cả 2 nước sản xuất sản phẩm khác biệt hóa, Thương mại nội ngành sẽ
mua cái gì. Khi người tiêu dùng càng khó có thể tiếp cận hàng hóa lý
diễn ra do các nhà sản xuất độc quyền sẽ bán hàng ở cả 2 nước.
tưởng, số tiền họ sẵn sàng chi trả cũng giảm, tỷ lệ với độ khó tiếp cận hàng
1.2.1.2. Mô hình tân Hotelling
hóa lý tưởng. Xét về phương diện sản xuất, điều kiện cân bằng của nền
Giống như mô hình tân Chamberlin, về mặt cung, mô hình tân
kinh tế đóng trong mô hình tân Hotelling rất giống với điều kiện cân bằng
Hotelling dựa trên sự cạnh tranh độc quyền và sản phẩm khác biệt hóa theo
của mô hình tân Chamberlin. Khi doanh thu cận biên cân bằng với chi phí
chiều ngang. Tuy nhiên, về mặt cầu, thị hiếu tiêu dùng của mô hình tân
cận biên (lợi nhuận bằng 0) thì hiện tượng tối đa hóa lợi nhuận xảy ra với
việc có thể mua hàng họ ưa chuộng. Trong khi đó, phương pháp “chú trọng
góc độ thương mại, 2 nền kinh tế giống hệt nhau về mọi phương diện sẽ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
17
18
được nghiên cứu. Mỗi một nền kinh tế có 2 khu vực: khu vực sản xuất hàng
nào được nhập về. Đây cũng là yếu điểm lớn nhất của mô hình tân
hóa đồng nhất (homogenous goods) và khu vực sản xuất hàng hóa khác biệt
Chamberlin. Mô hình tân Hotelling giải quyết yếu điểm này bằng cách giải
hóa. Nếu hàng hóa đồng nhất được sản xuất với điều kiện lợi tức cố định
quyết sự khác biệt trong nguồn lực ban đầu và giả định rằng nguồn lực ban
nước xuất khẩu ròng (net exporter) sản phẩm khác biệt hoá; nước kia sẽ
được sản xuất trong nền kinh tế đóng, người tiêu dùng với các mô hình lý
trở thành nước nhập khẩu ròng (net importer). Để cân bằng thương mại,
tưởng c1, c2, c3, c4 thật sự may mắn; họ mua được đúng thứ họ thích nhất;
nước ít vốn hơn sẽ chỉ xuất khẩu hàng hoá đồng nhất. Do vậy, sẽ xuất hiện
những người khác trả cùng một số tiền như vậy để mua những thứ không
thương mại 1 chiều trong khu vực sản xuất hàng hoá đồng nhất và thương
phù hợp với sở thích của họ. Giả sử thương mại tự do diễn ra giữa nước
mại 2 chiều trong khu vực sản xuất sản phẩm khác biệt hoá vì mỗi loại
được nghiên cứu với 1 nước giống hệt nước này. Cũng có 4 công ty nước
hàng chỉ được sản xuất tại một quốc gia.
ngoài, nhưng thay vì sản xuất mặt hàng m1, m2 , m3, m4, họ tình cờ sản xuất
Kết quả là thương mại nội ngành đối với sản phẩm khác biệt hoá, thâm
4 mặt hàng khác mà một trong các mặt hàng đó nằm ở khoảng giữa m1 và
dụng vốn do lợi thế kinh tế theo quy mô và cạnh tranh độc quyền quyết định sẽ
nội ngành dựa trên thị trường độc quyền nhóm và sản phẩm khác biệt hoá
mại nội ngành. Tuy vậy, trong trường hợp 2 nền kinh tế giống hệt nhau như
theo chiều ngang. Mô hình đã chứng minh cho quan điểm rằng một thị trường
vậy, không chắc chắn mặt hàng nào được sản xuất trong nước và mặt hàng
độc quyền nhóm là nơi có thể diễn ra thương mại nội ngành theo chiều ngang.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
19
20
Trước khi đưa vào xem xét thương mại quốc tế dưới điều kiện độc
02 trường hợp. Trường hợp 1 là chỉ có 01 loại người tiêu dùng có nhu cầu
quyền nhóm, Eaton và Kierzkowski đã xây dựng nên các đặc điểm cơ bản của
về một mặt hàng cụ thể. Trường hợp 2 là có 2 loại người tiêu dùng, mỗi
Trong đó: Zi là hàng hoá do một người tiêu dùng i mua; pi là giá của sản
phẩm khác biệt hoá; và Y là thu nhập của người tiêu dùng. Hàm thoả dụng 2.18
nhập vào thị trường. Tuy nhiên, như đã nói ở trên, thâm nhập thị trường là
bước kế tiếp chứ không diễn ra đồng thời. Một công ty quyết định thâm
nhập thị trường với 1 sản phẩm cụ thể; công ty tiếp theo sẽ lấy sản phẩm
sẽ có đặc điểm như sau: Tối đa chỉ có một sản phẩm khác biệt hoá được mua.
của công ty trước làm căn cứ để quyết định xem có thâm nhập thị trường
Giá tối đa mà một người tiêu dùng i sẵn lòng trả là p với điều kiện là mặt hàng
đó hay không. Xét trường hợp có 2 người tiêu dùng, người tiêu dùng n1
có sẵn tương ứng với θi , giá tiền này giảm tuyến tính với khoảng là | θi - Zi |. Khi
muốn có sản phẩm θi, còn người tiêu dùng n2 muốn có sản phẩm θ2. θi và
giá của tất cả các ản phẩm khác biệt hoá lớn hơn p¯ - | θi - Zi |, người tiêu dùng sẽ
dùng toàn bộ thu nhập để mua sản phẩm A (hàng hoá đồng nhất).
Đứng về mặt sản xuất, việc sản xuất mặt hàng B có đặc trưng là lợi tức
tăng dần theo quy mô. Tổng chi phí sản xuất x sản phẩm khác biệt hoá B là:
C = k+ cx
(2.19)
θ2là hai sản phẩm khác biệt hóa theo chiều ngang. Số lượng các công ty
trong thị trường phụ thuộc vào k, c, n1, n2 , giá của các sản phẩm khác nhau
và khoảng cách kinh tế (nói cách khác, là mức độ khác biệt của hàm sản
giới hạn về số lượng hàng hóa người tiêu dùng có nhu cầu. Hãy xem xét
(Greenaway, 1987).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
21
22
Sau khi đưa ra các đặc điểm cơ bản của nền kinh tế theo kiểu tự cung
dùng để giải thích dòng Thương mại nội ngành giữa các nước phát triển.
tự cấp, Eaton và Kierzkowski (1984) giải thích sự dịch chuyển từ hình thức
Còn thương mại nội ngành giữa nước phát triển với nước đang phát triển,
tự cung tự cấp (autarky) sang hình thức trao đổi hàng hóa (trade) bằng cách
còn gọi là thương mại nội ngành theo chiều dọc, có những điểm khác biệt
mại nội ngành giữa các nước phát triển và đang phát triển.
nào không. Nếu, ví dụ, các nền kinh tế là giống hệt nhau, thì việc trao đổi
Hơn thế nữa, mô hình theo chiều dọc có thể giải thích thương mại nội
hàng hóa sẽ dẫn đến việc chỉ có một công ty sản xuất ra một mặt hàng nào
ngành mà không cần đến các yếu tố là lợi thế kinh tế theo quy mô, và cạnh
đó và mặt hàng đó sẽ có giá thành thấp hơn. Nếu mỗi một Công ty lại nằm
tranh không hoàn hảo và như vậy, mô hình này cũng không vô hiệu hóa mô
ở 1 quốc gia thì trong trường hợp này, rõ ràng chúng ta có thương mại nội
hình HOS. Trường hợp này không giống với mô hình theo chiều ngang,
ngành đối với sản phẩm khác biệt hóa theo chiều ngang hay còn gọi là
theo đó, sự tương tác giữa lợi thế kinh tế theo quy mô, khác biệt hóa sản
thương mại nội ngành theo chiều ngang.
phẩm (theo chiều ngang) và cạnh tranh không hoàn hảo là những nhân tố
Tuy nhiên, trong mô hình của Eaton và Kierzkowski, điều này không
quan trọng. (Tharakan và Kerstens, 1995)
nên mô hình tân Hecksher-Ohlin.
Sự khác biệt giữa mô hình theo chiều dọc và theo chiều ngang rất
Mặc dù không phổ biến như mô hình tân Hecksher-Ohlin, Shaked và
quan trọng. Mô hình Thương mại nội ngành theo chiều ngang thường được
Suttan (1984) đã xây dựng nên mô hình Thương mại nội ngành theo chiều
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
23
24
dọc, theo đó, số lượng các Công ty mang tính nội sinh (endogenous). Trong
ngành này có thể sản xuất một loạt sản phẩm với chất lượng khác nhau. Về
bài viết năm 1984, 2 tác giả chỉ ra rằng, không giống như mô hình tân
mặt cung, chất lượng sản phẩm do tỷ lệ (α) vốn-lao động trong sản xuất quyết
Falvey (1981) một lần nữa lý giải các điều kiện thương mại trong mô
người đầu tiên viết về mô hình này. Trong công thức 2x2x2 của của mô hình
hình tân Hecksher-Ohlin. Theo Falvey, thương mại diễn ra ở 2 nước (nước
HOS truyền thống, hai nguồn lực được sử dụng để sản xuất ra 2 loại hàng hóa
được nghiên cứu và nước thứ 2). Ngành sản xuất của 2 nước này lần lượt có
ở 2 quốc gia. Mô hình đó giả định rằng các nguồn lực khác nhau (các nguồn
số vốn là K và K*, mức lương là w và w*. Yếu tố vốn có tính chuyên biệt cho
lực khác nhau này dẫn đến sự khác biệt về giá sản xuất giữa các đối tác thương
ngành sản xuất và ổn định trên phạm vi toàn cầu nhưng lại tự do di chuyển
mại tiềm năng) chính là lý do dẫn đến trao đổi hàng hóa (trade). Mô hình HOS
trong quá trình sản xuất ra các sản phẩm chất lượng khác nhau của ngành
cũng liên quan đến lợi tức cố định theo quy mô. Falvey giữ nguyên 2 giả định
trong phạm vi quốc gia. Lợi tức từ vốn (lần lượt là r và r*) phải điều chỉnh để
chính của lý thuyết HOS, nhưng để mở rộng mô hình HOS này, ông chỉnh sửa
duy trì được toàn bộ nhân công của 2 nguồn vốn trên. Mỗi ngành sản xuất đều
nhau, nước được nghiên cứu vẫn có lợi thế so sánh ở các mặt hàng chất lượng
vốn là K và có thể thuê lao động L với mức lương là w. Khi sử dụng K và L,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
25
26
cao trong khi nước còn lại có lợi thế so sánh ở mặt hàng chất lượng thấp. Để
Quốc gia này sẽ xuất khẩu sản phẩm có chất lượng cao hơn chất lượng tối
tìm hiểu vấn đề này, Falvey (1981) xác định “chất lượng tối thiểu” α1 như sau:
thiểu (αi > α1) và nhập khẩu sản phẩm có chất lượng thấp hơn chất lượng
c ( 1) - c * ( 1) = 0
Hoặc
1 =
(2.22)
Ở công thức 2.24 có thể thấy nước được nghiên cứu có lợi thế so sánh khi
một vấn đề được mở rộng, đó là nước có dư nguồn vốn sẽ có lợi thế so
sánh về hàng chất lượng cao và lợi thế này càng lớn hơn khi chất lượng
được nâng lên nữa. Ngoài ra, mô hình này còn ngụ ý rằng có thể phân biệt
sản phẩm khác biệt hóa theo chiều dọc dựa vào tiêu chí chất lượng và giá
Vì:
thành. Mô hình của Falvey và Kierzkowski rất quan trọng vì nhiều thị
trường quốc tế có đặc trưng của thương mại nội ngành đối với sản phẩm
khác biệt hóa theo chiều dọc.
1.2.2.2. Mô hình của Shaked và Suttan
Do đó:
Trong một loạt bài viết (Shaked và Suttan 1982; 1983; 1984), Shaked
và Suttan đã nghiên cứu trường hợp “độc quyền nhóm tự nhiên” và thương
mại đối với sản phẩm khác biệt hóa theo chiều dọc. 2 tác giả tập trung vào
trường hợp số lượng các Công ty có thể gia nhập thị trường với một sản
Khi và chỉ khi:
phẩm mới, có chất lượng cao hơn nhưng bị giới hạn bởi cung và cầu của thị
trường. Theo Shaked và Suttan (1984), sẽ xuất hiện nhiều mặt hàng có chất
Từ công thức 2.24 có thể thấy rõ ràng là nước được nghiên cứu có
lượng nếu thu nhập (của người tiêu dùng) tăng, chi phí (nghiên cứu và triển
lợi thế so sánh về sản phẩm đòi hỏi nhiều vốn và bất lợi về chi phí đối với
hơn là do tăng lao động và nguyên liệu đầu vào - thì chỉ có một số lượng giới
hoá theo chiều dọc. Nhưng, nếu 2 nền kinh tế khác nhau, sự khác biệt về
hạn các công ty có thể tồn tại với thị phần khả quan và giá thành sản phẩm
phân phối thu nhập sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều công ty hơn tồn tại
lớn hơn chi phí biến đổi trên một đơn vị, ở thế cân bằng Nash về giá cả. Tình
trong điều kiện cân bằng hậu thương mại, trong đó, nước có thu nhập (bình
huống này được gọi là „độc quyền nhóm tự nhiên” (natural oligopoly)
quân) cao hơn sẽ chú trọng vào sản phẩm chất lượng cao và nước có thu
(Shaked và Suttan, 1984).
nhập (bình quân) thấp hơn sẽ chú trọng vào sản phẩm chất lượng thấp.
Với việc tham khảo các bài viết của Shaked và Suttan các năm 1982,
Nhìn chung, do việc trao đổi hàng hoá đẩy giá thành thấp xuống và người
1983, 1984, Williamson và Milner (1991) đã giải thích các đặc điểm tự
tiêu dùng lại thích hàng chất lượng cao, nên công ty có sản phẩm chất
cung tự cấp và trao đổi hàng hóa của mô hình Shaked và Suttan. Trong mô
công ty phải rời bỏ thị trường.
thu nhập càng giống nhau thì số lượng nhà sản xuất càng ít trong thị
Theo Williamson và Milner (1991), mô hình Shaked và Suttan phân
trường chung của 2 quốc gia. Kết quả này cũng tương tự với khái niệm
tích ảnh hưởng của việc trao đổi hàng hóa theo 2 phương pháp: phương
“thương mại mở cùng một lúc/ thương mại mở đồng thời” (trade overlap)
pháp nền kinh tế giống hệt nhau (identical economies) và phương pháp nền
theo giả thiết của Linder (1961).
kinh tế khác biệt (different economies). Nếu 2 nền kinh tế giống hệt nhau
1.2.3. Kết luận về các lý thuyết Thương mại nội ngành theo chiều dọc và
về mọi phương diện thì thị trường của cả 2 nền kinh tế này khi kết hợp lại
Thương mại nội ngành theo chiều ngang
vẫn chỉ phục vụ cho 2 công ty. Mặc dù có sự cạnh tranh về chất lượng và
Ở mục 1.2.1 và 1.2.2, rất nhiều phương pháp đã được sử dụng để giải
giá cả như đã nói ở trên, số lượng các công ty được hỗ trợ không liên quan
Thương mại nội ngành theo chiều dọc và chiều ngang và ngày càng có xu
gộp các dự đoán của các mô hình đó lại với nhau về một nhóm vì các giả định
hướng áp dụng phương pháp toán kinh tế.
của chúng khác nhau về thị hiếu của người tiêu dùng, lợi tức theo quy mô,
1.3.1. Các nghiên cứu mang tính tư liệu
điều kiện để thâm nhập thị trường, sự khác biệt hoá sản phẩm và chi phí.
Bảng 1 sau đây tóm tắt các mô hình lý thuyết đã được đề cập ở các phần trên
Các nghiên cứu dạng này tương đối dễ hiểu so với các nghiên cứu sử
dụng phương pháp toán kinh tế.
đây (Memis, 2001).
Phạm vi nghiên cứu của các nghiên cứu này đã đề cập đến: nền kinh tế
của các nước phát triển (ví dụ như Aquino, 1978; Caves, 1981; Greenaway,
1983; Balassa, 1986; Jordan, 1993), nền kinh tế của các nước kém phát triển
(ví dụ như Balassa, 1979; Lundberg, 1988; Schuller, 1995) và nền kinh tế kế
hoạch hoá tập trung (Lee và Lee, 1993; Greenaway, 1984; Hellvin, 1996).
Bên cạnh việc cung cấp một ngân hàng dữ liệu to lớn về các bằng chứng về
thương mại nội ngành, các nghiên cứu này cũng cung cấp thông tin tổng hợp
đầy đủ về đặc điểm của thương mại nội ngành. Ví dụ, mức độ tăng trưởng của
các cấp độ thương mại nội ngành dường như liên quan trực tiếp đến mức độ
tăng trưởng của thu nhập trên đầu người; các cấp độ thương mại nội ngành ở
các nước phát triển có vẻ cao hơn ở các nước kém phát triển và các nước có
nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung; Thương mại nội ngành dường như cao
tính toán thương mại nội ngành theo chiều dọc và theo chiều ngang tại một
hoá sản phẩm và lợi thế kinh tế theo quy mô thường phổ biến hơn trong các
điểm cụ thể hoặc tại các thời điểm ở một/nhiều quốc gia. Còn nhóm 2 cố gắng
hoạt động sản xuất. Tuy nhiên, vượt qua khỏi những suy nghĩ đơn thuần của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
31
32
chủ nghĩa kinh nghiệm và kiểm tra các giả thiết liên quan đến mức độ tăng
Trong mô hình Thương mại nội ngành theo chiều ngang của mình, 3
trưởng Thương mại nội ngành hoặc loại hình Thương mại nội ngành là điều
tác giả trên hy vọng kiểm tra được mô hình Chamberlin-Heckscher-Ohlin
cần thiết để đi đến các kết luận chuẩn mực hơn. (Greenaway và Milner, 1987)
tích theo phương pháp toán kinh tế gặp một số khó khăn về phương pháp
(2.25)
Trong đó:
và kiểm chứng. Ví dụ, đích thực có khó khăn trong các mô hình kiểm
= Tỷ trọng của thương mại nội ngành theo chiều ngang trong thương
chứng cụ thể, các mô hình vốn chỉ khác nhau về mặt giả định. Ngay cả khi
HBjk
đã cụ thể hoá một mô hình để tiến hành kiểm chứng, trong mô hình đó vẫn
mại 2 chiều của một quốc gia trong ngành sản xuất j với quốc gia k
có rất nhiều biến rất khó giải quyết, ví dụ như khác biệt hoá sản phẩm và
Y = Thu nhập quốc gia (i = nước sở tại, k = đối tác thương mại)
lợi thế kinh tế theo quy mô. Mặc dù gặp phải những khó khăn trên, có
N = Quy mô dân số
khoảng 1 tá các phân tích theo phương pháp toán kinh tế kiểm chứng giả
PDj = Mẫu (đại diện) cho sự khác biệt hoá sản phẩm theo chiều ngang trong
ngành theo chiều ngang như sau:
quan đến các đặc điểm quốc gia và ngành của các yếu tố quyết định thương
Các đặc điểm của quốc gia:
mại nội ngành theo chiều dọc và thương mại nội ngành theo chiều ngang. Với
1. Sự khác biệt liên quan đến vốn / công nhân (một mẫu cho thu nhập trên
mục đích đó, Greenaway, Milner và Elliot (1999) đã xây dựng các mô hình
đầu người) giữa 2 quốc gia càng nhỏ thì thị phần của thương mại nội
theo phương pháp toán kinh tế cho thương mại nội ngành theo chiều dọc và
thương mại nội ngành theo chiều ngang, trong đó, các đặc điểm về quốc gia
thương mại nội ngành theo chiều ngang càng lớn (α2 > 0)
và về ngành được coi là các biến giải thích.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ngành theo chiều ngang càng lớn.(α1 < 0)
2. Quy mô trung bình của thị trường của 2 nước càng lớn thì thị phần của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Yk +
2 j k + 3 PDj + 4 MSj + 5 SEj + 6 MNEj + ej
Nk
2
(2.26)
nội ngành theo chiều ngang trong ngành đó càng lớn (α5 > 0 )
3. Quy mô hiệu quả tối thiểu càng nhỏ, càng có nhiều Công ty, càng có
nhiều sản phẩm khác biệt hoá theo chiều ngang, và như vậy thị phần
của thương mại nội ngành theo chiều ngang càng lớn ( α6 < 0)
4. Các Công ty đa quốc gia càng tham gia nhiều (vào thị trường) thì thị
phần của thương mại nội ngành theo chiều ngang càng lớn ( α7 > 0)
Các mô hình Thương mại nội ngành theo chiều dọc ít hơn mô hình
thương mại nội ngành theo chiều ngang vì nó khó điều chỉnh hơn về mặt lý
Trong đó:
VBjk = Thị phần của thương mại nội ngành theo chiều dọc trong tổng
thương mại song phương (gross bilateral trade) của một nước trong ngành sản
xuất j với quốc gia k
Trong phương trình hồi quy này, Thương mại nội ngành theo chiều dọc
là biến kiểm soát (control variable)
Và:
thuyết. Các mô hình này xuất xứ từ những đóng góp có ảnh hưởng sâu rộng
của Falvey (1981) và Shaked và Suttan (1984). Mô hình Falvey dự đoán rằng
Với điều kiện đó, 3 tác giả đã đưa ra đặc điểm của quốc gia và ngành
thị phần của thương mại nội ngành theo chiều dọc sẽ càng lớn ở cả 2 quốc gia
ngành theo chiều dọc càng lớn (β6 > 0).
(Greenaway, Milner và Elliott, 1999).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
35
36
CHƢƠNG 2: PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Theo Greenaway, Milner và Elliott (1999), tính mập mờ, không rõ ràng
của β4 và β5 xảy ra do sự khác biệt trong các giả định của Falvey (1981),
Shaked và Suttan (1984) liên quan đến lợi thế kinh tế theo quy mô và kết cấu
thị trường.
Kết quả là, mặc dù sự khác biệt trong các mô hình lý thuyết gây ra một
số khó khăn, việc phân chia thành 2 loại khác biệt hoá theo chiều ngang và
chiều dọc lại thúc đẩy các phân tích theo chủ nghĩa kinh nghiệm và tạo điều
kiện cho việc tìm hiểu tính vững chắc của các mô hình thay thế.
1.3.3. Kết luận về phân tích theo chủ nghĩa kinh nghiệm về thương mại nội
ngành theo chiều dọc và thương mại nội ngành theo chiều ngang
2.1. Thiết kế nghiên cứu
2.1.1. Địa điểm nghiên cứu
mại nội ngành theo chiều ngang. Chương sau sẽ đề cập đến việc đo lường
và định lượng. Phương pháp định tính được áp dụng để phân tích cơ cấu và xu
thương mại nội ngành, thương mại nội ngành theo chiều dọc và thương mại
hướng thương mại nội ngành, phương pháp định lượng được áp dụng để phân
nội ngành theo chiều ngang.
tích các yếu tố tác động đến thương mại nội ngành giữa Việt Nam và mười
nước bạn hàng của Việt Nam trên thế giới.
2.2. Mô hình
Dựa trên nghiên cứu của Stone và Lee (1995), đề tài này ước tính chuyển
dạng logit (logit transformation) như sau:
IIT ijt
ln
Z u ijt
1 IIT ijt
Trong đó: Z là vector của các biến giải thích, bao gồm cả hệ số chặn, β là
vector của các hệ số tương ứng, và uijt là phần sai số.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
IIT ij wijk 1
trong đó wijk n
(X M )
i 1
( X ijk M ijk )
ijk ijk
i 1
- Thương mại nội ngành theo chiều ngang và theo chiều dọc: Thương
mại nội ngành (IIT) bao gồm hai hợp phần. Hợp phần thứ nhất là thương mại
Trong đề tài này, biến phụ thuộc bao gồm: mức độ thương mại nội ngành
nội ngành theo chiều ngang (HIIT). Thương mại nội ngành theo chiều ngang
(IIT), thương mại nội ngành theo chiều ngang (HIIT) và thương mại nội
xảy ra khi xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời hàng hóa tương tự như nhau do
ngành theo chiều dọc (VIIT).
sự khác biệt hóa sản phẩm (sự khác biệt hóa theo chiều ngang). Hợp phần thứ
- Mức độ thương mại nội ngành (IITijt): Để đánh giá mức độ thương
hai của thương mại nội ngành là thương mại nội ngành theo chiều dọc (VIIT).
mại nội ngành giữa Việt Nam với phần còn lại của thế giới, tác giả sử dụng
Xijk là giá trị xuất khẩu hàng hóa i từ quốc gia j sang quốc gia k.
Mijk là giá trị nhập khẩu hàng hóa i của quốc gia j từ quốc gia k.
Chỉ số IITij nhận giá trị từ 0 đến 1. Chỉ số này càng cao thì càng chứng
tỏ mức độ thương mại nội ngành càng cao. Chỉ số IITij=0 cho thấy thương
mại giữa hai quốc gia hoàn toàn là thương mại liên ngành. Ngược lại, chỉ
số IITij=1 cho thấy thương mại giữa hai quốc gia hoàn toàn là thương mại
nội ngành.
2003). Theo cách tiếp cận này, hàng hóa được phân loại theo danh mục tiêu
chuẩn ngoại thương (SITC Revision 3). Cấp 2 chữ số được sử dụng để xác
định ngành công nghiệp, còn cấp 4 chữ số được sử dụng để xác định từng mặt
hàng trong cùng một ngành. Tại cấp 2 chữ số, tổng thương mại nội ngành
(IIT) trong từng ngành có thể được tính toán thông qua việc xác định giá trị
xuất khẩu ứng với giá trị nhập khẩu. Sau đó, tại cấp 4 chữ số, phần giá trị xuất
khẩu ứng với giá trị nhập khẩu thể hiện thương mại về sản phẩm tương tự như
nhau. Đây chính là thương mại nội ngành theo chiều ngang (HIIT). Như vậy,
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
39
40
phần còn lại chính là thương mại về hàng hóa trong cùng một ngành nhưng lại
(DPCIijt): Balassa và Bauwens (1987) cho rằng sự khác biệt về mức thu nhập
ngành i (g = 1,…, g).
bình quân đầu người (DPIijt) thể hiện sự khác biệt về cơ cấu cầu. Điều đó có
2.2.1.2. Biến độc lập
- Mức thu nhập bình quân đầu người (PCIit, PCIjt): Theo Barker
(1977), các quốc gia có mức thu nhập bình quân đầu người cao thì cơ cấu về
cầu sẽ phức tạp và có sự khác biệt nhiều hơn, bao gồm cả nhu cầu về các sản
phẩm có sự khác biệt về chất lượng (theo chiều dọc). Nhu cầu của khách hàng
có mức thu nhập bình quân đầu người thấp thường không lớn và tương đối
chuẩn hóa đối với các đặc điểm của sản phẩm. Balassa and Bauwens (1998)
đã đưa ra được minh chứng về mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa IIT và mức thu
nhập bình quân đầu người. IIT, HIIT và VIIT có quan hệ tỷ lệ thuận với mức
thu nhập bình quân đầu người (PCIijt)1. Trong đề tài này, mức thu nhập bình
quân đầu người của Việt Nam và đối tác thương mại (USD) được sử dụng để
đại diện cho biến này.
nghĩa là khi mức thu nhập bình quân đầu người của hai quốc gia như nhau thì
cơ cấu cầu của hai quốc gia này sẽ trở nên tương đồng với nhau hơn. Sự
tương đồng trong cơ cấu cầu sẽ kích thích xuất khẩu những sản phẩm trong
nước có sự khác biệt và nhập khẩu sản phẩm nước ngoài có sự khác biệt. Điều
này sẽ tạo cơ hội khai thác lợi thế theo quy mô, do đó thúc đẩy thương mại
nội ngành (IIT) và thương mại nội ngành theo chiều ngang (HIIT). Dựa trên
cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu thực nghiệm (Balassa và Bauwens,
1987) IIT và HIIT có quan hệ tỷ lệ nghịch với sự khác biệt về thu nhập bình
quân đầu người, còn VIIT có quan hệ tỷ lệ thuận với mức thu nhập bình quân
đầu người. Sự khác biệt về thu nhập giữa Việt Nam và đối tác thương mại
được tính toán như sau:
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
41
42
- Khoảng cách về mặt địa lý giữa các quốc gia: Khoảng cách giữa các
quốc gia được coi là một yếu tố quan trọng quyết định mức độ thương mại nội
ngành . Theo nghiên cứu của Krugman (1979, 1980) chi phí vận tải càng lớn sẽ
càng làm giảm khối lượng thương mại, bao gồm thương mại nội ngành và
thương mại liên ngành. Lý do là khoảng cách giữa hai quốc gia càng xa nhau thì
chi phí về thông tin và chi phí giao dịch càng cao. Ngoài ra, trong rất nhiều
trường hợp, cơ cấu sản xuất và cơ cấu cầu của các quốc gia láng giềng thường
giống nhau hơn là các quốc gia có khoảng cách về mặt địa lý xa nhau.
Trong đề tài này, biến “Khoảng cách” (DISTij) được đưa vào mô hình và
dự kiến có quan hệ tỷ lệ nghịch với IIT, HIIT, và VIIT. Dựa trên nghiên cứu
của Matthews (1998), biến DISTij được xác định tính toán như sau:
DISTij
GDISTij * GDPj
thấp thường có mức độ thương mại nội ngành cao. Độ mở của nền kinh tế
được tính bằng tỷ trọng của xuất khẩu trong GDP.
- Đất liền (LOCKj): Quốc gia không tiếp giáp với biển (đó là quốc gia có
đất liền bao quanh)
cho rằng sự khác nhau giữa các hệ số chặn là do sự chọn mẫu ngẫu nhiên. Mô
GDP
- Mất cân bằng trong thương mại giữa các quốc gia (TIMBijt): Thông
thường các quốc gia có kim ngạch xuất khẩu giống nhập khẩu thì mức độ
thương mại nội ngành cũng lớn hơn, và ngược lại.
hình này được thể hiện dưới dạng sau đây:
IIT ijt
ln
0 Z wijt
1 IIT ijt
- Mức độ tập trung thương mại (TIjt): Xét về mặt lý thuyết, hai quốc gia
Trong phương trình trên 0 là hệ số chặn bình quân, còn wit là sai số đa
có mức độ tập trung thương mại lớn thì điều đó cũng có nghĩa là tổng mức
phức (wijt = μij + uijt). μi là hiệu ứng ngẫu nhiên, và uijt là phần sai số còn lại
lưu chuyển ngoại thương cũng lớn. Do đó, nếu các yếu tố khác không đổi thì
(bao gồm sai số chuỗi và sai số chéo). Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên đòi hỏi μ i
mức độ thương mại nội ngành của các quốc gia này cũng thường lớn hơn so
thắng lợi to lớn và thành tựu đáng kể trong nền kinh tế của Việt Nam. Kinh tế
tăng trưởng, đời sống của người dân Việt Nam đã được nâng cao một cách
3.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
Vị trí địa lý: Việt Nam là một nước nằm ở phía đông bán đảo Đông
đáng kể. Năm 1995 Việt Nam đã chính thức gia nhập Hiệp hội các Quốc gia
dương có tổng diện tích là 331.114 km , phía bắc tiếp giáp Trung Quốc, phía
Đông Nam Châu á (ASEAN). Đó là một điều kiện thuận lợi để phát triển kinh
tây tiếp giáp Lào và Campuchia, phía đông tiếp giáp Biển Đông, phía đông và
tế và hội nhập vào khu vực và thế giới.
2
nam tiếp giáp Thái Bình Dương. Ở vị trí này, Việt Nam là một đầu mối giao
Hiện nay, kinh tế Việt Nam phát triển trên nhiều lĩnh vực, từ xuất khẩu
thông quan trọng giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương. Đường bờ biển
cho đến thu hút đầu tư nước ngoài, thu hút khách du lịch quốc tế. Sản xuất
của Việt Nam dài khoảng 3.260 km.
công nghiệp, nông nghiệp tiếp tục duy trì tỷ lệ tăng trưởng cao và đi dần vào
Đức được sử dụng trong giao dịch quốc tế.
điện, nước, khí đốt. Cơ cấu ngành có sự chuyển dịch tốt: Tăng tỷ trọng nhóm
Tính đến tháng 4/2009, dân số nước ta là 85.789.573 triệu người,
ngành công nghiệp chế biến; Giảm tỷ trọng nhóm ngành công nghiệp khai thác
đứng thứ 3 Đông Nam Á và thứ 13 trên thế giới. Mật độ dân số: 260
và công nghiệp sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước...Các sản phẩm chủ yếu
người/km2 (2008), phân bố không đều giữa đồng bằng và miền núi: Đồng
của ngành công nghiệp là: Dệt may, giày da, thép, điện tử, dầu thô...
bằng chiếm 1/4 diện tích - chiếm 3/4 dân số, giữa nông thôn và thành thị:
dân số thành thị chiếm 29,6%, dân số nông thôn chiếm 70,4% (năm 2009).
Khu vực Đông Nam Bộ có dân số thành thị chiếm 57,1%. Tại đồng bằng
Hệ thống hành chính: Việt Nam là quốc gia theo chế độ Xã hội Chủ nghĩa
do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, hoà bình và ổn định. Quốc hội là cơ quan
quyền lực cao nhất, có quyền lựa chọn ra Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ.
Sông Hồng, dân số thành thị chiến 29,2%.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
FDI trong quí I/2012 là gần 12,8 tỷ USD, tăng 24% so với cùng kỳ năm trước
nhập khẩu hàng hoá của cả nước trong tháng 3/2012 đạt 18,53 tỷ USD, tăng
và chiếm 52% kim ngạch nhập khẩu cả nước.
9,8% so với tháng trước. Trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 9,48 tỷ USD,
3.2.2. Một số nhóm hàng xuất khẩu chính
tăng 14,2 %; nhập khẩu là 9,06 tỷ USD, tăng 5,6% so với tháng trước. Cán
cân thương mại hàng hoá tháng 3 đạt mức thặng dư 423 triệu USD.
Theo ghi nhận của Tổng cục Hải quan thì tính đến hết quí I/2012, tổng
trị giá xuất nhập khẩu hàng hoá cả nước là 49,39 tỷ USD, tăng 13,7% so với
cùng kỳ năm trước; trong đó xuất khẩu là 24,81 tỷ USD, tăng 24,2% và nhập
Gạo: Số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan cho thấy trong tháng 3/2012,
lượng gạo xuất khẩu đạt 604 nghìn tấn và trị giá đạt 279 triệu USD, tăng 34,7% về
lượng và tăng 27,1% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết 3 tháng/2012, tổng
lượng gạo xuất khẩu của cả nước đạt 1,3 triệu tấn, trị giá đạt 644 triệu USD, giảm
32% về lượng và giảm 33,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2011.
khẩu là 24,58 tỷ USD, tăng 4,8%. Cán cân thương mại hàng hoá của Việt
Nam quí I/2012 đã thặng dư 224 triệu USD.
Biểu đồ 3.2: Xuất khẩu gạo sang Trung Quốc năm 2010-2011
và quý I/2012
“Nguồn: Tổng Cục Hải quan, 2012”
Biểu đồ 3.1: Diễn biến xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thƣơng mại hàng
xuất khẩu dầu thô cả nước đạt 1,73 triệu tấn, giảm 10,4% và trị giá đạt 1,68 tỷ
3/2012 là 187 nghìn tấn, trị giá đạt 427 triệu USD, giảm 7,3% về lượng và
USD, tăng 7,5% so với cùng kỳ năm 2011. Dầu thô của Việt Nam chủ yếu
tăng 3,4% về trị giá so với tháng trước. Tính đến hết quý I năm 2012 lượng cà
được xuất khẩu sang Nhật Bản: 738 nghìn tấn, tăng gấp hơn 6 lần; sang Trung
phê xuất khẩu đạt 500 nghìn tấn và trị giá đạt 1,07 tỷ USD, giảm 12,8% về
Quốc: 256 nghìn tấn, tăng 10,2%; sang Ôxtrâylia: 255 nghìn tấn, giảm
lượng và giảm 11,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.
18,4%; sang Malaixia: 192 nghìn tấn, giảm 46,2% so với cùng kỳ năm trước.
Cao su: tháng 3/2012, lượng cao su xuất khẩu đạt 55 nghìn tấn, trị giá
Than đá: lượng xuất khẩu trong tháng là 1,35 triệu tấn, tăng 16,9% so
đạt 181triệu USD, giảm 37,8% về lượng và giảm 28,2% về trị giá so với
với tháng trước và trị giá đạt 120 triệu USD. Hết quý I/2012, cả nước xuất
tháng trước. Tính đến hết tháng 3/2012, tổng lượng xuất khẩu mặt hàng này
khẩu 3,19 triệu tấn than đá, tăng 37,7% và trị giá đạt 286 triệu USD, tăng
USD, tăng 3 lần; Ảrập Xêút: 197 triệu USD, tăng hơn 3 lần; Nga: 127 triệu
USD, tăng 42,1% so với cùng kỳ năm 2011.
Máy vi tính, sản phẩm điện tử & linh kiện: trong tháng xuất khẩu nhóm
Thị trường dẫn đầu nhập khẩu thuỷ sản của Việt Nam vẫn là EU với
hàng này là 658 triệu USD, tăng 20,1% so với tháng trước và nâng tổng kim
260 triệu USD, giảm 7,8%; tiếp theo, thị trường Hoa Kỳ với 244 triệu USD,
ngạch xuất khẩu nhóm hàng này 3 tháng/2012 đạt 1,63 tỷ USD, tăng 82,9%
tăng 22,5% ; Nhật Bản: 222 triệu USD, tăng 31,3%; Hàn Quốc: 109 triệu
so với cùng kỳ năm 2011 (tương đương tăng 738 triệu USD về số tuyệt đối).
USD, tăng 23,5%;…
Trong ba tháng đầu năm nay, xuất khẩu nhóm hàng này sang Trung Quốc đạt
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
49
so với cùng kỳ năm 2011. Trong 3 tháng qua, Hoa Kỳ, EU và Nhật Bản tiếp
Máy móc, thiết bị, dụng cụ & phụ tùng: Kim ngạch nhập khẩu nhóm
tục là 3 đối tác lớn nhất của hàng dệt may Việt Nam với kim ngạch và tốc độ
hàng này trong tháng là 1,24 tỷ USD, tăng 4,6% so với tháng 2/2012. Quý
tăng so với cùng kỳ năm 2011 lần lượt là 1,68 tỷ USD và 15,2%; 486 triệu
I/2012, tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng này là 3,37 tỷ USD, giảm 2,9%
USD và 5,4%; 444 triệu USD và 33,3%. Tổng kim ngạch hàng dệt may xuất
so với quý I/2011; trong đó khối các doanh nghiệp FDI nhập khẩu 1,79 tỷ
sang 3 thị trường này đạt 2,61 tỷ USD, chiếm tới gần 80% tổng kim ngạch
USD, tăng 30,7% và khối các doanh nghiệp trong nước nhập khẩu 1,58 tỷ
xuất khẩu hàng dệt may của cả nước.
USD, giảm 24,9%. Việt Nam nhập khẩu nhóm hàng này chủ yếu từ các thị
Phương tiện vận tải & phụ tùng: trong tháng xuất khẩu là 363 triệu
USD, tăng 27,3% so với tháng trước, nâng trị giá xuất khẩu nhóm hàng này
trong quý 1 lên 941 triệu USD, tăng 58,3% so với quý I/2011 (tương đương
tăng 346 triệu USD).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
51
52
tấn, giảm 28,5% so với cùng kỳ năm trước với trị giá nhập khẩu đạt 261
cả nước lên 1,8 triệu tấn, tăng 7,3%, trị giá đạt 1,456 tỷ USD, tăng 6,8%
triệu USD, giảm 15,2%.
so với quý I/2011.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường lớn nhất cung cấp phân bón cho Việt
Lượng phôi thép nhập khẩu trong tháng 3 là 43,4 nghìn tấn, tăng nhẹ so
Nam trong quý I/2012 với 252 nghìn tấn, giảm 31,2% và chiếm gần 42% tổng
với tháng trước, nâng lượng nhập khẩu trong quý I/2012 lên 112 nghìn tấn,
lượng phân bón cả nước nhập về. Tiếp theo là Nhật Bản: 93 nghìn tấn, tăng
giảm 59,4%, trị giá đạt 72,5 triệu USD, giảm 57,7% so với cùng kỳ năm trước.
nhất cung cấp nhóm hàng hóa chất cho Việt Nam trong 3 tháng qua với trị giá là
cấp ô tô nguyên chiếc cho Việt Nam với hơn 3,56 nghìn chiếc, giảm 49,2% và
175 triệu USD, tăng 22,8% và chiếm ¼ tổng kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng
chiếm 48,6% tổng lượng ô tô nguyên chiếc nhập khẩu của cả nước. Tiếp theo
này của cả nước. Tiếp theo là Đài Loan: 105 triệu USD, giảm 17%; Hàn Quốc: 81
là Thái Lan: gần 1,18 nghìn chiếc; Ấn Độ: 927 chiếc; Trung Quốc: 605 chiếc…
triệu USD, tăng 46,5% và Thái Lan: 79 triệu USD, tăng 31,1% so với quý I/2011.
Nhóm nguyên phụ liệu dệt may, da, giày: Trong tháng, nhập khẩu nhóm
hàng này là 1,09 tỷ USD, tăng 34,1% so với tháng trước, nâng tổng trị giá
nhập khẩu nhóm hàng này trong quý I/2012 lên 2,64 tỷ USD, giảm 6,2% so
với cùng kỳ năm 2011. Trong đó, trị giá vải nhập khẩu là: 1,44 tỷ USD, giảm
,4%; nguyên phụ liệu: 665 triệu USD, tăng 3,3%; bông: 208 triệu USD, giảm
34,9% và xơ, sợi là 325 triệu USD, giảm 16,8%.
Trong quý I/2012, Việt Nam nhập khẩu nhóm mặt hàng này chủ yếu từ
Trung Quốc với 818 triệu USD, giảm 3,5%; Hàn Quốc: 441 triệu USD, giảm
6%; Đài Loan: 437 triệu USD, giảm 13,8%; Nhật Bản: 155 triệu USD, tăng
9,1%;…
Sắt thép các loại: Lượng nhập khẩu trong tháng là 613 nghìn tấn,
giảm 11,8% so với tháng trước, nâng tổng lượng nhập khẩu sắt thép của
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
điện và cáp điện. Tổng kim ngạch xuất khẩu vẫn còn giảm 11,4%; nếu tháng
khẩu của Việt Nam đạt 56,6 tỷ USD, năm 2010 đạt 71,63 tỷ USD tăng 25,5
12 tới chỉ đạt 4,8 tỷ USD thì cả năm chỉ đạt 56,2 tỷ USD, vẫn còn giảm ở mức
% mức thực hiện 2009.
hai chữ số - tức là không đạt được mức điều chỉnh tăng 3% và vẫn cao hơn
Mười tháng năm 2009, kim ngạch xuất khẩu đạt 46.606 triệu USD, kim
tốc độ giảm theo dự kiến gần đây. Sự sụt giảm này vẫn có các nguyên nhân về
ngạch nhập khẩu đạt 55.053 triệu USD và nhập siêu 8.448 triệu USD, bằng
cơ cấu xuất khẩu, về thị trường, về giá cả và quan trọng nhất vẫn là hiệu quả
18,1% kim ngạch xuất khẩu. Bước sang tháng 11, kim ngạch xuất khẩu đạt
và sức cạnh tranh. Về nhập khẩu, tuy giảm nhưng quy mô vẫn lớn hơn xuất
4,80 tỷ USD (giảm 4,5% so với tháng 10); kim ngạch nhập khẩu đạt 6,55 tỷ
khẩu. Trong các mặt hàng nhập khẩu, ngoài những mặt hàng thiết bị máy
USD (giảm 1,1% so với tháng 10, thấp hơn tốc độ giảm của xuất khẩu), nên
móc, nguyên nhiên vật liệu (như lúa mỳ, phân bón, chất dẻo, giấy, sợt dệt,
chiếm đến 1/3 thời gian nên tính chung kim ngạch xuất khẩu 2 tháng năm
cực đến cán cân thanh toán, tạo sức ép tăng tỷ giá. Cạnh đó, nhập siêu giảm
2010 chỉ đạt 8,7 tỉ USD, giảm 2,2% so cùng kỳ.
so với cùng kỳ thì sức ép đối với cán cân thanh toán, đối với tỷ giá không
Xuất nhập khẩu trong các tháng đầu năm: Sau khi xuất siêu 220 triệu
phải chủ yếu đến từ nhập siêu, mà đến từ các yếu tố khác, trong đó có việc
USD trong quý 1, kim ngạch xuất nhập khẩu quay lại tình trạng nhập siêu trong
giảm nguồn cung từ đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp nước ngoài, kiều hối, du
tháng 4 với do khó khăn tại những thị trường xuất khẩu chính cũng như giá
lịch,... và quan trọng hơn là tình trạng găm giữ ngoại tệ của các doanh nghiệp
hàng hóa nông sản xuất khẩu giảm. So với cùng kỳ năm 2011 xuất khẩu đạt
và cá nhân cùng với tâm lý lo ngại sự mất giá của đồng tiền quốc gia. Về xuất
33.4 tỷ VND tăng 21.6% trong khi nhập khẩu đạt 33.6 tỷ USD tương đương
khẩu, có yếu tố dầu thô: tháng 11 giảm 424 nghìn tấn, tương đương với 218
mức tăng 4.4%; trong cơ cấu giảm nhập khẩu các nhóm hàng có kim ngạch
Thương mại nội ngành chế bến (Chỉ số IIT) của Việt Nam với các nước
đối tác được đem ra phân tích có biến động nhưng với xu hướng ngày càng
Nếu so sánh với nhập siêu quý 1/2011 là 3 tỷ USD, nhập siêu trong 4
tháng đầu năm 2012 là hoàn toàn tích cực với tình hình nhập siêu như hiện tại
phát triển theo thời gian. Điều đó khẳng định xuất khẩu, nhập khẩu sản phẩm
từ ngành chế biến của nước ta đang phát triển.
cán cân vãng lai thặng dư khoảng 2 tỷ USD trong khi cán cân tài chính và vốn
Trong mười nước là bạn hàng của Việt Nam từ năm 2000 đến 2010,
cũng đạt tình trạng thặng dư đưa tổng cán cân thanh toán thặng dư trên 2 tỷ
Nhật Bản là nước có quan hệ thương mại nội ngành chế biến lớn nhất, đạt
USD so với thâm hụt của cùng kỳ năm 2011 là 126 triệu USD. Nếu tình hình
trung bình năm là 0,493, thương mại nội ngành tương đối ổn định và phát
xuất nhập khẩu được duy trì như trong các tháng vừa qua, tỷ lệ nhập siêu trên
triển, thể hiện mối quan hệ thương mại rất phát triển giữa hai nước. Tiếp sau
tổng giá trị xuất khẩu sẽ ở dưới 5%.
đó là hai nước đối tác thương mại ngành hàng chế biến ổn định phát triển là
Tuy thâm hụt thương mại được thu hẹp góp phần làm tăng dự trữ ngoại
với 10 nƣớc bạn hàng chủ yếu
Năm
Quốc gia
Trung Quốc
Nhật Bản
Hàn Quốc
Ấn Độ
HongKong
Canada
Denmark
Bulgaria
Campuchia
Malaysia
2000
0,083
0,424
0,219
0,068
0,372
0,059
0,024
0,000
0,050
0,802
2001
0,144
0,441
0,073
0,257
2004
0,159
0,516
0,179
0,095
0,294
0,088
0,231
0,024
0,066
0,221
2005
0,158
0,514
0,181
0,130
0,276
0,084
0,280
0,097
0,055
0,310
2006
0,148
0,519
0,024
0,344
2009
0,185
0,534
0,227
0,418
0,342
0,156
0,241
0,062
0,024
0,330
"Nguồn: Tính toán của tác giả dựa trên số liệu của UNSD".
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
mặt hàng chế biến với Việt Nam. Thương mại nội ngành liên tục tăng qua các
2010
0,266
0,532
0,232
0,382
0,264
0,135
nói lên tại Việt Nam và các nước đưa vào nghiên cứu với sự tồn tại của
nước bạn hàng chủ yếu của Việt Nam vào năm 2000 đạt 0,372, nhưng sau đó
thị trường cạnh tranh độc quyền và sự đa dạng hóa trong thị hiếu của
giảm dần đến năm 2010 là 0,264.
người tiêu dùng thì xuất khẩu và nhập khẩu về sản phẩm có chất lượng
- Các nước có chỉ số IIT cao và tương đối ổn định, thể hiện kinh tế xuất
tương tự như nhau, nhưng lại có đặc điểm khác nhau ngày càng phát triển.
nhập khẩu về sản phẩm chế biến phát triển ổn định đó là Malaysia và Hàn
Trong mười nước có quan hệ mua bán sản phẩm chế biến với Việt Nam
Quốc. Trong năm năm gần nhất Malaysia đều đạt chỉ số từ 0,31 đến 0,34. Hàn
thì Nhật Bản là nước có mức độ thương mại nội ngành chế biến theo
Quốc trong mười một năm liên tục đều đạt chỉ số IIT trong khoảng 0,21 đến
chiều ngang là cao nhất, trung bình đạt mức 0,254/năm. Malaysia chỉ ở
0,24, tuy nhiên trong các năm có biến động không đáng kể.
mức 0,023 năm 2009 nhưng đến năm 2010 tăng vụt lên đứng ở vị trí thứ
của Việt Nam và mười nước bạn hàng được trình bày qua bảng 3.2.
hệ thương mại nội ngành chế biến theo chiều ngang.
Các nước có thương mại nội ngành theo chiều ngang với Việt nam theo
Bảng 3.2: Thƣơng mại nội ngành theo chiều ngang của Việt Nam và thế giới
chiều hướng tăng dần là: Trung Quốc, Ấn độ, Nhật Bản, Hàn Quốc,
Quốc gia
Trung Quốc
Nhật Bản
Hàn Quốc
Ấn Độ
HongKong
Canada
Denmark
Bulgaria
Campuchia
Malaysia
HồngKông, Denmark, Malaysia.
2000
0,024
0,139
0,083
0,012
0,139
0,032
0,083
0,247
0,064
0,030
0,183
0,020
0,027
0,000
0,036
0,026
2004
0,076
0,238
0,074
0,043
0,155
0,021
0,018
0,000
0,028
0,023
2005
0,078
0,277
0,074
0,054
0,155
0,019
0,073
0,313
0,125
0,176
0,253
0,040
0,105
0,014
0,016
0,022
2009
0,094
0,301
0,109
0,135
0,233
0,027
0,101
0,005
0,024
0,023
2010
0,131
0,307
0,116
0,100
0,131
0,022
0,000
0,136
0,000
0,233
0,027
0,019
0,000
0,021
0,792
2001
0,096
0,003
0,12
0,017
0,217
0,053
0,056
0,051
0,043
0,323
2002
0,095
0,017
0,113
0,058
0,116
0,066
0,064
0,030
0,107
0,029
0,121
0,064
0,228
0,085
0,018
0,303
2006
0,066
0,050
0,15
0,015
0,167
0,050
0,144
0,065
0,036
0,298
2007
0,050
0,087
0,123
0,029
0,149
0,099
0,153
0,226
0,116
0,281
0,133
0,113
0,097
0,000
0,008
0,237
"Nguồn: Tính toán của tác giả"
Qua bảng trên ta thấy thương mại nội ngành đối với sản phẩm chế biến
có phẩm cấp khác nhau ( thương mại nội ngành theo chiều dọc ) ở mười nước
nước cũng có chiều hướng tăng qua các năm
Các nước có thương mại nội ngành theo chiều ngang với Việt nam theo
chiều hướng giảm là: Canada, Campuchia.
đem ra nghiên cứu có sự biến động theo hai chiều hướng là tăng dần và giảm
dần. Các nước có tỷ lệ cao về xuất nhập khẩu đồng thời cùng mặt hàng có
Canada năm 2000 tỷ lệ thương mại nội ngành chiều ngang chiếm
0,032 thì đến năm 2010 chỉ đạt 0,022, đạt trung bình năm thời kỳ này là
0,024. Tỷ lệ xuất nhập khẩu mặt hàng chế biến giữa hai nước có chiều
hướng giảm qua các năm.
Campuchia năm 2000 tỷ lệ thương mại nội ngành chiều ngang chiếm
phẩm cấp khác nhau là: Malaysia; Denmark; Hongkong; Hàn Quốc;
Denmark;. Theo chiều hướng tăng có: Trung Quốc; Nhật Bản; Ấn Độ;
Canada; Danmark; Bulgaria Theo chiều hướng giảm có: Hàn Quốc;
Tỷ lệ xuất nhập khẩu mặt mặt hàng chế biến khác nhau về phẩm cấp giữa hai
nước có chiều hướng tăng qua các năm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
61
62
Ấn Độ năm 2000 không có thương mại nội ngành chiều dọc với Việt
0,024. Malaysia năm 2000 tỷ lệ thương mại nội ngành chiều dọc chiếm
Nam nhưng đến năm 2010 đạt 0,281, đứng thứ hai, đạt trung bình năm thời
0,792 thì đến năm 2010 chỉ đạt 0,237, đạt trung bình năm thời kỳ này là
kỳ này là 0,059. Tỷ lệ xuất nhập khẩu mặt mặt hàng chế biến khác nhau về
0,325. Tỷ lệ xuất nhập khẩu mặt mặt hàng chế biến khác nhau về phẩm cấp
phẩm cấp giữa hai nước có chiều hướng tăng mạnh qua các năm.
giữa hai nước có chiều hướng giảm qua các năm.
nhằm lượng hoá tác động của các yếu tố tới thương mại nội ngành hàng chế biến
Bulgaria năm 2000 không có thương mại nội ngành chiều dọc với
Việt Nam nhưng đến năm 2009 đạt 0,057, sau đó lại trở về mức không vào
của Việt Nam. Kết quả của mô hình được trình bày tại bảng 3.4.
Bảng 3.4: Kết quả của mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random effects)
năm 2010, đạt trung bình năm thời kỳ này là 0,046. Tỷ lệ xuất nhập khẩu
mặt mặt hàng chế biến khác nhau về phẩm cấp giữa hai nước có chiều
hướng tăng qua các năm.
Các nước có chiều hướng giảm gồm: Hàn Quốc; HongKong;
Campuchia; Malaysia.
Hàn Quốc năm 2000 tỷ lệ thương mại nội ngành chiều dọc chiếm
0,136 thì đến năm 2010 chỉ đạt 0,116, đạt trung bình năm thời kỳ này là
0,119. Tỷ lệ xuất nhập khẩu mặt mặt hàng chế biến khác nhau về phẩm cấp
giữa hai nước có chiều hướng giảm qua các năm.
HongKong năm 2000 tỷ lệ thương mại nội ngành chiều dọc chiếm
0,233 thì đến năm 2010 chỉ đạt 0,133, đạt trung bình năm thời kỳ này là
0,154. Tỷ lệ xuất nhập khẩu mặt mặt hàng chế biến khác nhau về phẩm cấp
Biến độc lập
Ghi chú:
0,021 thì đến năm 2010 chỉ đạt 0,008, đạt trung bình năm thời kỳ này là
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Hệ số
Hệ số chặn
GDP bình quân đầu người của quốc gia i
GDP bình quân đầu người của quốc gia j
Sự khác biệt về GDP giữa hai quốc gia
Sự khác biệt về GDP bình quân đầu người giữa hai quốc gia
Khoảng cách giữa hai quốc gia
Mất cân bằng trong thương mại giữa hai quốc gia
Mức độ tập trung thương mại
Độ mở của nền kinh tế quốc gia j
Có đất liền bao quanh
Số quan sát: 371
R2: Within: 0,08
Between: 0,52
Overall: 0,36
*
Mức ý nghĩa 0,05
**
Mức ý nghĩa 0,01
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
63
ở mức 0,01. Điều này cho thấy các quốc gia có mức độ tập trung thương mại
quốc gia có độ mở nền kinh tế cao thì mức độ thương mại nội ngành của các
cao sẽ có khả năng dẫn đến mức độ thương mại nội ngành cao.
quốc gia này cũng cao hơn. Điều này hoàn toàn phù hợp về mặt lý thuyết bởi
Biến “GDP bình quân đầu người của quốc gia i” (trong trường hợp
lẽ các quốc gia có hàng rào bảo hộ mậu dịch thấp, mở cửa ra bên ngoài thì
này là Việt Nam) là biến quan trọng thứ hai. Hệ số của biến này mang dấu
tổng mức lưu chuyển ngoại thương cũng lớn. Khi tổng mức lưu chuyển
dương và có ý nghĩa ở mức 0,01. Điều này cho thấy rằng khi thu nhập bình
ngoại thương cao thì mức độ thương mại nội ngành cũng lớn hơn.
quân đầu người của Việt Nam tăng lên thì mức độ thương mại nội ngành
cũng cao hơn.
Hệ số của biến “Có đất liền bao quanh” mang giá trị âm nhưng lại
không có ý nghĩa về mặt thống kê. Tuy vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy
Biến “Sự khác biệt về GDP giữa hai quốc gia”mang giá trị âm nhưng
rằng các quốc gia có xu hướng trao đổi buôn bán nhiều hơn với các quốc gia
66
CHƢƠNG 4: GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY THƢƠNG MẠI NỘI NGÀNH
4.1.2. Đẩy mạnh thương mại nội ngành đi đối với lựa chọn mặt hàng
HÀNG CHẾ BIẾN CỦA VIỆT NAM
chủ lực
Trong quan hệ thương mại thế giới, cần đa phương hóa, linh hoạt hoá
4.1. Quan điểm, định hƣớng
4.1.1. Đẩy mạnh thương mại nội ngành đi đối với phát huy lợi thế so sánh
Điều này chỉ có thể thực hiện được một cách hiệu quả với sự hỗ trợ
của chính sách thương mại phù hợp nhằm khai thác triệt để lợi thế so sánh
thông qua quan hệ trao đổi quốc tế để nắm bắt và mở rộng thị trường trong
thị trường, mở rộng buôn bán với nhiều nước. Song ở giai đoạn trước mắt đối
với nước ta kinh tế chưa phát triển cao, các điều kiện về khoa học - kỹ thuật
còn nhiều hạn chế, khả năng cạnh tranh còn yếu, cần lựa chọn những mặt
hàng có chất lượng cao xây dựng thành thương hiệu quốc tế và những thị
trường có khả năng và ưu thế riêng đối với mình để khai thác và tham gia
khu vực và thị trường thế giới cho đất nước. Lợi thế so sánh thể hiện ở khả
xuất, nhập khẩu buôn bán thương mại, dịch vụ, trên cơ sở đó từng bước giành
năng và điều kiện thuận lợi của một nước này so với nước khác trong việc
hóa sử dụng tốt nhất các loại tài nguyên sẵn có của họ để có lợi nhuận cao
4.1.4. Đẩy mạnh thương mại nội ngành gắn liền với phát huy tốt vai trò
nhất. Việc tiến hành trao đổi giữa các quốc gia phải tạo ra lợi ích cho cả hai
quản lý của Nhà nước
bên, nếu một quốc gia có lợi còn quốc gia khác bị thiệt thì họ sẽ từ chối
Để phát huy đến mức cao nhất lợi thế so sánh thương mại, thì điều quan
trọng là phải có những con người quản lý có tri thức mới về thương mại, cùng
tham gia vào thương mại quốc tế.
Khi tham gia thương mại quốc tế, các quốc gia phải biết lựa chọn sản
xuất và xuất khẩu những hàng hóa có lợi thế so sánh tốt nhất và nhập khẩu
những hàng hóa mà mình sản xuất bất lợi nhất. Đây cũng là một bài học mà
chúng ta đã rút ra qua hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế. Một số sản phẩm
của nước ta đang có lợi thế tuyệt đối trên thị trường quốc tế cần phải đẩy
mạnh xuất khẩu.
với những cơ chế, chính sách thương mại đúng đắn phù hợp điều kiện kinh tế
- xã hội của đất nước trong thời kỳ mới và phù hợp xu thế phát triển và hội
nhập kinh tế - thương mại khu vực và thế giới. Do vậy, vấn đề cốt lõi để thực
hiện mục đích trên là phải nhận thức đúng đắn vai trò quan trọng quản lý Nhà
nước đối với thương mại trong nền kinh tế thị trường ở nước ta. Nhà nước
phải làm tốt chức năng quản lý kinh tế vĩ mô nói chung và quản lý hoạt động
thương mại quốc tế nói riêng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
phương nhưng đảm bảo an toàn sức khỏe cho người dân.
Trong những năm qua, chính sách phát triển xuất khẩu quá chú trọng
nhằm đạt được hiệu quả kinh tế cao nhất.
Đẩy mạnh phát triển thương mại và dịch vụ quốc tế là xu hướng tất yếu
của tất cả các nước trên thế giới, nhất là các nước đã phát triển; do năng lực
sản xuất ngày càng lớn, cho nên luôn luôn ở tình trạng thiếu thị trường tiêu
thụ sản phẩm có lợi nhất. Hoạt động thương mại quốc tế ngày càng mở rộng
và cạnh tranh thị trường thế giới ngày càng gay gắt là tất yếu. Trong tình hình
đó, để có lợi thế trong quan hệ thương mại thế giới, chen chân được vào thị
trường thế giới và bảo đảm không thất bại thì nước ta cần có những chính
sách thương mại quốc tế khôn ngoan, linh hoạt, mềm dẻo, vừa phù hợp với
điều kiện của nước mình, vừa phù hợp thông lệ quốc tế, vừa đảm bảo luật
pháp quốc gia, vừa đảm bảo luật lệ của "sân chơi" thị trường quốc tế.
4.1.5. Đẩy mạnh thương mại nội ngành gắn liền với hoàn thiện khung
pháp luật cho hoạt động thương mại
đến chỉ tiêu số lượng, dựa vào tài nguyên thiên nhiên và nguồn lao động rẻ,
chưa quan tâm đúng mức đến chất lượng và hiệu quả xuất khẩu, gây ra nhiều
tác động tiêu cực như suy giảm tài nguyên thiên nhiên, ô nhiễm môi trường...
Thực tế này đòi hỏi chúng ta phải có chính sách xuất nhập khẩu đúng đắn và
phù hợp để phát triển bền vững trong giai đoạn 2011-2020.
4.2. Một số giải pháp nhằm thúc đẩy thƣơng mại nội ngành của Việt Nam
Trên thực tế, tỷ trọng thương mại nội ngành giữa các quốc gia trong
cùng một khối liên kết, các quốc gia có sự tương đồng về mức thu nhập hoặc
giữa các quốc gia tồn tại cầu chồng chéo thường lớn hơn so với tỷ trọng tương
ứng giữa các quốc gia không cùng một khối liên kết do tận dụng được lợi thế
theo quy mô.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu có nhiều biến động, khó khăn, nhiều
cho sản xuất và đời sống.
vào EU tăng 21,6%, vào ASEAN tăng 19,5 %. Nhờ tận dụng được ưu đãi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
69
70
thuế quan từ việc cấp giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa C/O trong các thị
4.2.2. Hỗ trợ nghiên cứu thị trường quốc tế với sản phẩm chế biến xuất khẩu
trường có Hiệp định tự do thương mại (FTA), tổng kim ngạch hàng hóa xuất
Theo quan điểm kinh doanh hiện đại, nghiên cứu thị trường là một
khẩu tận dụng được ưu đãi này trong 5 tháng qua đạt trên 5,5 tỷ USD, tăng
công cụ thiết yếu và là điều kiện cần để doanh nghiệp tiếp cận thị trường
66% so với cùng kỳ năm 2011.
đoạn sơ khai: năm 2010 đạt khoảng 33 triệu USD, năm 2011 trên dưới 40
phương, khu vực hay Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì cơ hội phát
triệu USD. Mức chi này khá thấp so với các nước trong khu vực như Thái Lan
triển càng nhiều, song khó khăn thách thức càng lớn. Quá trình hội nhập kinh
(gần 100 triệu USD/năm, Philippines (trên 80 triệu USD/năm)...
tế, nhất là kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO và tham gia mạnh mẽ hơn các
hiệp định thương mại tự do (FTA)
Có vẻ như nhiều doanh nghiệp Việt Nam chưa mặn mà lắm với hoạt
động này, đặc biệt là trong giai đoạn phải thắt chặt mọi chi tiêu như hiện nay,
Mặt khác việc hội nhập trên bộc lộ rõ hơn những yếu kém nội tại của nền
kinh tế Việt Nam. Tình hình hiện nay đòi hỏi phải có một chiến lược xuất, nhập
khẩu hiệu quả nhằm thực sự góp phần cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực,
nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô. Điều
này càng có ý nghĩa trong bối cảnh Việt Nam cần tập trung ổn định kinh tế vĩ
mô, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng chất lượng hiệu quả.
Về phía các Doanh nghiệp, bên cạnh việc tiếp tục tái cơ cấu sản phẩm
hàng hóa xuất khẩu để đạt giá trị gia tăng cao, các doanh nghiệp xuất khẩu
cần tận dụng triệt để cơ hội ưu đãi của FTA về thuế quan để mở rộng thị
trường xuất khẩu. Đây chính là chìa khóa tiến tới thành công của doanh
nghiệp. Tập trung phát triển xuất khẩu những mặt hàng có lợi thế về điều kiện
tự nhiên và lao động rẻ như thủy sản, dệt may, điện tử, các sản phẩm chế tác
công nghệ trung bình.
để góp phần thúc đẩy xuất khẩu, nâng cao hiệu quả xuất khẩu và giảm dần
Doanh nghiệp cũng có thể mời chuyên gia tư vấn về nghiên cứu thị trường,
nhập siêu; Chủ động tìm kiếm, phát triển các thị trường mới để đa dạng hóa thị
những người nhiều kinh nghiệm, có thâm niên làm việc trong các công ty
trường xuất nhập khẩu…
nghiên cứu thị trường nước ngoài, nhằm tiết kiệm chi phí.
4.2.3. Có chính sách trợ giúp, thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất và
Hiện nay, các rào cản đang có xu hướng gia tăng, nhất là các rào cản về
chế biến
kỹ thuật và có khoảng trên 60 quan ngại. Các doanh nghiệp cần thường xuyên
Cùng với tiến trình hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, cơ chế, chính
theo dõi quan ngại và các biện pháp để từ đó tìm hiểu, phân tích, đánh giá, tìm
sách thương mại hướng tới mục tiêu khuyến khích xuất khẩu, bảo đảm nhập
và điều chỉnh biện pháp cho phù hợp với tình hình thực tiễn để tiếp cận vào
khẩu đáp ứng yêu cầu của sản xuất và tiêu dùng, bảo vệ, phát triển và nâng
tạo điều kiện tốt cho việc xác lập mối liên kết giữa người sản xuất nguyên
hàng dữ liệu về thị trường nước ngoài để sẵn sàng cung cấp cho các doanh
liệu, doanh nghiệp chế biến, thương nhân xuất khẩu nhằm ổn định nguồn
nghiệp khi họ cần đến. Các cơ quan ngoại giao Việt Nam ở nước ngoài cần có
nguyên liệu, bảo đảm chất lượng sản phẩm và khả năng điều tiết lượng hàng
các nhóm công tác nghiên cứu thị trường và báo cáo chi tiết về thị trường.
xuất khẩu, đạt đến giá trị xuất khẩu cao. Cùng đó, việc vận dụng các biện
Chúng ta đặt nhiệm vụ này lên vị trí quan trọng trong ngoại giao.
pháp phòng vệ thương mại chưa thực sự hiệu quả trong khi đây lại là những
Phát huy vai trò của Hiệp hội trong việc liên kết các hội viên, đại diện để
bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp của các hội viên trong thương mại quốc tế,
biện pháp hữu hiệu phù hợp với cam kết WTO để góp phần bảo vệ sản xuất
trong nước.
thực hiện tốt vai trò là cầu nối giữa cơ quan quản lý nhà nước với các doanh
Để phát triển xuất nhập khẩu ở Việt Nam, cần phát triển xuất khẩu trên
nghiệp; Tổ chức mô hình sản xuất, kinh doanh theo hướng chú trọng chất
Ngoài các khó khăn nêu trên, các doanh nghiệp xuất khẩu tiếp tục phải
nguồn lực từ bên ngoài, nhất là thu hút đầu tư nước ngoài để nâng cao sức
đối mặt với những vấn đề còn tồn tại mà chưa có biện pháp giải quyết triệt để
cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển xuất khẩu là con đường để Việt Nam
như: tình trạng thiếu nguyên liệu để sản xuất hàng xuất khẩu, năng lực chế
thâm nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, hội nhập sâu hơn vào nền kinh
biến các mặt hàng nông sản còn thấp dẫn đến chủ yếu là xuất khẩu thô chưa
tế thế giới.
mang lại giá trị gia tăng cao; kết cấu hạ tầng còn hạn chế, chi phí logistics
Nhận diện một số khó khăn của các doanh nghiệp đang gặp phải hiện
nay về thị trường; về tiếp cận vốn, về lãi suất vay ngân hàng; vấn đề liên quan
đến chính sách thuế…
cao, các hãng tàu thường xuyên đưa ra các loại phí bất hợp lý gây ảnh hưởng
đến hiệu quả xuất khẩu và năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.
Từ những khó khăn vướng mắc trên, cần đưa ra một số hướng giải
Về thị trường, khủng hoảng kinh tế thế giới, khủng hoảng nợ châu
Âu dẫn đến kinh tế Hoa Kỳ, EU vẫn trong tình trạng trì trệ, thu nhập và
quyết như sau:
không đáp ứng được điều kiện cho vay của ngân hàng nên khó tiếp cận vốn
cường hỗ trợ về công tác thông tin, dự báo nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp
vay với lãi suất hợp lý, điều này ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất kinh
tìm kiếm khách hàng mới, thị trường mới, mở rộng thị trường xuất khẩu;
doanh và đầu tư mới của doanh nghiệp.
thường xuyên theo dõi, cập nhật tình hình diễn biến giá cả, tiến độ xuất khẩu
Về chính sách thuế, việc hướng dẫn thực hiện Luật Thuế bảo vệ môi
trường đối với mặt hàng túi nylon chưa được đầy đủ, chưa hợp lý và chưa
thống nhất nên đã gây ra khó khăn, trở ngại, ảnh hưởng đến hoạt động xuất
khẩu và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp xuất khẩu.
Theo quy định tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung Luật Quản lý thuế,
hàng hóa xuất nhập khẩu nói chung phải nộp thuế ngay trước khi thông quan,
không phân biệt mục đích nhập khẩu (không được ân hạn 275 ngày hoặc 30
ngày như trước kia), điều này làm ảnh hưởng lớn đến hoạt động sản xuất, gia
công chế biến hàng xuất khẩu của doanh nghiệp.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
các mặt hàng, những biến động của thị trường thế giới, có cảnh báo sớm
nguy cơ hàng xuất khẩu của Việt Nam bị kiện chống bán phá giá, chống trợ
cấp, tự vệ để chủ động đối phó, ngăn chặn. Những giải pháp xúc tiến thương
mại và phát triển thị trường ngoài nước cần tiếp tục tập trung chuyên nghiệp
hóa hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thương hiệu, nghiên cứu sàn
trị toàn cầu theo từng ngành sản phẩm xuất khẩu chủ lực gắn với phát triển
Các Bộ, ngành tập trung triển khai thực hiện có hiệu quả các giải pháp
nhanh và tham gia kết nối mạng lưới logistics toàn cầu để nâng cao sự chủ
về việc miễn, giảm, gia hạn thời hạn nộp thuế và tiền sử dụng đất cho các
động và hiệu quả xuất khẩu. Đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền phổ
doanh nghiệp, hộ kinh doanh và cá nhân theo Nghị quyết số 13/NQ-CP ngày
biến, hướng dẫn doanh nghiệp cách tiếp cận với các thị trường mới, đồng thời
10/5/2012 của Chính phủ và Nghị quyết của kỳ họp thứ 3 Quốc hội Khóa XIII
tận dụng triệt để ưu đãi thông qua các FTA, tận dụng tốt các điều kiện thuận
về miễn, giảm thuế.
lợi về tiếp cận thị trường và cắt giảm thuế quan ngày càng sâu hơn của các đối
tác để đẩy mạnh xuất khẩu và nâng cao hiệu quả xuất khẩu hàng hóa Việt
Nam sang các thị trường đã ký FTA. Thúc đẩy việc trao đổi và ký kết các
thỏa thuận cấp Chính phủ/cấp Bộ về việc xuất khẩu các mặt hàng như gạo, xi
măng, phân bón… cho các nước có nhu cầu lớn gắn với việc hỗ trợ lãi suất,
bảo lãnh tín dụng….
Tăng cường vai trò kiểm soát chất lượng hàng hóa xuất khẩu của các cơ
quan nhà nước để nâng cao uy tín các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam,
tránh tình trạng bị cảnh báo về việc không đáp ứng quy định vệ sinh an toàn
thực phẩm của nước sở tại. Các Bộ, ngành, địa phương chủ động phối hợp,
Thứ nhất, chúng ta có thể thí điểm:
- Điều chỉnh lăi xuất tín dụng cho xuất khẩu nói chung và xuất khẩu
(2) Nhóm giải pháp về vốn, lãi suất
mặt hàng chế biến, đặc biệt là chế biến nông sản theo hướng thoả mãn tối đa
nhu cầu tín dụng và lãi xuất điều chỉnh theo mùa vụ và kiểm soát tín dụng.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
77
78
- Điều chỉnh các nguồn cung ứng đầu vào đảm bảo cho các doanh
xuất khẩu tuy chưa lớn nhưng vừa qua có tốc độ tăng trưởng nhanh, có tiềm
nghiệp cung ứng dịch vụ không bị thua lỗ, có thể đấu thầu chọn nhà cung ứng
năng, không bị hạn chế hoặc chưa bị hạn chế về thị trường, hạn ngạch.
với chi phí dịch vụ với giá thấp, thuận lợi. Bảo hành các vật tư chủ yếu. Đầu
đó, sẽ chuyển dịch mạnh cơ cấu hàng hóa xuất khẩu theo hướng tăng tỉ trọng
trưởng cao. Để kinh tế thương mại biên giới phát triển bền vững, bên cạnh
sản phẩm đã qua chế biến lên trong cơ cấu xuất khẩu hoàng hóa; đồng thời ,
việc doanh nghiệp tự nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hoá xuất khẩu
đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh, nâng cao hiệu quả
thì rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước về cơ chế, chính sách. Để không quá phụ
xuất khẩu làm động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP.
thuộc vào chính sách biên mậu của phía bạn thì hàng hoá xuất khẩu phải đủ
Thứ tư, tăng cường công tác thông tin dự báo diễn biến thị trường
sức cạnh tranh để thâm nhập chính ngạch được vào thị trường rộng lớn
trong và ngoài nước để Doanh ngiệp kịp thời ứng phó, giảm thiểu rủi ro
này. Có như vậy, mới cải thiện được cán cân mậu dịch và tránh được
trong kinh doanh.
những rủi ro của mối quan hệ kinh tế không đối xứng hiện nay.
Cuối cùng, đa phương hoá các quan hệ thương mại vì trong điều kiện
động và các vấn đề xã hội khác; tập trung vào các mặt hàng có kim ngạch
quản lý ngoại hối linh hoạt bảo đảm khuyến khích xuất khẩu…
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
79
82
KẾT LUẬN
4.2.6. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Xây dựng, cơ chế, chính sách khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp,
hiệp hội ngành hàng đầu tư, tham gia vào lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực
phục vụ các ngành hàng sản xuất, xuất khẩu; Tăng cường đào tạo, phổ biến
kiến thức và chính sách, pháp luật thương mại của các nước cho các địa
phương, doanh nghiệp để tận dụng các ưu đãi trong các cam kết quốc tế và có
biện pháp tích cực, chủ động phòng tránh các hàng rào trong thương mại để
phát triển xuất khẩu các mặt hàng chủ lực, mặt hàng mới của Việt Nam…
Việt Nam là một nước đang phát triển với dân số đông, đang phải
phục hồi khỏi sự tàn phá của chiến tranh, sự mất mát chỗ dựa về tài chính
sau khi Liên bang Xô viết tan rã và sự cứng nhắc của nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung. Sau nhiều năm với các cuộc chiến tranh kéo dài, trong hoàn
83
84
đó khẳng định xuất nhập khẩu sản phẩm từ ngành chế biến của nước ta
TÀI LIỆU THAM KHẢO
đang phát triển. Thương mại nội ngành chế biến theo chiều ngang của
Việt Nam và các nước có nhiều biến động và tăng dần, thể hiện Việt Nam
và các nước đối tác nghiên cứu với sự tồn tại của thị trường cạnh tranh
1.
Bách khoa toàn thư Việt Nam
2.
Balassa, B., và L. Bauwens (1987), "Các yếu tố quyết định Thương mại
nội
độc quyền và sự đa dạng hóa trong thị hiếu của người tiêu dùng thì xuất
khẩu và nhập khẩu về sản phẩm có chất lượng tương tự như nhau, nhưng
lại có đặc điểm khác nhau ngày càng phát triển. Thương mại nội ngành
3.
Greenway, D. và C. Milner (1986), “Kinh tế công nghiệp-Intra Thương
8.
Helpman, E. (1981), "Thương mại quốc tế khi có các khác biệt sản xuất,
mại” (Oxford: Basil và Blackwell).
nền kinh tế của quy mô và tính cạnh tranh độc quyền", Tạp chí Kinh tế
đối với sản phẩm chế biến xuất khẩu, đề ra chính sách trợ giúp, thúc đẩy
các doanh nghiệp sản xuất và chế biến, thúc đẩy thương mại nội ngành
hàng chế biến phát triển bền vững, hoàn thiện chính sách thương mại, đào
tạo phát triển nguồn nhân lực. Trên cơ sở thực hiện tốt những giải pháp,
theo đúng quan điểm, định hướng đã đề ra sẽ làm tăng kim ngạch xuất khẩu
và giá trị gia tăng, mang lại hiệu quả cho các mục tiêu đã chọn.
Barker, T. (1977), "Thương mại quốc tế và tăng trưởng kinh tế: Một lựa
chọn cho các phương pháp tiếp cận Neo-cổ điển", Tạp chí Kinh tế
đối với sản phẩm chế biến có phẩm cấp khác nhau ở mười nước nghiên
cứu có sự biến động theo cả hai chiều hướng: tăng dần và giảm dần.
khối châu Âu trong hàng Nhà sản xuất”, Kinh tế châu Âu, 32, 7,
1421-1437.
quốc tế, 11, 305-340.
9.
Helpman, E. và P. Krugman (1985), Cơ cấu thị trường và thương mại