THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU HÀNG HÓA CỦA VIỆT
NAM VÀO THỊ TRƯỜNG TRUNG QUỐC TỪ NĂM 1991
ĐẾN NAY
2.1. Tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc tới quan hệ
thương mại Việt- Trung
- Đối với Việt Nam, ACFTA không chỉ tăng cường hợp tác kinh tế hai bên
trên nhiều lĩnh vực hiện có, mà còn mang một ý nghĩa to lớn trong việc thúc đẩy
mở rộng mậu dịch và đầu tư giữa hai bên. ACFTA thành lập đã làm cho quan hệ
thương mại của ASEAN và Trung Quốc phát triển với tốc độ nhanh chóng.
Trung Quốc đã trở thành bạn hàng quan trọng với các nước trong khu vực,
ngược lại với một thị trường tài nguyên phong phú, ASEAN trở thành thị trường
tiềm năng cho các mặt hàng của Trung Quốc.
- Trong bối cảnh hợp tác khu vực như vậy, quan hệ kinh tế và thương mại
giữa Việt Nam- Trung Quốc cũng không nằm ngoài xu thế hợp tác đó. Hiện nay
Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam. Trung Quốc vừa là
nước xuất khẩu lớn nhất vào thị trường Việt Nam lại vừa là nước nhập khẩu
hàng hoá lớn thứ 3 của thị trường Việt Nam. Điều đó đã được minh chứng bằng
các số liêu phản ánh kim ngạch xuất khẩu của hai nước. Theo đó, các nhà hoạch
định chính sách của hai nước đều đưa ra một viễn cảnh tốt cho quan hệ thương
mại của hai nước mà điều đó được tạo ra do nền tảng quan hệ truyền thống cộng
với những lợi thế mà ACFTA mang lại.
- Nhìn chung, quan hệ thương mại của Việt Nam và Trung Quốc trong
khuôn khổ ACFTA mang đến cho thương mại hai nước cơ hội làm ăn mới. Về
phía Việt Nam, thị trường Trung Quốc là một thị trường lớn, đa dạng, nhu cầu
về hàng hoá phong phú, sức tiêu dùng cao. Theo những cam kết của ACFTA,
vào năm 2010, đa số các hàng hoá xuất khẩu vào Trung Quốc với thuế suất là
0%, điều đó mang đến nhiều cơ hội cho Việt Nam.Với hàng hoá nông, lâm,
thuỷ, hải sản là các hàng hoá mà Việt Nam có lợi thế so sánh thì đây là một “ cơ
hội vàng” của Việt Nam.
- Về phía Trung Quốc, hiện nay được coi là công xưởng của thế giới, có
thế mạnh về nhiều ngành công nghiệp. Do đó, Trung Quốc xuất khẩu sang Việt
mặt hàng này ngày càng gia tăng. Mặt khác Trung Quốc là một thị trường khá
dễ tính, mức độ đòi hỏi về chất lượng hàng hóa và vệ sinh an toàn thực phẩm
không khắt khe như một số nước khác. Tuy vậy, thị phần hàng nông sản và thủy
sản của Việt Nam tại Trung Quốc là chưa lớn nên với chương trình EHP, thì Việt
Nam càng nhận thấy rõ đây là một thị trương tiềm năng của mình.
+ Không chỉ vậy, những mặt hàng mà tham gia EHP đều là mặt hàng mà
Việt Nam có lợi thế xuất khẩu sang Trung Quốc và còn có thể được hưởng lợi
ích ngay khi tham gia chương trình này. Theo như cam kết, 536 mặt hàng mà
Trung Quốc tham gia EHP, thì hầu hết là các mặt hàng mà Việt Nam có lợi thế
xuất khẩu sang Trung Quốc. So với trước khi có chương trình này, hầu hết các
mặt hàng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc đều chịu mức thuế suất bình
quân khá cao (gần 20%), nhưng khi thực hiện EHP thì ngay năm đầu tiên, tức
năm 2004 thì mức thuế suất cao nhất chỉ còn 10%, sau đó tiếp tục giảm còn 5%
vào năm 2005 và còn 0% vào năm 2006. Đây là một mức thuế suất cực kỳ hấp
dẫn vì nó còn thấp hơn nhiều mức thuế mà Trung Quốc cam kết đối với các
thành viên của WTO.
+ Với vị trí địa lý gần gũi như vậy, việc xuất khẩu hàng hóa sang Trung
Quốc đã giúp Việt Nam giảm được nhiều chi phí vận chuyển, thời gian, bảo
quản xuất khẩu các mặt hàng như nông sản và thủy sản. Đây cũng là một nhân
tố tích cực mở ra cơ hội làm ăn cho Việt Nam.
Như vậy, ACFTA đã mang lại cho cả Việt Nam- Trung Quốc một sự hợp
tác bền vững, phát triển tốt đẹp. Từ khuôn khổ ACFTA, để biến những cơ hội
xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào Trung Quốc thành hiện thực thì Chính
phủ cũng như các doanh nghiệp của Việt Nam cần có những chiến lược phát
triển kinh tế phù hợp cho từng giai đoạn, tình hình cụ thể.
2.2. Tác động của việc gia nhập WTO đối với Trung Quốc và Việt Nam
2.2.1. Tác động của việc Trung Quốc gia nhập WTO tới Việt Nam
- Trải qua 15 năm cố gắng, ngày 11/1/2001 Trung Quốc đã bước được
vào cánh cửa lớn của sân chơi thương mại quốc tế WTO. Là nước láng giềng
gần gũi của Trung Quốc, núi liền núi, sông liền sông. Hai nước có chung đường
phải chịu sự giám sát chặt chẽ hơn, yêu cầu ngày càng cao hơn. Thêm vào đó,
mức sống của người dân Trung Quốc ngày một nâng cao, kéo theo xu hướng
tiêu dùng của họ thay đổi, thay vì dùng hàng hóa rẻ, chất lượng thấp, nay họ đã
chuyển sang dùng các sản phẩm an toàn cao.
- Vậy thì đứng về phía Trung Quốc, khi Việt Nam đã là thành viên chính thức
của WTO, Trung Quốc có phải chịu một ảnh hưởng nào không? Nếu chỉ xét riêng
đến hoạt động thương mại của hai nước thì ảnh hưởng đó là gì?
2.2.2. Tác động của Việt Nam khi gia nhập WTO tới Trung Quốc
- Do Việt Nam đã là thành viên chính thức của WTO cho nên quan hệ
thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc trong thời gian tới về cơ bản sẽ tuân
thủ theo các nguyên tắc và quy định của WTO. Những quy định này sẽ có ảnh
hưởng trực tiếp đến các quyết định hợp tác thương mại và kinh tế giữa hai nước
nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp và thương mại nông sản.Việt Nam gia nhập
WTO sẽ tạo ra cơ hội và viễn cảnh tốt đẹp cho doanh nghiệp Trung Quốc
Hộp 2:Trích dẫn theo Bài của Lý Thái Sinh, Giảng viên Học viện kỹ thuật
dạy nghề Nam Ninh Trung Quốc, đăng trên tạp chí "Dọc ngang Đông Nam
Á" số mới đây như sau:
Ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên thứ 150
của WTO. Điều đó có nghĩa là Việt Nam đã hòa nhập thực sự vào hệ thống mậu
dịch thế giới một cách rộng rãi, sâu sắc và toàn diện. Việt Nam là một quốc gia
vốn nghèo nàn, lạc hậu, vậy mà trải qua 20 năm đổi mới, tốc độ tăng trưởng
GDP của Việt Nam đã vượt qua Ấn Độ và chỉ đứng sau Trung Quốc, nhanh
chóng trở thành một thế lực mới không thể coi thường ở châu Á. Hiện nay,
Trung Quốc là đối tác mậu dịch lớn nhất của Việt Nam. Việc Việt Nam gia nhập
WTO đã đem lại cơ hội và viễn cảnh phát triển tốt đẹp cho mối quan hệ thương
mại lâu dài giữa hai nước Việt Nam- Trung Quốc.
- Điều đáng nói ở đây là khi Việt Nam gia nhập WTO đã trở thành cơ hội làm
ăn tốt đối với các doanh nghiệp Trung Quốc
+ Sự bù đắp lẫn nhau về ưu thế giữa hai nước Việt Nam- Trung Quốc rất rõ
nhập khẩu những hàng hóa hàng đầu từ Việt Nam, còn có thể tận dụng triệt để các
cơ hội mà chính phủ Việt Nam đang áp dụng như là những chính sách ưu tiên để
kêu gọi các doanh nghiệp Trung Quốc đến đầu tư tại Việt Nam trong các lĩnh vực
ngành nghề như: may mặc, đồ gia dụng, đồ điện tử…, trong phạm vi quy định của
WTO, Trung Quốc có thể tránh được các rủi ro, đồng thời tạo ra công ăn việc làm,
thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển. Năng lượng, điện tử, xe hơi, trang phục
và y dược là những thị trường hấp dẫn đang mở ra các cơ hội làm ăn tốt cho các
doanh nghiệp Trung Quốc tại Việt Nam.
+ Các hạng mục hợp tác trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng và năng
lượng đang mở ra những viễn cảnh tốt đẹp. Hiện nay, cả hai nước đều đang tích
cực thảo luận để tăng cường hợp tác lâu dài, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng cơ
sở hạ tầng, năng lượng và giao thông. Cụ thể bao gồm tiến trình đẩy nhanh việc
triển khai "Bị vong lục hợp tác hai hành lang một vành đai kinh tế”. Đây là chương
trình kinh tế trọng điểm đối với cả hai nước. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, các
dự án giao thông lớn và xây dựng cơ sở hạ tầng của Việt Nam đều đồng loạt được
triển khai, khi đó nhu cầu về năng lượng của Việt Nam ngày càng tăng, đặc biệt là
ngành điện lực của Việt Nam đã rơi vào tình trạng cung không đủ cầu, điều đó đã
tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Trung Quốc triển khai các hạng mục hợp tác
trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng và năng lượng ở Việt Nam. Bộ Công nghiệp
Việt Nam cho biết, hiện nay mức đầu tư cho ngành điện của Việt Nam đang chiếm
khoảng 10% tổng đầu tư toàn xã hội, hàng chục nhà máy điện khởi công xây dựng,
tổng đầu tư đã lên đến hàng tỷ USD. Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo thúc đẩy phát
triển ngành điện lực với tốc độ bình quân 17%/năm, gấp đôi tốc độ tăng của GDP.
Để mục tiêu này được thực hiện, ngành điện Việt Nam cần đầu tư khoảng 4 tỷ
USD. Hiện nay, việc đầu tư cho ngành điện của Việt Nam đang thực hiện phương
châm xã hội hóa, các tổ chức trong và ngoài nước, tư nhân và doanh nghiệp đều có
thể tham gia.
+ Thị trường ôtô ở Việt Nam đang có nhiều tiềm lực phát triển. Theo quy
hoạnh phát triển ngành ôtô do Bộ Công nghiệp Việt Nam đưa ra, trong giai đoạn
2005-2010 tổng sản lượng ôtô của Việt Nam sẽ tăng 16%/năm; giai đoạn 2011-
cộng thêm những ưu đãi của chính phủ Việt Nam, đây sẽ là điều kiện thuận lợi rất
lớn đối với các doanh nghiệp sản xuất hàng điện tử Trung Quốc đến đầu tư và làm
ăn tại Việt Nam.
Ngoài ra, trên thị trường Việt Nam, các hàng hoá khác của Trung Quốc như hàng
dược liệu, vật liệu, đồ chơi, xây dựng, các mặt hàng dệt may…cũng có ưu thế và
tương lai phát triển hết sức tốt đẹp.
- Từ đó ta có thể hình dung được viễn cảnh phát triển tốt đẹp của mậu dịch
Việt Nam- Trung Quốc sau khi Việt Nam gia nhập WTO như sau:
+ Trong những năm gần đây, quan hệ mậu dịch song phương Việt Nam-
Trung Quốc luôn giữ được nhịp độ phát triển ổn định, kim ngạch xuất nhập khẩu
song phương không ngừng tăng lên. Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, mậu dịch
song phương sẽ ngày càng phát triển tốt đẹp hơn. Quan hệ mậu dịch song phương
Trung- Việt không chỉ tăng nhanh về tốc độ mà cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu
cũng có thay đổi rõ rệt. Cụ thể là tỷ lệ các hàng hóa mà Việt Nam nhập khẩu của
Trung Quốc như khoáng sản, máy móc thiết bị, nguyên liệu dệt may…trong tổng
sản lượng hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc của Việt Nam đã tăng từ 58 % (năm
2000) lên 81,4 % (năm 2005) và còn có xu hướng tăng trong thời gian tới. Đồng
thời, 6 loại sản phẩm mà Trung Quốc nhập khẩu từ Việt Nam như khoáng sản, nhựa,
dệt may…đã tăng từ tỷ lệ 92,5 % (năm 2000) lên 98 % (năm 2005) trong tổng số
hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam của Trung Quốc.
+ Sau khi gia nhập WTO Việt Nam sẽ có những ưu đãi liên quan cho Trung
Quốc cũng như các thành viên khác. Khi đó Trung Quốc nhập khẩu hàng hóa của
Việt Nam sẽ càng có lợi hơn và nếu phát sinh mâu thuẫn trong quá trình hợp tác thì
có thể giải quyết trong khuôn khổ WTO. Hơn nữa, những hiệp định liên quan đến
việc xuất khẩu hàng hoá của hai nước như kiểm dịch thủy sản, lúa gạo hay các quy
định về an toàn vệ sinh thực phẩm, sẽ được hai bên ký kết, đó là những căn cứ
pháp lý cho hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam. Với tốc độ tăng trưởng của kinh tế
và nhu cầu trong nước của Trung Quốc, cộng thêm ưu thế là “láng giềng gần gũi”,
các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc như dầu thô sẽ tiếp tục gia
tăng. Để đạt được mục đích mở rộng thị trường xuất khẩu ở Trung Quốc, thâm
cuối năm 2001. Sự kiện này không những đã giúp Việt Nam cải thiện, tăng
cường các quan hệ kinh tế thương mại song phương, khu vực mà còn giúp cho
hàng hoá của Việt Nam được xuất khẩu sang thị trường Hoa Kỳ tăng lên đột
biến, tỷ trọng hàng hoá xuất khẩu sang Hoa Kỳ trong tổng kim ngạch xuất khẩu
hàng hoá tăng từ 7,1% (2001) lên năm 21,7% (2006). Nỗ lực đa dạng hoá thị
trường xuất khẩu cũng được phản ánh rõ nét qua bảng sau:
Bảng2.1: Cơ cấu thị trường xuất khẩu của Việt Nam giai đoạn 2001- 2006
Đơn vị: Triệu USD, %
Nội dung
Năm 2001 Năm 2002 Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006*
KN
Tỷ
trọng
KN
Tỷ
trọng
KN
Tỷ
trọng
KN
Tỷ
trọng
KN
Tỷ
trọng
KN
Tỷ
trọng
Tổng XK hh 15.029 100 16.706 100 20.149 100 26.503 100 32.442 1400 39.605 100
Châu Á 8.61 57,3 8.684 52,0 9.756 48,4 12.634 47,7 16.383 50,5 17.226 43.5
đương với 77,4% GDP, tăng 20,5% so với năm 2006. Bình quân xuất khẩu đã
đạt được 4 tỷ USD/tháng cao hơn năm 2006 là 0,7 tỷ USD/tháng. Quan sát biểu
đồ dưới đây ta sẽ thấy được kim ngạch xuất khẩu hàng hoá năm 2007 đạt mức
cao nhất từ trước đến nay, tăng gấp 20 lần năm 1990, gấp 8,8 lần năm 1995 và
tăng gấp 3,3 lần năm 2000.
Hình2.2: Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam giai đoạn 1990- 2008
(Đơn vị: triệu USD)
( Nguồn: Bộ Công Thương)
- Năm 2007, phần lớn các mặt hàng chủ lực đều hoàn thành mục tiêu xuất
khẩu theo kế hoạch đề ra. Cụ thể là: kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng đều tăng
lên cả về khối lượng lẫn giá trị. Một số mặt hàng có tốc độ tăng kim ngạch xuất
khẩu lớn hơn so với tốc độ tăng trưởng kinh tế của cả nước (8,5%) như: gạo, cà
phê, hạt tiêu, hàng dệt may, hạt điều, hàng thuỷ sản, giày dép, hàng điện tử và
linh kiện điện tử, dây điện và dây cáp điện, đồ gỗ, sản phẩm nhựa, túi xách, vali
và ô dù, trong đó có 7 mặt hàng có tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu gấp hơn 2
lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế là: cà phê (29,4%), hạt tiêu (82,8%), dệt
may(28,5%), đồ gỗ(29,4%), dây điện và cáp điện (41,9%), túi xách và ô dù
(29,2%), sản phẩm nhựa (45,8%).
- Xét theo nhóm thị trường:
+ Khu vực thị trường châu Á- Thái Bình Dương: Kim ngạch xuất khẩu cả
năm đạt 24,5 tỷ USD, tức là tăng 17% so với năm 2006. Các mặt hàng xuất
khẩu chủ yếu là nông sản, dây điện và cáp điện. Tỷ trọng của khu vực này trong
tổng kim ngạch xuất khẩu giảm dần từ 52,4% (2006) còn 51,04% năm 2007,
song vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất trong tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt
Nam. Một điều đáng nói ở đây là các thị trường truyền thống như Trung Quốc,
Nhật Bản, ASEAN lại có xu hướng giữ nguyên hoặc giảm.
+ Thị trường châu Âu: Dự kiến kim ngạch của cả năm đạt 9,52 tỷ USD, tăng
lên 20% so với năm 2006. Các mặt hàng chủ yếu mà Việt Nam xuất khẩu sang
thị trường này là dệt may, thuỷ sản, cao su tự nhiên, đồ gỗ, cà phê, sản phẩm
nhựa, thủ công mỹ nghệ. Một số mặt hàng như xe đạp, giày mũ da tiếp tục bị