MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CP XNK TẠP PHẨM TRONG THỜI GIAN TỚI - Pdf 67

MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN
THIỆN HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU CỦA CÔNG TY CP
XNK TẠP PHẨM TRONG THỜI GIAN TỚI
3.1.Mục tiêu chiến lược và định hướng chung
3.1.1.Mục tiêu chiến lược
Với cơ chế mới Công ty sẽ chuyển mình năng động hơn trong kinh
doanh, tạo điều kiện cho sự phát triển nhanh hơn vào những năm tới. Mức tăng
trưởng hàng năm bình quân đạt 20% mỗi năm, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu do
Bộ giao, tăng doanh thu cho nhà nước và Công ty, nâng cao đời sống của nhân
viên. Đa dạng hoá thị trường và hàng hoá kinh doanh, chuyển dịch cơ cấu xuất
nhập sao cho tỷ lệ xuất chiếm ngày càng cao, hoàn thiện khả năng chuyên
môn…Lập kế hoạch cho lần hai từ 2006-2010 với mục tiêu dưới bảng 5:
Bảng 9: Chỉ tiêu kim ngạch xuất nhập khẩu của TOCONTAP
(năm 2006-2010)
Đơn vị: triệu USD
Chỉ
tiêu
Năm
Tổng kim ngạch
xuất nhập khẩu
Kim ngạch
xuất khẩu
Kim ngạch
nhập khẩu
2006 35.000.000 9.000.000 26.000.000
2007 40.000.000 10.500.000 29.500.000
2008 48.000.000 15.500.000 32.500.000
2009 55.000.000 20.000.000 35.000.000
2010 65.000.000 25.000.000 40.000.000
Nguồn: phòng tổng hợp công ty TOCONTAP
Về chủ trương: ưu tiên khuyến khích đẩy mạnh xuất khẩu, khôi phục và

cho công ty trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế vẫn còn rất nhiều, cần phải
nắm bắt và sử dụng hiệu quả để công ty ngày càng phát triển đặc biệt là hoạt
động xuất khẩu nhằm cân bằng kim ngạch xuất nhập khẩu, tăng lợi nhuận,
doanh thu cho công ty
-Đầu năm 2007, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 16/2007/NQ-CP
đề ra chương trình hành động nhằm phát triển kinh tế nhanh và bền vững sau
khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO. Chính phủ đã áp dụng các giải
pháp để bù đắp những tổn thất do quá trình tự do hóa thương mại như: Xóa bỏ
những ưu đãi về thuế; thúc đẩy xuất khẩu và tạo điều kiện thuận lợi cho nhập
khẩu; tăng cường cải cách hành chính nói chung và thủ tục thu thuế; mở rộng
diện thuế; nỗ lực ngăn chặn buôn lậu, gian lận thương mại, gian lận và trốn
thuế; tăng cường theo dõi, kiểm tra và thanh tra thuế; quản lý và xử lý tốt hơn
nợ thuế; thực hiện Luật Quản lý Thuế từ 01/07/2007... Đây là tín hiệu đáng
mừng cho các doanh nghiệp nói chung và công ty CP xuất nhập khẩu nói riêng.
Việc bù đắp này giúp cho doanh nghiệp bớt khó khăn trong những năm đầu khi
Việt Nam tham gia WTO, công ty có thể ổn định và củng cố hoạt động kinh
doanh nhằm tăng sức cạnh tranh để có thể chống trọi lại sức cạnh trạnh mạnh
mẽ của các doanh nghiệp nước ngoài.
-Việt Nam đã tăng cường cải cách hành chính để đáp ứng các yêu cầu của
WTO và tận dụng những lợi thế của hội nhập. Ngày 10/01/2007, Thủ tướng đã
ban hành Quyết định 30/QĐ-TTg về kế hoạch tổng thể đơn giản hóa thủ tục
hành chính giai đoạn 2007-2010. Cải cách hành chính đã có những chuyển biến
tích cực, nhất là trong các lĩnh vực như xuất nhập khẩu, thành lập và điều hành
doanh nghiệp, thanh toán thuế v.v... Đồng thời hải quan Việt Nam đã đẩy mạnh
cải cách và hiện đại hóa hệ thống quản lý hải quan. Các cơ quan hải quan đã chủ
động đơn giản hóa và công khai hóa các thủ tục hành chính, lệ phí cũng như xử
lý công việc nhanh chóng hơn, cung cấp dịch vụ tốt hơn, tạo điều kiện thuận lợi
hơn cho các hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là những nỗ lực rất cố gắng từ phía
nhà nước, chính phủ tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp xuất nhập
khẩu. Công ty cần nắm rõ những chính sách mới này nhằm tạo hiệu quả cho các

nhập khẩu tạp phẩm cũng không nằm ngoài bối cảnh đó, vì vậy trong những
thời gian tới công ty cần nỗ lực hơn nữa để không chỉ trụ vững và còn phát triển
mạnh mẹ, có thể cạnh tranh với các công ty trong nước và nước ngoài.
Hiện tại, cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là hàng gia công,
chúng ta sẽ không được hưởng lợi khi gia nhập WTO, khi quy định qui tắc xuất
xứ để hưởng ưu đãi là trị giá nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất hàng hóa tại
nước được hưởng phải thấp hơn 65%.
2007 là năm đầu tiên VN bước vào sân chơi WTO một cách đầy đủ.
Nhiều thành viên WTO đòi hỏi VN phải tuân thủ ngay lập tức các hiệp định
WTO như Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật
(SPS). Điều đó sẽ đặt những gánh nặng về tài chính và kỹ thuật không nhỏ cho
các doanh nghiệp VN trong thời gian tới. Bên cạnh đó, các rào cản thương mại
cũng sẽ được dựng lên với hàng hóa của VN như một tất yếu trong nền kinh tế
toàn cầu.
Theo như cảnh báo của Bộ Công Thương đưa ra mới đây về kim ngạch
xuất khẩu của các mặt hàng chủ lực trong năm 2008. Do hạn chế về diện tích,
thời tiết, nguồn nước, năng suất và cả về thị trường, nên kim ngạch xuất khẩu
một số mặt hàng nông sản, lâm thủy sản không có khả năng tăng trưởng cao
trong năm 2008, thậm chí một số mặt hàng đã đến ngưỡng, nếu không có những
biện pháp tích cực. Một số mặt hàng có khả năng tăng trưởng thấp hoặc giảm
như chè, cà phê, nhân điều và cao su. Còn về thị trường, mặc dù thừa nhận kim
ngạch xuất khẩu hàng Việt Nam tăng mạnh tại thị trường Nhật Bản trong những
năm qua, song ông Vũ Văn Trung - Tham tán thương mại tại Nhật Bản vẫn
không quên cảnh báo: Doanh nghiệp phải thay đổi cơ cấu và mở rộng ngành
hàng xuất khẩu sang Nhật. Vì rằng, “nếu chỉ bó hẹp ở các sản phẩm nông sản,
thủy hải sản, đồ gỗ, may mặc và dày dép như lâu nay, thì sẽ khó mà tăng được
kim ngạch xuất khẩu trong thời gian tới”- ông Trung nói. Trong khi đó, các
doanh nghiệp làm ăn với thị trường EU và Hoa Kỳ vẫn chưa thoát khỏi nguy cơ
bị kiện bán phá giá. Cơ chế giám sát hàng dệt may tại Hoa Kỳ vẫn chưa được
dỡ bỏ.

thông tin một cách gián tiếp qua các phương tiện thông tin đại chúng, qua các
nguồn cung từ các tổ chức quốc tế mà chưa trực tiếp tiếp xúc với thị trường để
tìm hiểu nhu cầu của khách hàng, thị hiếu của khách hàng, các kênh phân phối,
các chiến lược Marketing tiếp thị, sự cạnh tranh của đối thủ. Vì những lý do đó
mà Công ty phải cử chuyên viên về nghiên cứu thị trường đi thực tế tại các thị
trường mục tiêu định xâm nhập để thu nhập thông tin, phân tích các thông tin
của môi trường kinh doanh sau đó điều tra nhu cầu thực tế của thị trường, chỉ ra
các đoạn thị trường Công ty có thể hướng tới, cuối cùng là lập các kế hoạch
Marketing kinh doanh cho Công ty. Đây là công việc có vai trò rất quan trọng,
vì nó quyết định tới kế hoạch kinh doanh của Công ty. Việc nghiên cứu thị
trường có thể sử dụng nhiều biện pháp khác nhau để biết rõ hơn nhu cầu riêng
biệt của từng loại thị trường một cách cụ thể, chi tiết và chính xác như: quan sát,
điều tra trực tiếp tại các trung tâm thương mại lớn. Tuy nhiên tất cả những hoạt
động trên phải hướng tới một mục đích chung và phải trả lời được câu hỏi: xuất
khẩu mặt hàng gì? dung lượng của thị trường hàng hoá đó như thế nào? bạn
hàng giao dịch là ai? Phương thức thanh toán nào?…
Các chuyên viên nghiên cứu thị trường phải phân tích các đối tượng cạnh
tranh một cách cụ thể, xem xét năng lực tranh cạnh của họ và khả năng thực tế
của Công ty nhằm phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt yếu của Công ty trong quá
trình xuất khẩu. Cùng với đó là phân chia khách hàng thì những nhóm khác
nhau để phân tích có hệ thống biến đổi về nhu cầu và thị hiếu.
Về mặt dung lượng của thị trường, đó là khối lượng loại mặt hàng có thể
tiêu thụ được ở đoạn thị trường mục tiêu ấy, có thể xem xét ở thời điểm hiện tại
và khả năng tiêu thụ ở tương lai, vấn đề này liên quan đến chu kỳ sống quốc tế
của sản phẩm xuất khẩu. Nếu sản phẩm mà ở giai đoạn xuâm nhập và phát triển
thì dung lượng của thị trường lớn, có điều kiện để khai thác. Ngoài ra có thể xác
định lượng dự trữ, xu hướng biến động của từng vùng từng lĩnh vực sản xuất,
bên cạnh đó là xem xét đặc điểm, tính chất, khả năng của hàng hoá thay thế, khả
năng lựa chọn mua bán.
Kết hợp với nghiên cứu dung lượng thị trường, Công ty cũng phải xét đến

tình hình thị trường tại nơi showroom mở.
Hoặc có thể dùng hình thức gửi hàng mẫu tới tận tay khách hàng để họ
nhận biết cụ thể về các đặc tính công dụng của sản phẩm thông qua đường bưu
điện. Công ty nên tiếp tục mở các văn phòng đại diện ở nước ngoài, ứng với
mỗi thị trường nên đặt một văn phòng đại diện để có cơ hội tìm kiếm thêm
khách hàng, tăng cường hoạt động tuyên truyền về Công ty với bạn hàng. Cùng
với việc mở các văn phòng đại diện là phát triển một mạng lưới phân phối rộng
khắp và hợp lý. Đây là nhân tố thúc đẩy tiêu thụ. Công ty có thể xây dựng các
kênh phân phối bằng nhiều hướng hoặc qua các đối tác nước ngoài, hoặc các
văn phòng đại diện của Công ty.
Trong những năm tiếp theo, để tạo bạn hàng lâu dài và ổn định tạo thế
vững chắc cho hoạt động xuất khẩu, Công ty có thể triển khai theo một số
hướng sau:
-Mở rộng thị trường SNG đặc biệt là Nga, ngoài hình thức trả nợ,
tạo thời cơ để nắm chắc thị trường cơ bản và lâu dài này.
-Củng cố và phát triển thị trường EEC, cố gắng mở rộng thị trường
sang Đức và các nước Châu Âu khác. Đối với thị trường Hà Lan cần giữ vững
và phát triển.
-Đối với thị trường Châu Mỹ , ngoài mục tiêu nắm chắc thị trường
Canada, cần phát hiện tìm kiếm nhu cầu tại thị trường Mỹ . Tìm cách thâm nhập
sâu hơn nữa vào thị trường Nam Mỹ trong đó có các nước Brazil, Achentina,
Chile, Urugoay. Khu vực Trung Mỹ và Caribe cần làm tốt với thị trường Cu-Ba
để tạo thế thuận lợi cho việc đột phá vào thị trường này.
-Hợp tác với các thị trường trong khu vực trong đó có thị trường
Đông Nam Á và đặc biệt là Trung Quốc. Tranh thủ các khoản viện trợ và cho
vay hàng hóa của các nước phát triển để đi vào thâm nhập thị trường Châu Phi.
Đột phá vào thị trường Li Băng để tạo bàn đạp cho các thị trường ở tiểu lục địa
này.
Một vấn đề quan trọng nữa là nhất thiết phải đăng ký nhãn hiệu bản
quyền với những sản phẩm do Công ty sản xuất khi xuất khẩu tránh tình trạng bị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status