Thực trạng năng lực cạnh tranh của Tổng Công ty dệt may Hà Nội
2.1. Tổng quan về tổng công ty dệt may Hà Nội
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển, cơ cấu tổ chức của công ty
2.1.1.1. Lịch sử hình thành
Ngày 7 tháng 4 năm 1978, việc ký kết hợp đồng xây dựng giữa Techno-Import
Việt Nam và hãng Unionmatex- cộng hoà liên bang Đức được tiến hành. Chưa đầy một
năm sau đó, tức là vào tháng 2 năm 1979, công trình xây dựng nhà máy sợi Hà Nội đã
được ký kết giữa hai tổ chức trên được khởi công. Cuối cùng vào ngày 21 tháng 11 năm
1984 nhà máy dệt Hà Nội chính thức đi vào hoạt động. Cho đến ngày 30 tháng 4 năm
1991 nhà máy dệt Hà Nội được đổi tên thành xí nghiệp liên hợp sợi dệt kim Hà Nội với
tên giao dịch quốc tế là Hanosimex (theo QĐ-138-CNN-TCLĐ), rồi đến ngày 19 tháng
6 năm 1995 xí nghiệp liên hợp sợi dệt kim Hà Nội được đổi tên thành công ty dệt Hà
Nội (theo 840-TCLĐ, bộ công nghiệp nhẹ).
Chính thức vào ngày 28 tháng 2 năm 2000, cái tên công ty dệt may Hà Nội chính
thức ra đời. Từ đó đến nay là giai đoạn phát triển không ngừng của toàn công ty trong
xu thế hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với việc chuyển đổi mô hình doanh nghiệp và
hoạt động kinh doanh. Đặc bệt trong giai đoạn này công ty tập trung triển khai thực
hiện mô hình công ty mẹ- công ty con và thực hiện cổ phần hoá các công ty thành viên.
2.1.1.2. Quá trình phát triển
Năm 1984 nhà máy sợi Hà Nội (hay còn gọi là nhà máy sợi Tây Đức) đi vào
hoạt động chính thức. Lần đầu tiên ở miền Bắc nước ta có một nhà máy quy mô 10 vạn
cọc sợi , được đầu tư thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến của các nước Tây Âu. Sự
kiện này có thể nói đã đánh dấu một bước nhảy vọt của ngành Dệt-Sợi Việt Nam trong
thập kỷ 80. Khi đó công ty có 181 cán bộ khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ và quản lý cùng
với 1551 công nhân viên, quả là một con số đáng kể khi so sánh với công ty May Thăng
Long trong những ngày đầu thành lập chỉ có 28 cán bộ và 550 công nhân. Tuy nhiên
một thời gian ngắn ban đầu do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng chủ
yếu là do thiếu kinh nghiệm quản lý và chưa tiếp cận thị trường, khi các chuyên gia
nước ngoài về nước đã xảy ra tình trạng hàng loạt thiết bị trục trặc kỹ thuật, thiếu phụ
tùng thay thế. Riêng hệ thống dây chuyền kéo sợi có khoảng 20% số máy lắp dở dang
không hoạt động được. Hệ thống tải điện thông gió, cấp nước không đồng bộ. Sản xuất
177 ngày 30/12/2004) chuyển Công ty Dệt May Hà Nội sang thí điểm tổ chức hoạt
động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con.
- Để hình thành cơ cấu tổ chức và tiến hành hoạt động theo mô hình mới,
Hanosimex đã tiến hành cổ phần hóa một số đơn vị thành viên để trở thành các Công ty
con, Công ty liên kết như các Công ty cổ phần Dệt Hà Đông Hanosimex, May Đông
Mỹ Hanosimex, Dệt may Hoàng Thị Loan. Năm 2005 nhận quản lý và thực hiện tiếp
phần dự án xây dựng Trung tâm Dệt Kim Phố Nối B do Vinatex chuyển sang và sau khi
hoàn thành đã di dời Nhà máy Dệt nhuộm ở Hà Nội sang sáp nhập vào dự án và thành
lập Trung tâm Dệt kim Phố Nối.
- Ngày 11/01/2007 Bộ Công nghiệp đã quyết định thành lập Tổng Công ty Dệt
may Hà Nội trên cơ sở Công ty Dệt May Hà Nội thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam.
Như vậy, với việc tổ chức và hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con,
Hanosimex đã có 03 Công ty cổ phần là các Công ty con, các đơn vị còn lại là các đơn
vị thành viên hạch toán phụ thuộc Công ty mẹ. Đồng thời từ năm 2007, Hanosimex
được hoạt động theo mô hình Tổng công ty, sẽ mở ra một thời kỳ mới trong hoạt động
sản xuất kinh doanh với quy mô lớn hơn.
Vào ngày 30 tháng 7 năm 2007, căn cứ theo quyết định số 2636/QĐ-BCN của
bộ trưởng bộ công nghiệp (nay là bộ công thương) về việc phê duyệt và chuyển tổng
công ty dệt may Hà Nội thành tổng công ty cổ phần dệt may Hà Nội. Như vậy tổng
công ty dệt may Hà Nội từ doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần,
trong đó bán một phần vốn nhà nước hiện có ở doanh nghiệp và phát hành thêm cổ
phiếu để tăng vốn điều lệ, trong đó vốn nhà nước chiếm 54.74% vốn điều lệ, còn lại
45.26% là vốn do các cổ đông đóng góp. Từ khi trở thành công ty cổ phần, Hanosimex
ngày càng chú ý đến việc sản xuất hàng thời trang chất lượng cao bằng cách áp dụng
quản lý chất lượng đồng bộ và quản lý dây chuyền cung cấp để đảm bảo tiến độ giao
hàng và tăng số lượng bán hàng trực tiếp đến các khách hàng nước ngoài trên toàn thế
giới trong thời đại của Internet và môi trường kinh doanh toàn cầu.
Cho đến nay là thành viên của Tập đoàn dệt may Việt Nam- Vinatex, tổng công
ty dệt may Hà Nội đã trở thành một trong số những doanh nghiệp lớn của ngành dệt
may Việt Nam.
đi gia công, quản lý các định mức cấp phát nguyên vật liệu và hoá chất phục vụ cuộc
sống, xây dựng các phương án đầu tư, xây dựng mới, sửa chữa cải tạo nhà xưởng, xây
dựng cơ sở sản xuất mở rộng thị trường.
• Phòng xuất nhập khẩu
Tham mưu cho tổng giám đốc về công tác xuất nhập khẩu bao gồm tổ chức nghiên
cứu đánh giá thị trường, bạn hàng để tìm kiếm, giao dịch với các đối tác xuất khẩu và
nhập khẩu. Tổ chức đàm phán và làm các thủ tục ký kết hợp đồng xuất nhập khẩu và
triển khai cho các đơn vị có liên quan thực hiện.
• Phòng kế toán tài chính
Tham mưu cho tổng giám đốc về công tác kế toán tài chính của công ty nhằm sử
dụng đồng vốn hợp lý, đúng mục đích, đúng chế độ.
• Phòng kỹ thuật đầu tư
Có chức năng nghiên cứu và hướng dẫn quy trình công nghệ kỹ thuật may, nghiên
cứu và áp dụng khoa học mới để nâng cao năng suất, quản lý máy móc thiết bị. Xem xét
đầu tư một cách hợp lý máy móc thiết bị, lập các phương án đầu tư, xây dựng mới, sửa
chữa cải tạo nhà xưởng, xây dựng các cơ sở vật chất mở rộng sản xuất.
• Phòng quản trị nhân lực
Tham mưu giúp việc cho tổng giám đốc về công tác quản trị nguồn nhân lực, hành
chính quản trị và an ninh an toàn của Công ty bao gồm: tổ chức cán bộ, lao động tiền
lương, đào tạo nguồn nhân lực, chế độ chính sách đối với người lao động, cổ phần hoá
doanh nghiệp.
• Phòng thí nghiệm và kiểm tra chất lượng sản phẩm
Tổ chức quản lý và duy trì hệ thống quản lý chất lượng sản phẩm của công ty theo
tiêu chuẩn ISO 9001, kiểm tra chất lượng sản phẩm theo quy trình từ nguyên vật liệu
đầu vào đến khi thành phẩm nhập kho, kiểm tra từng công đoạn nếu phát hiện sai sót thì
phải xử lý ngay, đề xuất những biện pháp quản lý chất lượng nhằm hạn chế và khắc
phục những sản phẩm không đủ chất lượng.
• Phòng công nghệ thông tin
Có chức năng giúp Tổng giám đốc thống nhất quản lý hoạt động, vận hành cơ sở
hạ tầng kỹ thuật công nghệ thông tin và ứng dụng công nghệ thông tin vào phục vụ
chuộng tại thị trường Nhật và đang mở rộng thêm vào thị trường Mỹ do không bị áp
dụng hạn ngạch. Tuy nhiên sản phẩm sợi vẫn là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của công
ty, duy trì tốc độ xuất khẩu tốt sang các thị trường Hàn Quốc, Tây Ban Nha, Đài Loan
và Mỹ. Công ty cũng đang thử xuất khẩu mặt hàng này sang Colombia và Peru.. Bên
cạnh đó các mặt hàng vải Denim và vải may bò vẫn tiếp tục được đẩy mạnh sang Mỹ và
EU. Ngoài ra mặt hàng may mặc của công ty cũng rất được ưa chuộng.
Bên cạnh đó công ty cũng hết sức chú ý đến thị trường nội địa. Những sản phẩm
của công ty luôn được người tiêu dùng đón nhận và tin tưởng về chất lượng cũng như
hài lòng về mẫu mã và chủng loại phong phú với một giá cả hợp lý. Hanosimex thật sự
đã trở thành một thương hiệu dệt may định vị trong tâm trí người tiêu dùng.
2.1.3. Đặc điểm quy trình công nghệ
Công ty Dệt May Hà Nội hiện nay có 10 nhà máy thành viên. Mỗi một nhà máy
thành viên lại có một cơ cấu sản xuất riêng biệt phù hợp với tính chất của sản phẩm và
năng lực sản xuất của từng nhà máy nhằm đảm bảo thực hiện tốt nhất nhiệm vụ sản
xuất của toàn Công ty. Do quy trình công nghệ sản xuất phức tạp, yêu cầu độ chính xác
cao, sản phẩm là hàng dệt may có nhiều chủng loại khác nhau phải trải qua nhiều công
đoạn công nghệ sản xuất kế tiếp nhau, nên ở đây mỗi nhà máy là một dây chuyền khép
kín, chịu trách nhiệm từ khâu đầu tiên đến khâu đóng gói sản phẩm. Trong các nhà máy
lại tổ chức thành các tổ sản xuất theo dây chuyền chuyên môn hoá theo từng chi tiết sản
phẩm.
Các nhà máy thành viên của Công ty:
Nhà máy Sợi Hà Nội
Nhà máy Sợi Vinh
Nhà máy Dệt Hà Đông
Nhà máy Dệt Denim
Nhà máy Dệt nhuộm
Nhà máy May I
Nhà máy May II
Nhà máy May III
Nhà máy May thời trang
công ty như ngày hôm nay.
Doanh thu năm 1985 mới đạt 200 triệu đồng thì đến năm 2004 đã đạt tới 970 tỉ
đồng, năm 2005 là 1350 tỷ đồng, năm 2006 đạt tới mức 1580 tỷ đồng. Năm 1990, Nhà
nước giao cho Công ty nguồn vốn 161 tỉ đồng, đến năm 2004, giá trị tài sản của công ty
đạt gần 700 tỉ đồng, năm 2005 đạt 824 tỷ đồng và hết năm 2006 giá trị tài sản của công
ty đã lên tới 940 tỷ. Năm 2004, kỷ niệm 20 năm thành lập công ty, giá trị tổng sản
lượng công ty đạt 940 tỉ đồng, tăng 18,5% so năm 2003 và lợi nhuận tăng gần 3,5 lần so
với kế hoạch năm và tăng hơn 3 lần so với năm 2003 (Nguồn: tổng công ty dệt may Hà
Nội). Từng thời kỳ, Công ty đã thực hiện chương trình đầu tư chiều sâu, đổi mới công
nghệ sản xuất, đầu tư mở rộng để đa dạng hóa sản phẩm. Ban đầu, công ty chỉ sản xuất
các loại vải sợi, đến nay, các sản phẩm của công ty đã rất phong phú như sợi, vải
denim, vải dệt kim, khăn bông các loại và sản phẩm may mặc bằng vải dệt kim – dệt
thoi. Tổng giá trị đầu tư trong những năm vừa qua đạt trên 600 tỉ đồng. Các dự án đầu
tư của công ty đều xuất phát từ nhu cầu tất yếu của sản xuất và thị trường. Vì vậy,
100% các dự án đưa vào hoạt động đều phát huy hiệu quả, tạo năng lực sản xuất mới
cho công ty. Sản phẩm có sức cạnh tranh cao trên thị trường trong và ngoài nước, vị thế
của công ty ngày càng được khẳng định. Công ty đã kiên định với chiến lược “liên tục
đầu tư, đầu tư mạnh mẽ và đầu tư có hiệu quả". 10 năm qua, công ty đã đầu tư trên 544
tỉ đồng, mua sắm các thiết bị hiện đại của ngành Dệt May thế giới như: dây chuyền chải
thô CX-400 của Ý, máy ghép của Thụy Sĩ, máy lạnh CIAT của Pháp, YORT của Mỹ,
máy dò tách xơ ngoại lai, dây chuyền máy kéo sợi không cọc OE của Đức và Ý... Khâu
dệt nhuộm có máy nhuộm cao áp Đài Loan, Nhật Bản, máy dệt kim Rib và Single cấp
24, máy dệt kiếm của Bỉ... Khâu may đầu tư gần 500 máy may, máy xén, máy thiết kế
mẫu, dây chuyền may quần áo Jeans.. Sau đầu tư, Nhà máy Dệt Hà Đông được mở
rộng, tăng thêm 400 tấn khăn/năm.Các dây chuyền sợi, dệt, nhuộm, may được hiện đại
hóa tăng 15% năng lực sản xuất, nâng cao chất lượng. Đặc biệt, với việc đầu tư xây
dựng nhà máy Dệt vải Denim, Hanosimex đi tắt, đón đầu Hiệp định thương mại Việt
Mỹ, mở ra thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng. Chỉ sau 3 năm đi vào sản xuất, doanh
thu từ mặt hàng này tăng gấp 3 lần, giải quyết việc làm cho hơn 200 lao động.
Chính bởi sự đầu tư quan trọng nhưng có chiều sâu như vậy mà trong những
Bảng báo cáo trên phản ánh một cách rõ ràng sự phát triển trong hoạt động sản
xuất kinh doanh và lớn mạnh không ngừng của công ty. Với đà tăng trưởng này, công
ty tiếp tục thể hiện mình là một trong những trụ cột của tổng công ty dệt may Việt Nam,
trên đà hội nhập và khẳng định vị trí của ngành dệt may Việt Nam trên thị trường quốc
tế. Trong năm 2006 doanh thu của công ty đạt trên 1.500 tỷ, trong đó xuất khẩu đạt 42
triệu USD. Đây là bước khởi đầu thuận lợi và cũng là động lực để công ty thực hiện
thành công kế hoạch đạt doanh số 2000 tỷ vào năm 2010. Có thể nói, với tốc độ tăng
trưởng và phát triển này công ty hoàn toàn có khả năng thực hiện chỉ tiêu đề ra.
Hàng năm công ty cũng đóng góp một lượng lớn vào ngân sách nhà nước. Bảng
dưới đây thể hiện tương quan so sánh giữa lợi nhuận và sự đóng góp vào ngân sách nhà
nước của công ty
Biểu 1 : Lợi nhuận - nộp ngân sách
Đơn vị tính: triệu đồng
Bảng trên thể hiện sự thay đổi về tương quan giữa lợi nhuận và đóng góp vào
ngân sách nhà nước của công ty, sự làm ăn thành công của công ty thể hiện ở lợi nhuận
tăng lên không ngừng. Trong đó, năm 2004 thể hiện sự tăng mạnh trong lợi nhuận của
công ty, với 12500 triệu đồng, sau khi đã bỏ thuế, lý do là công ty đã có những thay đổi
hợp lý về chiến lược cũng như hình thức kinh doanh và cạnh tranh, nâng cấp nhà máy
cũng như lắp đặt thêm các dây chuyền sản xuất mới. Cũng chính vì vậy mà lợi
nhuận giảm mạnh vào năm sau đó 2005 nhưng tiếp tục tăng dần trong những năm tiếp
theo.
Về tình hình tài chính của công ty
Theo bảng 1 báo cáo tài chính của công ty, có thể thấy công ty hoạt động chủ yếu dựa
trên nguồn vốn từ ngân sách nhà nước. Tính đến nay tài sản hiện có của tổng công ty là
939.196.594.820 đồng, cụ thể là
T
Tài sản Số liệu xác định
I
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn 398.366.140.957
Theo bảng trên có thể thấy :
Về giá trị sản xuất công nghiệp : giá trị sản xuất công nghiệp không ngừng tăng
qua các năm, trải qua năm năm từ năm 2001 đến năm 2006 đã tăng từ 592.409 triệu
đồng lên 1.032.325 triệu đồng, tăng 439.916 triệu đồng, tức là tăng hơn 74%, có thể nói
là một con số không nhỏ trong một khoảg thời gian chỉ có 5 năm. Duy chỉ có trong năm
2004 giá trị sản xuất công nghiệp giảm do công ty đang tiến hành nâng cấp sản xuất,
cũng như đầu tư xây dựng và mở rộng các cơ sở và trang thiết bị. Đây cũng là năm
công ty tiến hành đổi mới tổ chức sắp xếp lại doanh nghiệp và chuyển đổi các mặt hàng
xuất khẩu của công ty. Vì thế 2 năm tiếp theo giá trị này tiếp tục tăng đều với tốc độ
ngày một lớn hơn, cụ thể là giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005 so với 2004 là 12,17
% trong khi năm 2006 so với năm 2005 là 27.41 %
Về doanh thu, từ 556.774 triệu đồng vào năm 2001 đến năm 2006 con số này đã
là 1.579.818 triệu đồng, tức là đã tăng lên gần 3 lần chỉ trong vòng 5 năm. Đây là một
giai đoạn tăng trưởng nhanh và ổn định của doanh thu của công ty, thể hiện những bước
đi vững chãi của công ty.
Về kim ngạch xuất khẩu, số liệu đã chỉ ra sự tăng mạnh mẽ của kim ngạch xuất
khẩu trong giai đọan này, cụ thể là, năm 2001 nhập khẩu đạt 11.225.000 USD, xuất
khẩu đạt 16.797.527 USD; năm 2002 nhập khẩu đạt 13.315.427 USD, xuất khẩu đạt
23.540.651 USD; năm 2003 nhập khẩu đạt 14.051.479 USD, xuất khẩu đạt 28.587.028
USD; năm 2004 nhập khẩu đạt 22.443.298 USD, xuất khẩu đạt 26.571.365 USD; năm
2005 nhập khẩu đạt 23.667.250 USD, xuất khẩu đạt 35.319.768 USD; năm 2006 nhập
khẩu đạt 25.897.085 USD, xuất khẩu đạt 39.470.102 USD. Chỉ sau 5 năm giá trị nhập
khẩu đã tăng gấp 2,3 lần (năm 2001 mới đạt 11.225.000 USD , đến năm 2006 đã đạt
được 25.897.085 USD ); giá trị xuất khẩu cũng tăng lên gấp 2,35 lần (năm 2001 mớI
chỉ đạt 16.797.527 USD , đến năm 2006 đã đạt 39.470.102 USD). Kết quả trên phản
ánh sự mở rộng hoạt động về sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đồng thời đẩy
mạnh tìm kiếm thị trường xuất khẩu ra các nước khác của công ty.
Nhìn chung các chỉ tiêu đã phản ánh khác quan thực trạng sản xuất kinh doanh
của công ty cũng như tốc độ tăng trưởng ổn định của công ty trong 5 năm gần đây. Đó
là sự cố gắng không ngừng của ban lãnh đạo cũng như mọi thành viên trong công ty,
17.780.903,94 50 17.987.382,33
46
CHÂU Á US
D
8.439.069,06 29,5 9.203.094,99 34,73 14.586.640,38 41,5 16.194.593,25
41
TT KHÁC US
D
247.945,66 0,88 554.996,19 2,07 237.380,57 0,8 555.174,25
1,1
TỔNG GIÁ US
28.587.027,55 % 26.571.364,65 % 35.319.767,93 % 39.470.101,90
%
TRỊ D
Nguồn :Phòng xuất nhập khẩu công ty Hanosimex
Có thể nhận thấy rõ ràng là thị trường rộng lớn và chủ chốt của Hanosimex là thị
trường Bắc Mỹ bao gồm Mỹ, Canada và Mexico, chiếm tới 61,12% kim ngạch xuất
khẩu toàn công ty trong năm 2003 với giá trị 17.474.399.45 USD. Trong các năm tiếp
theo, kim ngạch xuất khẩu vào thị trường này đã giảm đi nhiều nhưng vẫn duy trì là thị
trường xuất khẩu lớn nhất của công ty. Tuy vậy sản lượng xuất khẩu năm 2004 vào thị
trường này giảm mạnh so với năm 2003 là do năm 2004, công ty đã tiến hành cơ cấu lại
sản xuất cũng như tổ chức, ssắp xếp lại doanh nghiệp và mặt hàng xuất khẩu, đồng thời
cũng do năm này, hàng dệt may xuất khẩu vào thị trường Hoa Kỳ gặp nhiều khó khăn
do các rào cản kỹ thuật và hạn ngạch từ phía Hoa Kỳ đối với hàng dệt may Việt Nam.
Tuy nhiên, sang năm 2005 và 2006, mức xuất khẩu này đã vượt so với năm 2003 và
tiếp tục duy trì đà tăng, điều này chứng tỏ công ty đã từng bước vượt qua được những
khó khăn và tiếp tục đà phát triển của mình. Việc giảm kim ngạch xuất khẩu vào thị
trường Bắc Mỹ cũng bởi nguyên nhân công ty đã chú trọng đến việc tìm kiếm và mở
rộng thị trường xuất khẩu, đa dạng hoá thị trường nhằm giảm thiểu rủi ro và phù hợp
với chiến lược của công ty.
SợI
US
D
4.993.460,26 17,47 4.746.472,78 17,86 8.823.712,93 25,05
10.424.056,9
1
26,47
Khăn các
loạI
US
D
2.846.726,12 9,96 4.951.054,98 18,63 5.669.861,72 16,05 6.931.225,23 17,56
Quần áo
Denim
US
D
1.687.398,04 8,38 2.392.647,58 9 2.727.485,18 9,2 2.804.164.36 7,1
Mũ
US
D
161.048,52 0,56
Sợi vải
phế
US
D
2.808,00 0,01
Vải
Denim
US
D