CÁC BIỆN PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG, ĐẢM BẢO SỰ HOẠT
ĐỘNG AN TOÀN VÀ ỔN ĐỊNH CỦA CẢNG DẦU B12:
I. CÁC BIỆN PHÁP GIỮ GÌN VỆ SINH MÔI TRƯỜNG KHU VỰC KHO A.
Công ty xăng dầu B12 và cảng dầu B12 rất quan tâm đến công tác bảo vệ
môi trường, đảm bảo cho cảng hoạt động an toàn, ổn định và có hiệu quả.
Công ty đã tổ chức quy hoạch lại mặt bằng kho dầu, trồng cây xanh bằng cây
chống cháy trong kho xăng dầu, bê tông hóa các khu vực có thể có vết dầu xăng
rơi vãi, tổ chức cải tạo lại hệ thống thoát nước, xử lý nước thải ... ban hành và
hướng dẫn thực hiện các quy định đảm bảo vệ sinh môi trường kho cảng
...Cảng dầu B12 được thiết kế theo các tiêu chuẩn của Liên Xô cũ, được đảm
bảo ngăn ngừa và xử lý kịp thời các sự cố kỹ thuật xảy ra trong quá trình sản
xuất. Khoảng cách giữa các công trình trong kho xăng dầu đảm bảo giảm tác
động xấu khi có sự cố xảy ra. Kho A nằm ngay trong khu vực cảng là kho chứa
các loại dầu mazut, FO, DO ... với tổng sức chứa 22.000 m3. Thực hiện chủ
trương biến kho xăng dầu thành công viên, công ty B12 đã quy hoạch lại mặt
bằng, tổ chức hợp lý các khu vực sản xuất, sửa chữa, bê tông hóa lại đường đi
lại và sân bãi, trông cây xanh chống cháy. Diện tích cây xanh trồng xung quanh
chiếm trên 20% diện tích mặt bằng khu vực kho.
Công ty cũng đã cải tạo lại hệ thống thoát nước. Nước thải tách dầu từ các
hố ga được xử lý làm sạch dầu trước khi xả vào cống thoát nước mưa. Các
giếng thăm trên hệ thống thoát nước mưa đều có hố lắng cặn cát hoặc tấm
chắn tách dầu. Công ty cũng đã cải tạo lại hệ thống đê bao chống tràn dầu từ
bể chứa ra hệ thống thoát nước thải công nghiệp.
Do quy hoạch, cải tạo lại mặt bằng và hệ thống thoát nước, dầu rơi vãi
được quản lý chặt chẽ hơn. Việc trông cây xanh hạn chế được sự khuyếch tan
hơi xăng dầu và các chất độc hại khác ra môi trường xung quanh. Bờ biển dọc
theo công ty và cảng B12 được kè đá, đảm bảo vệ sinh môi trường và cảnh
quan khu vực.
Công ty xăng dầu B12 đã chú trọng công tác quản lý kỹ thuật, đầu tư trang
Công ty cũng đã hoàn thiện lại quy trình vận hành hệ thống xử lý nước thải,
bảo đảm việc thu gom nước thải trong kho xăng dầu và phương tiện thủy của
cảng để xử lý an toàn, hợp vệ sinh theo tiêu chuẩn quốc tế và trong nước. Công
ty cũng đã ban hành “Quy trình xử lý hư hỏng các công trình xăng dầu”, làm cơ
sở cho các công tác sửa chữa, duy tu công trình và thiết bị, đảm bảo an toàn
cho các kho và bến cảng xăng dầu.
III. QUẢN LÝ VÀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TẠI CÁC PHƯƠNG TIỆN VẬN TẢI
THỦY XĂNG DẦU:
Các tàu chở dầu khi cập cảng phải tuân thủ các quy định môi trường
chung. Tàu có cấu tạo đáy đôi hoặc mạn kép. Trên tàu phải có các hầm chứa
chất thải. Các loại phế thải phải được thu gom và xử lý. Tất cả các loại chất
thải đều không được xả vào môi trường trong khu vực cảng. Các dịch vụ phục
vụ cho tàu nước ngoài phải được kiểm soát chặt chẽ, không gây mất vệ sinh
khu vực.
Trước năm 1992, tàu khở dầu vào cảng B12 phần lớn là tàu Liên Xô, trang
thiết bị cũ, thời gian nhập dầu kéo dài đến 2-3 ngày. Hiện nay Tổng Công Ty
Xăng Dầu thuê các tàu có sức tải lớn, trọng tải từ 20.000 đến 30.000 DWT,
trang bị hiện đại hơn, mạn kép, thời gian nhập dầu ngắn (thường là trong một
ngày đêm) của Singapore và các nước khác. Việc thay đổi loại tàu chở dầu làm
giảm đáng kể tải lượng ô nhiễm khu vực cảng. Tính an toàn của các tàu này
cao hơn các tàu của Liên Xô cũ rất nhiều.
Các sà lan, tàu chở dầu nội địa phải được trang bị đầy đủ các phương tiện
phòng chống tràn dầu, PCCC và được kiểm soát chặt chẽ. Cảng chỉ cung cấp
dầu cho các tàu, sà lan đủ điều kiện kỹ thuật, vệ sinh môi trường, an toàn PCCC
... sau khi đã được kiểm định tại trạm kiểm định sà lan. Hệ thống xuất dầu cho
sà lan đã được tự động hóa.
Các đường ống mềm nối ống đẩy bơm dầu từ tàu tới đường ống dẫn dầu
bảo vệ trực chữa cháy và sử dụng các dụng cụ chữa cháy cầm tay tại chỗ để xử
lý.
*Khi cháy nhỏ lan thành cháy lớn, cảng dầu báo ngay cho công ty và PC-23
Công An Quảng Ninh để phối hợp chỉ đạo, đồng thời ra lệnh ngừng vận hành
toàn kho và cắt điện toàn kho và khu vực có sự cố, tùy theo mức độ ảnh hưởng
của đám cháy. Đội phòng cháy chữa cháy tiến hành làm mát các công trình
xung quanh có ảnh hưởng của đám cháy và dập tắt đám cháy bằng hệ thống
cố định và xe chữa cháy di động, đồng thời huy động lực lượng chữa cháy của
xí nghiệp xăng dầu Quảng Ninh (gồm hai xe chữa cháy) và lực lượng chữa
cháy của phòng PC-23 và các cơ quan khác phối hợp để xử lý. Khi có cháy, hệ
thống cấp nước được liên kết, bổ sung cho nhau. Việc chỉ huy chữa cháy sẽ do
PC-23 Công An Quảng Ninh đảm nhận theo các kế hoạch đã lập và tập luyện
thường xuyên.
*Tại bến phao neo tàu 30.000 DWT khi tràn dầu xảy ra cháy, dùng phương tiện
chữa cháy của tàu như thuốc bọt PQ1 (có thể dập tắt các cháy cách tàu dưới
20 m) và các biện pháp xử lý kịp thời khác. Các xe chữa cháy trực theo dõi đám
cháy và xử lý chúng khi có nguy cơ lan lên bờ. Các phương tiện thủy dùng
phương tiện của mình dập các đám cháy lan đến. Cảng B12 dùng tàu 1800 CV
có trang bị hệ thống chữa cháy phối hợp cứu trợ các phương tiện thủy gặp
nguy hiểm cháy nổ.
V. PHÒNG CHỐNG VÀ ỨNG CỨU TRÀN DẦU :
Các biện pháp phòng chống và ứng cứu tràn dầu của Công Ty Xăng Dầu
B12 được xây dựng dựa theo công văn số 389 –MTg ngày 17/6/1994 của Bộ
Khoa Học, Công Nghệ và Môi Trường hướng dẫn tạm thời về việc xử lý sự cố
tràn dầu và các văn bản khác của Tổng Công Ty Xăng Dầu Việt Nam về bảo vệ
môi trường.
Phòng ngừa là biện pháp cơ bản để bảo vệ môi trường, ngăn ngừa hỏa
hoạn. Công ty xăng dầu B12 thường xuyên kiểm tra các thiết bị, phương tiện
tham gia bơm chuyển hàng hóa (hệ thống ống mềm dưới biển, hệ thống công
nghệ xuất nhập, công nghệ chữa cháy ...) đúng quy trình, đảm bảo các yêu cầu
Công ty.
Để kiểm soát chặt chẽ vấn đề ô nhiễm môi trường, kịp thời phát hiện các sự
cố kỹ thuật có thể dẫn đến nguy cơ tràn dầu, cháy nổ ... chương trình giám sát
ô nhiễm môi trường như sau :
*Giám sát chất lượng không khí :
+Thông số kiểm tra : Tổng hydrocacbon, hơi chì, SO
2
, H
2
S, bụi tổng số ...
+Vị trí giám sát : 4 điểm tại trạm bơm xăng dầu, bến xuất dầu cho sà lan,
khu vực hành chính của công ty, khu dân phía cuối hướng gió cách hàng rào
kho cảng 500 m. Đo đạc hai thời điểm mỗi đợt : khi không có tàu nhập dầu và
có tàu nhập dầu.
+Tần số thu mẫu và phân tích : 2 lần một năm
+Thiết bị thu mẫu : các thiết bị tiêu chuẩn
+Tiêu chuẩn so sánh đánh giá : Tiêu chuẩn môi trường Việt Nam TCVN
5937-1995, TCVN 5938-1995, TCVN 5939-1995.
*Giám sát chất lượng nước:
+Thông số giám sát : pH, hàm lượng cặn lơ lửng, DO, COD, BOD
5
, tổng chất
rắn hòa tan, hàm lượng dầu, Pb, Zn, coliphom .
+Địa điểm khảo sát và lấy mẫu : 5 điểm bể xử lý nước thải, nước biển tại
bến xuất, tại phao neo tàu phía đầu, phao neo tàu phía cuối và tại bến phà Bãi
Cháy. Nước biển được đo đạc vào 2 thời điểm : khi có và không có tàu nhập
dầu.
+Tần số khảo sát : 2 lần/năm.
+Phương pháp lấy mẫu và phân tích : theo các quy trình hiện hành. Mẫu
được lấy ở 3 tầng nước khác nhau. Một số chỉ tiêu được phân tích trong mẫu