Các biện pháp bảo vệ môi trường, đảm bảo sự hoạt động an toàn và ổn định của cảng dầu B12 - Pdf 12

Lời nói Đầu

Dầu khí và các sản phẩm chế biến của chúng là những nguyên nhiên liệu
chiến lợc phục vụ cho đời sống xã hội và phát triển kinh tế, chúng đợc ví nh
máu cần cho sự sống của con ngời. Tùy theo sự phát triển của nền kinh tế mà
nhu cầu sử dụng xăng dầu của các quốc gia nhiều ít khác nhau với nhiều chủng
loại khác nhau. Khi tiến trình công nghiệp hóa ở Việt Nam đợc đẩy mạnh và
tiến hành một cách đồng bộ, máy móc kỹ thuật vào Việt Nam ngày càng nhiều
thì nhu cầu sử dụng xăng dầu ở Việt Nam tăng lên không ngừng. Tuy nhiên,
đến nay ta vẫn cha lọc đợc dầu, lợng nhập khẩu hàng năm là 100%. Có thể đơn
cử một số số liệu về nhập khẩu xăng dầu vào nớc ta qua một số năm gần đây:
*1990: 2.643.124 (tấn)
*1992: 3.195.529 (tấn)
*1994: 2.825.537 (tấn)
*1999: 7.244.000 (tấn)
Lợng xăng dầu đợc nhập vào nớc ta chủ yếu thông qua các cảng biển.
Trong số 5 cảng biển đợc công nhận là cảng xăng dầu cấp quốc gia, Cảng B12
(nằm tại vịnh Hạ Long tỉnh Quảng Ninh) đóng một vai trò rất quan trọng. Xăng
dầu nhập vào qua cảng B12 đáp ứng hầu hết nhu cầu xăng dầu cho các ngành
công nghiệp chủ chốt cũng nh cho các phơng tiện giao thông vận tải ở miền Bắc
và một số tỉnh miền Trung của nớc ta.
Song vị trí của cảng B12 lại là nơi du lịch, nghỉ ngơi, gần khu vực dân c
sinh sống và đặc biệt là nằm trong khu vực vịnh Hạ Long-một di sản văn hóa
thế giới đã đợc UNESCO công nhận, nên hoạt động nhập khẩu xăng dầu của
cảng đã và đang gây sức ép lớn lên môi trờng ở đây.
Chính vì thế, ngời viết muốn tìm hiểu về Thực trạng môi trờng tại cảng
dầu B12, đồng thời trên cơ sở những Tiêu Chuẩn Việt Nam và Quốc Tế về
bảo vệ môi trờng, đa ra một số ý kiến nhằm bảo vệ môi trờng và bảo đảm sự
hoạt động an toàn và ổn định của cảng. Ngoài phần Mở Đầu, Kết Luận, Phụ
Lục và Danh Mục Tài Liệu Tham Khảo, bố cục của bài tiểu luận chia làm ba
phần chính:

theo qui định thậm chí xử phạt hành chính ở một số nớc, các nhà sản xuất vẫn
tiếp tục xả nhiều chất độc hại, huỷ hoại môi trờng trái đất. Ngập lụt ở châu Âu,
cháy rừng ở Indonesia ... là một phần của hậu quả ấy. Trong khi đó môi trờng là
tài sản chung vô cùng quí giá, quyết định sự tồn tại của sinh vật trên toàn thế
giới .

ISO 14000 ra đời là để khắc phục tình trạng đó. Nó là một bộ tiêu chuẩn
quốc tế hớng dẫn chi tiết việc bảo vệ môi trờng nội bộ trong suốt quá trình sản
xuất ở bất cứ qui mô nào.
3
Mặc dù là một hệ thống tiêu chuẩn hớng dẫn và việc tham gia hệ thống này
là tự nguyện đối với tổ chức, doanh nghiệp, nhng thực chất là bắt buộc nếu
doanh nghiệp đó muốn sản phẩm của mình lu thông trên thị trờng khu vực và
thị trờng thế giới.

ISO14000 đa ra hớng dẫn về xây dựng và thực hiện các hệ thống và nguyên
tắc quản lý môi trờng và phối hợp chúng với các hệ thống quản lý khác. Những
hớng dẫn trong tiêu chuẩn có thể áp dụng đợc cho mọi tổ chức với bất kể qui
mô loại hình hoặc mức độ thuần thục, có quan tâm đến việc xây dựng, thực hiện
và/hoặc cải tiến hệ thống quản lý môi trờng.
Khái niệm môi trờng đợc đề cập đến trong tiêu chuẩn là : những thứ bao
quanh nơi hoạt động của một tổ chức bao gồm không khí, nớc, đất, nguồn tài
nguyên thiên nhiên, hệ thực vật, hệ động vật, con ngời và các mối quan hệ qua
lại của chúng (những thứ bao quanh nói đến ở đây mở rộng từ nội bộ một tổ
chức tới hệ thống toàn cầu)

Hệ thống quản lý môi trờng là một phần của hệ thống quản lý chung bao
gồm cơ cấu tổ chức, các hoạt động lập kế hoạch, trách nhiệm, phơng pháp thực
hành, thủ tục, quá trình và nguồn lực để xây dựng, thực hiện, đạt đợc, xem xét
lại và duy trì chính sách môi trờng.

với các chuyên gia đánh giá môi trờng để giúp cho việc áp dụng Hệ thống quản
lý và đánh giá môi trờng. Các chuyên gia đánh giá nội bộ cũng phải có các
năng lực nh chuyên gia đánh giá bên ngoài nhng không nhất thiết phải đáp ứng
tất cả các chuẩn cứ nêu chi tiết trong tiêu chuẩn này dựa trên các yếu tố sau :
* Quy mô , bản chất, mức độ phức tạp và các tác
động môi trờng của tổ chức.
* Tốc độ phát triển của các kỹ năng và kinh nghiệm
có liên quan trong nội bộ tổ chức.

Nội dung của tiêu chuẩn 14012 quy định chuyên gia đánh giá môi trờng
là ngời có đủ trình độ để thực hiện việc đánh giá môi trờng.. Chuyên gia đánh
giá phải có kinh nghiệm công tác cho phép có đủ kĩ năng và hiểu biết trong một
vài hay tất cả các lĩnh vực dới đây:
5
* Khoa học công nghệ và môi trờng
* Các khía cạnh về kĩ thuật và môi trờng của việc
vận hành các phơng tiện.
* Các yêu cầu về luật pháp, quy chế và các tài liệu
liên quan đến môi trờng.
* Hệ thống quản lý môi trờng và các tiêu chuẩn
dùng làm căn cứ đánh giá.
* Thủ tục, quy trình và kỹ thuật đánh giá.

Các chuyên gia đánh giá phải có t chất và kỹ năng dới đây (nhng không
chỉ giới hạn có vậy) :
* Năng lực trình bày một cách rõ ràng các khái
niệm và ý tởng khi nói và viết.
* Các kỹ năng giao tiếp có lợi cho việc thực hiện
đánh giá một cách có hiệu quả, nh khả năng ngoại giao, khả năng xử trí và khả
năng lắng nghe.

môi trờng. Sản phẩm của họ đơng nhiên có sức cạnh tranh trên thị trờng xuất
nhập khẩu. Đây cũng là điều mà các doanh nghiệp Việt Nam cần phải nắm bắt
đợc. Đồng thời, đối với các doanh nghiệp làm đầu mối XNK xăng dầu ở Việt
Nam nói riêng, việc áp dụng tiêu chuẩn ISO 14000 có một tác dụng rất to lớn
trong việc bảo vệ môi trờng ở các bến cảng, tránh thất thoát, nâng cao uy tín của
doanh nghiệp, giữ gìn đợc môi trờng sinh thái biển ở nớc ta.
II) TCVN về bảo vệ môi trờng :
Bảo vệ môi trờng vừa là hoạt động quan trọng đối với từng quốc gia, vừa là
hoạt động có ý nghĩa khu vực và toàn cầu. Thiết lập các tiêu chuẩn môi trờng
thích hợp và áp dụng chúng có hiệu quả trong quản lý môi trờng và kiểm soát ô
nhiễm là góp phần cho sự phát triển kinh tế xã hội bền vững, cho sự hoà nhập
của nớc ta với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực này. Cho nên, Cơ quan tiêu
chuẩn hoá quốc gia, Cơ quan quản lý môi trờng của Chính phủ đã có sự quan
tâm và u tiên cho việc lập kế hoạch và cung cấp tài chính cho hoạt động tiêu
7
chuẩn hoá môi trờng. Tính đến nay đã có khoảng 220 TCVN hiện hành về môi
trờng và bảo vệ môi trờng, trong số đó có 73 TCVN đợc xây dựng trên cơ sở
chấp nhận Tiêu chuẩn quốc tế ISO và 7 TCVN trên cơ sở chấp nhận ST-SEV
(Tiêu chuẩn của Hội Đồng Tơng Trợ Kinh Tế cũ). Đặc biệt năm 1997, ba
TCVN đầu tiên về hệ thống quản lý môi trờng đợc ban hành trên cơ sở chấp
nhận các tiêu chuẩn ISO tơng ứng của bộ ISO 14000.
Trong công tác bảo vệ môi trờng sinh thái tại các cảng biển XNK xăng dầu,
cần chú ý đến TCVN 4044-85 về QUY PHạM NGĂN NGừA Ô NHIễM
BIểN DO TàU GÂY RA (Rules for the Prevention of Maritime Pollution
from Ships Construction and Equipment of Ships) do Tổng Cục Tiêu Chuẩn-Đo
Lờng-Chất Lợng thuộc ủy ban Khoa Học và Kỹ Thuật Nhà Nớc ban hành ngày
30 tháng 9 năm 1985 và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 1986. Tiêu chuẩn
ngăn ngừa ô nhiễm biển do tàu gây ra đợc áp dụng cho các đối tợng sau:
* Tàu bất kỳ chạy tuyến quốc tế
* Tàu chuyên dùng để chở dầu, sản phẩm dầu,


Luật môi trờng ở nớc ta đợc công bố theo pháp lệnh số 29-L/CTN
ngày10/1/1994 của Chủ tịch nớc. Luật môi trờng ra đời đánh dấu một bớc phát
triển mới trong công tác bảo vệ môi trờng ở nớc ta, nhằm nâng cao hiệu lực
quản lý của Nhà nớc và trách nhiệm của chính quyền các cấp, các cơ quan Nhà
nớc, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi cá nhân
trong việc bảo vệ môi trờng nhằm bảo vệ sức khoẻ nhân dân, bảo đảm quyền
con ngời đợc sống trong môi trờng trong lành, phục vụ sự nghiệp phát triển lâu
bền của đất nớc, góp phần bảo vệ môi trờng khu vực và toàn cầu.
Điều 21 Luật môi trờng của nớc CHXHCN Việt Nam quy định: Tổ chức,
cá nhân khi tìm kiếm, thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàng trữ dầu
khí phải áp dụng công nghệ phù hợp, phải thực hiện các biện pháp bảo vệ môi
trờng, có phơng án phòng tránh rò rỉ dầu, sự cố tràn dầu, cháy nổ dầu và phơng
tiện để xử lý kịp thời sự cố đó.
9
*Nghị định số 175-CP ngày 18-10-1994 của chính phủ :
Nghị định này ra đời nhằm chi tiết hoá và hớng dẫn thi hành Luật bảo vệ
môi trờng. Nội dung của Nghị định nêu rõ về vấn đề phân công trách nhiệm
quản lý Nhà nớc về bảo vệ môi trờng, trách nhiệm của tổ chức và cá nhân đối
với việc bảo vệ môi trờng. Ngoài ra, Nghị định còn quy định về các đối tợng
phải đánh giá tác động môi trờng, đề ra các biện pháp nhằm phòng, chống, khắc
phục suy thoái môi trờng, ô nhiễm môi trờng và sự cố môi trờng, thanh tra về
bảo vệ môi trờng. Cuối cùng, Nghị định quy định về các nguồn tài chính cho
nhiệm vụ bảo vệ môi trờng ở nớc ta.
*Thông t số 3370-TT/MT ngày 22/12/1995 của Bộ Khoa Học Công Nghệ và
Môi trờng.
Thông t này đợc ban hành nhằm hớng dẫn tạm thời về khắc phục sự cố
môi trờng do cháy nổ xăng dầu. Nội dung của Thông t nhận định hậu quả
của sự cố môi trờng do cháy nổ xăng dầu thờng là nghiêm trọng, không những
gây thiệt hại về mặt kinh tế mà còn làm ô nhiễm các thành phần môi trờng nh

một thời gian ngắn nhất các biện pháp xử lý thích hợp, đạt hiệu quả cao nhất.
Nội dung của Thông t cũng đề cập những nguyên tắc chung của bồi thờng thiệt
hại về môi trờng, nội dung cơ bản của thủ tục và hồ sơ pháp lý đòi bồi thờng
cũng nh các biện pháp trợ cấp ban đầu cho đối tợng là nhân dân sống và hoạt
động trong vùng bị gây hại trực tiếp do sự cố tràn dầu gây nên.
11
Phần II: Thực trạng môi trờng tại cảng dầu B12-
Quảng ninh :
I. ý nghĩa kinh tế xã hội của cảng dầu B12 :
Tên cơ sở : Công ty xăng dầu B12, Tổng công ty xăng dầu Việt Nam
Địa điểm cơ quan: Đờng Cái Lân, Bãi Cháy, Thành phố Hạ Long, Tỉnh
Quảng Ninh.
Nằm ở vị trí thuận lợi cho việc tiếp nhận và vận chuyển hàng, cảng dầu
B12 xây dựng từ năm 1968 và đa vào khai thác từ năm 1972 là đầu mối tiếp
nhận hầu hết các loại xăng dầu nhập ngoại (hoặc từ nhà máy lọc dầu Dung
Quất trong tơng lai ) bằng các tầu trọng tải 10.000-30.000 DWT và thông qua
hệ thống chuyển tiếp nội địa bằng đờng ống, các loại tàu vận tải dới 3000
DWT, đờng sắt ... để cung cấp toàn bộ các loại xăng dầu cho vùng từ Thanh
Hoá trở ra. Riêng dầu mazut (FO), xăng ZA1 thì cung cấp cho cả Nghệ An và
Hà Tĩnh. Hệ thống vận chuyển xăng dầu bằng đờng ống dài 260 km, chạy
xuyên từ cảng B12 (Quảng Ninh) đến Hải Phòng, Hải Dơng, Hà Nội, Hà Nam
với tổng số hơn 500 km đờng ống đờng kính D150 250 mm và hệ thống kho
chứa 200.000 m3, bơm tăng áp đến 64
kg/cm2.Khối lợng chuyển tiếp nội địa bằng đờng ống chiếm trên 60% tổng
hàng nhập qua cảng B12.
Công suất thiết kế ban đầu của cảng là 1 triệu tấn/năm. Sau các đợt nâng
cấp cải tạo, hiện tại cảng có đủ khả năng tiếp nhận tàu trọng tải 20.000
30.000 DWT và công suất tính toán của bến là 1,3 triệu tấn/năm. Cảng B12 gắn
liền với hệ thống phía sau khá lớn, chất lợng các công trình và thiết bị sau các
đợt cải tạo và nâng cấp còn khá tốt.

Theo số liệu thống kê bão và áp thấp nhiệt đới dọc bờ biển Việt Nam trong
29 năm (1964 -1982), tần suất đổ bộ trực tiếp vào Quảng Ninh và thành phố Hạ
Long là 28% số cơn bão đổ bộ vào toàn quốc. Số các cơn bão đổ bộ vào các nơi
khác nhng ảnh hởng đến Quảng Ninh là 5-6 trận/năm. Thời gian có bão đổ bộ
từ tháng 6 đến tháng 10. Tốc độ gió lớn nhất đạt 20m/s. Bão thờng gây ma kéo
dài 3-4 ngày. Lợng ma thờng trên 200 mm.
Mùa ma trung bình từ tháng 5 đến tháng 9. Lợng ma trung bình năm là
2274 mm ; trong đó lợng ma lớn nhất trong tháng là 463,7 mm vào tháng 8 và
nhỏ nhất trong tháng là 18,2 mm vào tháng 1.
Khu vực cảng có chế độ nhật triều thuần nhất.Trong những năm triều yếu,
mực nớc lớn nhất là +3,92 m, mực nớc nhỏ nhất là +0,40 m. Trong những năm
triều mạnh, mực nớc lớn nhất là +4,46 m, mực nớc nhỏ nhất là -0,11 m. Biên độ
dao động thuỷ triều trung bình là 3,10 m. Ngoài ra mực nớc triều còn phụ thuộc
vào các yếu tố tự nhiên nh gió, bão .v.v... Sóng cao nhất trong khu vực này là
0,52 m, theo hớng Bắc . Phần lớn sóng lặng, chiếm tần suất 94,4%.
Trong toàn bộ khu vực dòng chảy diễn biến khá phức tạp, phụ thuộc địa
hình từng điểm.Tại vị trí tàu chở dầu đậu, tốc độ dòng chảy lên tới 1,34m/s.
Trong lúc đó, tại vịnh Hạ Long dòng chảy trung bình đạt 0,10 đến 0,15 m/s.
Vùng nớc cảng dầu B12 khai thác nằm trong vùng cảng đờng kính 600 m,
có độ sâu trên 14 m, luồng dẫn tàu độ sâu trên 7,5 m. Nh vậy, điều kiện tự
nhiên khu vực cảng B12 thuận lợi cho việc xây dựng phát triển bến tiếp nhận và
bơm dầu từ các tầu 20.000 DWT đến 30.000 DWT.
II.1.2) Điều kiện kinh tế -xã hội khu vực cảng dầu B12:
*Một số đặc điểm quy hoạch và định hớng phát triển kinh tế-xã hội khu
vực :
14
Thành phố Hạ Long mà trung tâm là Bãi Cháy và Hòn Gai là đô thị loại 3
mới đợc nâng cấp từ năm 1994. Do có sẵn tiềm năng về kinh tế và vị trí nên
thành phố Hạ Long trở thành một trong 3 thành phố trung tâm tam giác tăng tr-
ởng kinh tế : Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Thành phố Hạ Long có nhiều

Luồng tàu Cửa Lục -Hòn Một nằm trong vịnh Hạ Long, trên một đoạn dài
khoảng 11 km. Độ sâu trung bình 7,5 đến 8,0 m, rộng 60 m. Đây là tuyến duy
nhất của các tàu lớn ra vào các cảng khu vực Hòn Gai - Bãi Cháy. Do ít chịu
ảnh hởng của phù sa sông nên mức độ bồi lắng ở đây thấp, hệ số bồi lắng từ
0,05 đến 0,1. Nhng từ trớc tới nay luồng này chỉ phục vụ cho tàu 4000 đến 5000
DWT ra vào cảng Hòn Gai và 10.000 DWT ra vào cảng Cái Lân, cho nên tàu
dầu có trọng tải lớn hơn đều phải chờ nớc triều lên cao mới ra vào đợc đoạn
luồng này. Trong tơng lai, luồng Hòn Một-Cửa Lục cần nạo vét đến đáy 10,6 m
để tàu 30.000 DWT ra vào, luồng Cửa Lục-Cái Lân nạo vét đáy từ 7,7 m đến
8,0 m để tàu 15.000-20.000 DWT vào cảng.
Phà Bãi Cháy là đầu mối giao thông chính của Quảng Ninh, nối khu vực Bãi
Cháy với Hòn Gai. Tại đây có 4 phà tự hành hoạt động liên tục suốt ngày đêm
với sức tải trung bình 500-600 lợt xe ô tô/ngày đêm.
Khu vực Bãi Cháy hiện nay là trung tâm du lịch và các dịch vụ thơng mại
với hàng chục khách sạn. Hàng ngày tại đây đón nhận hàng nghìn lợt khách đến
tham quan vịnh Hạ Long và tắm biển.
Bến tàu du lịch có hàng chục chiếc hoạt động liên tục để đa khách du lịch
tham quan vịnh. Ngoài ra trong khu vực Cửa Lục và vịnh Hạ Long có hàng trăm
tàu, thuyền máy, sà lan hoạt động vận chuyển than, dầu, hàng hoá, buôn bán,
đánh bắt hải sản .v.v...
II.2. Thực trạng môi trờng tại cảng dầu B12 Quảng Ninh:
16
II.2.1. Chất lợng môi trờng nớc khu vực vịnh Hạ Long-Cửa Lục :
Hiện nay ven bờ vịnh Hạ Long đang hình thành chuỗi các điểm dân c tập
trung có chức năng đô thị khác nhau, nhng đang đều tiến dần đến việc hình
thành đô thị lớn là thành phố Hạ Long. Bãi Cháy là nơi có chức năng du lịch,
thơng mại, công nghiệp cản xuất vật liệu xây dựng và dịch vụ . Trong tơng lai,
ở đây sẽ xuất hiện thêm các khu công nghiệp chất lợng cao, khu chế xuất
Hoành Bồ.


hạn cho phép đối với nớc biển ven bờ dùng làm bãi tắm theo quy định của
TCVN 5943-1995. Hàm lợng kẽm (Zn) nhỏ hơn nồng độ giới hạn cho phép.
Trong vịnh, nồng độ kim loại nặng lại thấp hơn nồng độ giới hạn cho phép
nhiều lần. Theo các số liệu của Phân Viện Hải Dơng Học Hải Phòng thuộc
Trung Tâm Khoa Học Tự Nhiên và Công Nghệ Quốc Gia, trong mùa ma năm
1994, hàm lợng Cu là 0,011 mg/l, Pb là 0,021 mg/l, Hg <0,00001 mg/l, Cd là
0,0002 mg/l.
Các hoạt động của bến cảng, tàu bè ... làm cho hàm lợng dầu trong nớc
biển tăng, vợt tiêu chuẩn hàm lợng dầu cho phép đối với nớc biển nuôi trồng
thuỷ sản (0,05 mg/l). Nớc trong vịnh đang bị ô nhiễm dầu ở mức độ khác nhau.
Theo báo cáo của Trung Tâm Quản Lý và Kiểm soát Môi Trờng (Tổng Cục Khí
Tợng Thủy Văn), do không kiểm soát chặt chẽ việc xả các chất thải có dầu
xuống biển, 14% diện tích mặt nớc vịnh có hàm lợng dầu từ 0,3 đến1,0 mg/l,
86% diện tích có hàm lợng dầu dới 0,3 mg/l. Các số liệu phân tích của Phân
Viện Hải Dơng Học Hải Phòng cho thấy vào mùa ma năm 1994, trên tầng mặt
hàm lợng dầu là 0,170 mg/l còn ở tầng đáy là 0,150mg/l.
Rừng ngập mặn là một trong những hệ sinh thái đặc biệt ven biển Việt
Nam. Tại khu vực Hạ Long, rừng ngập mặn chiếm diện tích không đáng kể,
chúng phân bố ở khu vực ven cảng Cái Lân. Bãi triều ở đây khá bằng phẳng,
kéo dài, vịnh lại kín nên động lực của sóng bị giảm, khi vào bờ trở nên rất yếu.
Nền đáy ở đây dạng phù sa bồi tụ, cấu trúc hạt mịn, khá giàu chất dinh dỡng.
Lớp trầm tích có màu xám, xám đen, PH dao động từ 7 đến 8, hàm lợng cacbon
18
hữu cơ tơng đối cao từ 1,5 đến 2,0% ; đôi chỗ tích tụ sun phua, có mùi lu
huỳnh. Môi trờng trầm tích nhìn chung yếm khí. Hệ thực vật ở đây phong phú,
tạo thành rừng một tầng. Thực vật trong rừng ngập mặn thờng là cây bụi, cây
thân gỗ.
Trong vịnh Hạ Long có nhiều san hô. Các kết quả bớc đầu nghiên cứu Hệ
sinh thái san hô cho thấy, có khoảng 100 loài , trong đó 80 loài thuộc dạng
Seleractinians và 20 loài thuộc dạng Alcyonarians đã đợc ghi nhận. Ngoài san

số ngời nhạy cảm, xăng dầu còn gây tác động trực tiếp lên da, gây ra các bệnh
ngoài da.

Trong hơi xăng dầu còn có sự hiện diện của chì. Khi vào cơ thể, 30-40% chì
sẽ đi vào máu. Chì bắt đầu gây nguy hiểm khi nồng độ của nó trong máu vợt
quá 200-250mg/l.

Khu vực cảng và kho xăng dầu B12 nằm cao hơn mực nớc biển 40 m. Kho
đặt ở bìa núi, độ cao ngọn núi cao nhất trong khu vực ở phía Tây Bắc kho cảng
là 141,2 m. Trong khu vực cảng và kho hoàn toàn trống trải, cây xanh thấp và ít.
Cảng nằm dọc theo hớng Bắc-Nam và Đông Bắc-Tây Nam. Phía Đông và Đông
nam là biển. Phía cuối cảng hớng Đông Bắc là đồi thấp, trên đồi có nhiều nhà
dân. Địa hình có ảnh hởng lớn đến sự phân bố nồng độ các chất độc hại trong
không khí. Nguồn thải chính gây ô nhiễm không khí trong khu vực là xăng bay
hơi trong quá trình xuất nhập xăng dầu từ trạm bơm chính và trạm bơm hố van .
Ngoài ra lợng dầu rơi vãi trong khu vực kho khi làm vệ sinh các bể chứa, lợng
dầu tồn đọng trong các hố ga ... khi bốc hơi cũng có thể làm tăng nồng độ hơi
xăng dầu trong khu vực. Thành phần chủ yếu của các nhiên liệu lỏng vận
chuyển qua cảng là hydrocacbon, ngoài ra còn có lu huỳnh(S), chì(Pb). Ngoài
ra nguồn phụ gây ô nhiễm còn là sản phẩm đốt cháy nhiên liệu của các tàu và sà
lan.

Trung Tâm Kỹ Thuật Môi Trờng Đô Thị và Khu Công Nghiệp (CEETIA),
Trờng Đại Học Xây Dựng Hà Nội đã tiến hành hai đợt khảo sát môi trờng
20
không khí tại khu vực cảng dầu B12. Đợt 1 vào các ngày 24 và 25/5/1995. Đợt
2 tiến hành vào các ngày 16 và 17/4/1997.

Vị trí lấy mẫu khí, phụ thuộc vào điều kiện địa hình và thời tiết đợc chọn
nh sau:

mg/
m3
CxHy
mg/
m3
H
2
S
mg/m
3
Hơi Pb
mg/m3
Ghi chú
9.00
11.00
16.45
Trạm
bơm
chính
vết
vết
vết
425,8
227,0
192,1
0,56
0,34
0,15
0,013
0,007

Địa
điểm
SO
2
mg/
m3
CxHy
mg/
m3
H
2
S
mg/
m3
Hơi Pb
mg/m3
Ghi chú
8.00
11.00
14.30
16.30
Hố van vết
vết
0,1
vết
59,8
133,3
99,1
207,0
0,15

0,028
0,015
0,023
0,018
Tàu dầu nhập dầu vào kho.
Trạm bơm chính cấp dầu
cho sà lan
22

Chất lợng môi trờng không khí theo các chỉ tiêu ô nhiễm xăng dầu tại khu
vực cảng B12 đợt khảo sát ngày 16 và 17 tháng 4 năm 1997 (Bến phao cảng
đã sửa chữa , cải tạo)
Ngày
đo
Địa điểm SO
2
m
g/m3
CxHy
mg/
m3
H
2
S
mg/
m3
Hơi
Pb
mg/
m3

Tàu nhập dầu vào
kho.Trạmbơmchính
cấp dầu cho sà lan
Kết quả phân tích cho thấy:
*Nồng độ SO
2
trong khu vực cảng dầu B12 rất nhỏ
(chủ yếu là vết) do ở đây không có đốt nhiên liệu và phơng tiện giao thông sử
dụng nhiên liệu hóa thạch ít hoạt động.
*Nồng độ H
2
S trong khu vực kho xăng dầu tơng đối
lớn (từ 0,15 đến 0,378 mg/m3 qua các lần đo) nhng vẫn dới mức nồng độ giới
hạn cho phép đối với không khí khu vực sản xuất theo quy định số 505
BYT/QĐ của Bộ Y Tế (10 mg/m3). Khí H
2
S tạo thành do phân hủy các chất hữu
cơ rơi vãi ngoài không khí, ở khu cảng chủ yếu do dầu nặng rơi vãi phân hủy
nên. Tại khu vực dân c không phát hiện có H
2
S.

Hố van nằm ở đầu gió nên nồng độ H
2
S là nhỏ nhất, ở trạm bơm chính lợng
dầu rơi vãi nhiều hơn nên nồng độ lớn nhất. Khi trạm làm việc, xuất dầu xuống
23
sà lan, nồng độ H
2
S ở đây cũng tăng lên. Tại khu bể và cuối kho, nồng độ H

khi tàu chở dầu nhập hàng và trạm bơm chính hoạt động xuất hàng xuống sà
24
lan, hàm lợng chì tăng lên đến 2-3 lần. Nồng độ chì ở đây tơng đơng với nồng
độ chì tại các trục đờng giao thông. Các kết quả tơng tự cũng thu đợc trong đợt
khảo sát tháng 4 năm 1997. Trong khu vực dân c gần kho cảng, lợng chì ở mức
có vết, đảm bảo quy định của TCVN 5938-1995 đối với không khí xung quanh.
Nguồn gây ô nhiễm chì do xăng và nớc biển có chì (0,20 mg/l) bay hơi. Một số
nguyên nhân làm nớc biển ô nhiễm chì hiện nay vẫn cha xác định đợc.
II.2.2.2. Ô nhiễm do nớc thải chứa dầu, do dầu rò rỉ và rơi vãi:
Nớc biển có thể bị ô nhiễm bởi dầu và nhũ dầu thoát ra khỏi bể chứa . Khi
xả nớc đáy bể, xăng dầu bám dính vào bề mặt phơng tiện chứa, trang thiết bị
dụng cụ lao động, tràn, vãi trong quá trình xuất nhập, rò rỉ trên đờng ống xuất
nhập,do khói thải của tàu, xe ngng đọng ... Trong các nguyên nhân này, hơi
xăng dầu, khói thải ngng đọng, xăng dầu thoát ra khi xả nớc đáy bể, xăng dầu
bám vào các thiết bị áo quần theo nớc thải công nghiệp thoát ra là thờng
xuyên.Các nguyên nhân khác là do công nhân kém tay nghề, không có trách
nhiệm hoặc trang thiết bị không đợc bảo dỡng thờng xuyên. Theo các tiêu
chuẩn xăng dầu hiện hành, lợng nớc rửa nền nhà kho, trạm bơm ... là
4l/m2.Tiêu chuẩn nớc xả từ đáy bể xăng dầu W=3.000-5.000m3 là 10l/s. Các
loại nớc thải này chứa nhiều sản phẩm hữu cơ, các chất vô cơ dạng hạt và lẫn
nhiều sản phẩm xăng dầu.

Khi xả vào biển, khả năng phát tán các chất bẩn trong nớc thải kho xăng
dầu rất hạn chế do nớc biển có tỷ trọng lớn, tổng lợng chất khoáng cao. Mặt
khác, chế độ thủy triều sẽ là yếu tố ngăn cản việc vận chuyển chất bẩn ra xa.
Chì và một số kim loại trong nớc thải sẽ tích tụ trong vùng cửa sông gần miệng
xả. Váng dầu cản trở sự xâm nhập ánh sáng và oxy vào nớc. Hệ sinh vật của
thủy vực sẽ bị thay đổi.

25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status