NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI - Pdf 67

NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại (NHTM)
1.1.1. Khái niệm NHTM
Tất cả các tài liệu nghiên cứu đều khẳng định, ngân hàng là một trong những tổ
chức tài chính quan trọng nhất của nền kinh tế. Có nhiều cách thể hiện khác nhau về các
định nghĩa về ngân hàng thương mại, nhưng nhìn chung, các ngân hàng thương mại
được định nghĩa thông qua chức năng dịch vụ mà chúng thực hiện trong nền kinh tế.
[Rose P.S. (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại, Nhà xuất bản thống kê, trang 4
chương 1].
Theo điều 201, Luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam có nêu: “Tổ chức tín dụng
là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của luật này và các quy định khác của
pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận
tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”. Theo
Wikipedia, NHTM là những trung gian tài chính, nhận tiền gửi của các hộ gia đình (cá
nhân) và cho các doanh nghiệp và cá nhân khác vay, cung cấp các dịch vụ về trao đổi
ngoại tệ, chuyển tiền, các dịch vụ liên quan đến thư tín dụng, dịch vụ két an toàn, v.v...
Vai trò quan trọng của ngân hàng được hình thành từ các hoạt động phong phú của
mình. Các hoạt động của NHTM có thể được phân chia thành một số hoạt động chính
sau đây.
1.1.2. Các hoạt động cơ bản của NHTM
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn.
Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà ngân hàng huy động được từ các tổ chức
kinh tế và cá nhân trong xã hội. Vốn huy động bao gồm 2 loại chủ yếu là tiền gửi và
nguồn huy động khác, bao gồm chứng chỉ tiền gửi và trái phiếu [TS Tô Ngoc Hưng,
Giáo trình nghiệp vụ kinh doanh hoạt động ngân hàng].
Tiền gửi là nguồn tài nguyên quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn tiền của
NHTM. Ngân hàng huy động tiền gửi thông qua việc cung cấp các loại hình tiền gửi
khác nhau.
-Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi trong ngân hàng với mục đích tạo một nguồn
tiền sẵn có cho mục đích thanh toán, chi trả thông qua hoạt động ngân hàng, do đó

- Tín dụng tiêu dùng: được cấp phục vụ cho mục đích tiêu dùng cá nhân của các
hộ gia đình.
 Xét theo đối tượng cấp tín dụng, tín dụng được chia làm 2 loại:
- Tín dụng vốn lưu động: đươc sử dụng để tài trợ cho nguồn vốn lưu động tạm
thời bị thiếu hụt của các tổ chức kinh tế.
- Tín dụng vốn cố định: được sử dụng để hình thành tài sản cố định, thường có
thời hạn trung và dài.
 Tín dụng xét theo xuất xứ được chia làm 2 loại:
- Tín dụng gián tiếp: là hình thức tín dụng thông qua một trung gian tài chính, một
ngân hàng thương mại khác.
- Tín dụng trực tiếp: là hình thức mà tín dụng được cấp trực tiếp giữa ngân hàng
và người đi vay, không qua một tổ chức trung gian nào khác.
1.1.2.3. Hoạt động đầu tư tài chính.
Ngoài nghiệp vụ tín dụng là nghiệp vụ mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng,
khoản mục được đánh giá là nguồn quan trọng thứ hai, có liên quan và hỗ trợ, bổ sung
cho khả năng sinh lời của các nghiệp vụ cho vay là khoản mục chứng khoán. Ngân hàng
tham gia vào thị trường chứng khoán dưới nhiều hình thức, thực hiện hoạt động đầu tư
tài chính với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận, nâng cao khả năng thanh toán và đa dạng hóa
tài sản, hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro trong hoạt động ngân hàng.
Các NHTM tiến hành nghiệp vụ đầu tư tài chính dưới 2 hình thức cơ bản: đầu tư
chứng khoán và liên doanh liên kết.
- Nghiệp vụ đầu tư chứng khoán: Thị trường chứng khoán có rất nhiều chủ thể
tham gia, trong đó NHTM với vai trò trung gian tài chính hoặc chủ thể phát hành đóng
vai trò hết sức quan trọng. Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện nghiệp vụ đầu tư chứng
khoán với tư cách là một nhà đầu tư chuyên nghiệp, mua đi bán lại các chứng khoán để
kiếm lời.
NHTM thường đầu tư vào 2 loại chứng khoán chủ yếu có kỳ hạn dài là chứng
khoán do chính phủ hay chính quyền địa phương phát hành và chứng khoán do các
công ty, xí nghiệp phát hành. Chứng khoán do Nhà nước phát hành có lợi nhuận thấp,
song hầu như không có rủi ro do Nhà nước luôn có nguồn đảm bảo khả năng thanh toán

- Dịch vụ ủy thác: là dịch vụ quản lý tài sản được thực hiện dưới nhiều hình thức
và cách sắp xếp khác nhau. Dịch vụ ủy thác có thể được chia làm 3 lĩnh vực chính: việc
ấn định tài sản, điều hành dịch vụ ủy thác, giám hộ tài sản và hoạt động của các cơ quan
đại diện.
- Dịch vụ tư vấn: là việc ngân hàng dựa vào kinh nghiệm và hiểu biết của mình mà
tư vấn cho khách hàng những lời khuyên tốt nhất, những hiểu biết sâu sắc nhất về các
lĩnh vực mà khách hàng yêu cầu.
- Dịch vụ bảo hiểm, dịch vụ bảo quản lý gửi, nghiệp vụ ngân hàng trên thị trường
chứng khoán: đây là những hoạt động phức tạp và đòi hỏi chuyên môn, vì vậy các ngân
hàng thường lập các công ty con hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực này đảm trách.
1.1.3. Hoạt động tín dụng
Tín dụng là hoạt động quan trọng hàng đầu của các ngân hàng để tài trợ cho chi
tiêu của các doanh nghiệp, cá nhân và các cơ quan chính phủ. Hoạt động cho vay của
ngân hàng phục vụ, bởi vì cho vay thúc đẩy sự tăng trưởng của các doanh nghiệp, tạo
ra sức sống cho nền kinh tế. [Rose P.S. (2004), Quản trị Ngân hàng thương mại, Nhà
xuất bản tài chính, Hà Nội]
Theo luật các tổ chức tín dụng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, điều 49
có ghi: “Tổ chức tín dụng được cấp tín dụng cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức cho
vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh cho thuê tài chính và
các hình thức khác theo quy định của ngân hàng Nhà nước.”
Các hình thức cấp tín dụng truyền thống mà ngân hàng cung cấp bao gồm:
1.1.3.1. Hoạt động chiết khấu thương phiếu
Thương phiếu là công cụ của tín dụng thương mại, là một giấy nợ phát sinh trong
quan hệ thương mại, dùng để xác nhận cho người cầm nó một trái quyền ngắn hạn về
tiền đối với người thụ lệnh khi giấy nợ đến hạn. Thương phiếu có khả năng chuyển
nhượng dễ dàng, có tính đảm bảo cao và khả năng thanh toán tương đối chắc chắn.
Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn của ngân hàng,
trong đó khách hàng chuyển nhượng quyền sở hữu những thương phiếu chưa đến hạn
thanh toán cho ngân hàng để nhận về một khoản tiền bằng mệnh giá trừ đi lợi tức và
phí hoa hồng.[ TS. Tô Ngọc Hưng, Giáo trình Nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng, Nhà

Khi khách hàng có tiền nhập về tài khoản, ngân hàng sẽ thu nợ gốc và lãi.
Số tiền lãi mà khách hàng phải trả =lãi suất thấu chi*thời gian thấu chi*số tiền
Đây là hình thức vay tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng, chủ động và kịp thời,
đồng thời có thủ tục đơn giản, linh hoạt không gây phiền hà nhiều cho khách hàng.
Tuy nhiên, hình thức vay này không có đảm bảo và ngân hàng không kiểm soát
được mục đích sử dụng vốn vay của khách hàng, vì vậy hình thức này chỉ được áp dụng
cho những khách hàng quen thuộc và có uy tín.
- Cho vay trực tiếp từng lần: Là hình thức cho vay tương đối phổ biến đối với các
khách hàng không có nhu cầu vay vốn thường xuyên.
Mỗi lần vay, khách hàng và ngân hàng phải làm những thủ tục vay vốn cần thiết
và ký kết hợp đồng tín dụng. Nghiệp vụ này tương đối đơn giản và ngân hàng có thể dễ
dàng kiểm soát mục đích sử dụng vốn vay và hạn chế rủi ro do khách hàng phải làm
đơn và trình phương án vay.
- Cho vay theo hạn mức: Với hình thức này, tổ chức tín dụng và khách hàng xác
định và thoả thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định.
Hạn mức tín dụng có thể được tính cho cả kỳ hoặc cuối kỳ và là số dư tối đa tại thời
điểm tính.
Hạn mức tín dụng được cấp trên cơ sở nhu cầu vốn và nhu cầu vay vốn của khách
hàng. Đây là hình thức cho vay thuận tiện với những khách hàng có quan hệ vay mượn
thường xuyên, vốn vay tham gia thường xuyên vào quá trình sản xuất kinh doanh và tốc
độ lưu chuyển vốn tín dụng nhanh.
- Cho vay luân chuyển: Là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển của hàng hóa,
ngân hàng cho vay khi doanh nghiệp thiếu vốn khi mua hàng và sẽ thu nợ khi doanh
nghiệp bán hàng. Ngân hàng sẽ yêu cầu doanh nghiệp cam kết sử dụng mọi khoản thu
bán hàng để trả nợ trước khi thanh toán cho nhà cung cấp và các khoản phải thu cùng
hàng hóa trong kho đều trở thành tài sản đảm bảo cho khoản vay.
- Cho vay trả góp: Là hình thức tín dụng, theo đó ngân hàng cho phép khách hàng
trả nợ gốc làm nhiều lần trong thời hạn thỏa thuận. Hình thức này nhằm tài trợ khuyến
khích tiêu thụ hàng hóa và áp dụng tài trợ cho tài sản cố định và các hàng hóa lâu bền.
- Cho vay gián tiếp: Là hình thức cho vay thông qua các tổ chức trung gian. Ngân


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status