CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH - Pdf 67

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
I. Khái niệm và bản chất của hiệu quả kinh doanh
1. Khái niệm hiệu quả kinh doanh.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp
phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố của quá trình sản xuất. Hiệu quả kinh
doanh còn thể hiện sự vận dụng khéo léo của các nhà quản trị doanh nghiệp
giữa lý luận và thực tế nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất
như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu, nhân công để nâng cao lợi nhuận. Vậy
hiệu quả kinh doanh là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ sử
dụng các nguồn vật lực, tài chính của doanh nghiệp để đạt được hiệu quả cao
nhất.
Nâng cao hiệu quả kinh doanh là một trong những biện pháp cực kỳ quan
trọng của các doanh nghiệp để thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng cao một cách
bền vững. Do vậy phân tích hiệu quả kinh doanh là một nội dung cơ bản của
phân tích tài chính nhằm góp phần cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển không
ngừng. Mặt khác, hiệu quả kinh doanh còn là chỉ tiêu đánh giá kết quả kinh
doanh của các doanh nghiệp, góp phần tăng thêm sức cạnh tranh cho các doanh
nghiệp trên thị trường.
2. Bản chất của hiệu quả kinh doanh:
Bất kỳ hoạt động nào của một tổ chức đều mong muốn đạt hiệu quả cao
nhât trên mọi phương diện kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường. Hoạt động kinh
doanh trong cơ chế thị trường yêu cầu hiệu quả càng đòi hỏi cấp bách, vì nó là
động lực thúc đẩy các doanh nghiệp cạnh tranh và phát triển. Hiệu quả kinh
doanh của các doanh nghiệp chủ yếu xét trên phương diện kinh tế có quan hệ
với hiệu quả xã hội và môi trường.
Thực chất của hiệu quả kinh doanh là sự so sánh giữa các kết quả đầu ra
với các yếu tố đầu vào của một tổ chức kinh tế được xem xét trong một thời kỳ
nhất định, tuỳ theo yêu cầu của các nhà quản trị kinh doanh.
Kết quả đầu ra
Hiệu quả kinh doanh =
_____________________

Hiệu quả kinh tế biểu hiện mối tương quan giữa kết quả thu được với chi
phí bỏ ra để thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Việc tính toán, xác định
hiệu quả kinh tế chính là việc so sánh giữa chi phí bỏ ra và kết quả đạt được.
Chi phí và kết quả có quan hệ biện chứng với nhau, chúng phụ thuộc vào nhau,
tách rời ra thì hiệu quả kinh tế không tồn tại. Hiệu quả kinh tế mà doanh nghiệp
muốn là một số dương, điều này đòi hỏi chi phí bỏ ra phải nhỏ hơn kết quả thu
được thì hoạt động kinh doanh mới có hiệu quả.
2.
Hiệu quả xã hội:
Hiệu quả xã hội là những đánh giá về mức sống, thu nhập, môi trường, sự
phát triển của con người… Kết quả của hiệu quả xã hội vừa mang tính định
lượng thông qua tính toán các chỉ tiêu đã định sẵn đồng thời cũng mang tính
định tính được nhận biết bằng trực quan. Sự hình thành hiệu quả xã hội không
cố định về thời gian, không gian, có những tiêu chí thấy được ngay nhưng cũng
có những tiêu chí phải được hình thành trong một thời gian dài mới có hiệu quả.
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội mặc dù có cách thể hiện khác nhau
nhưng có mối liên hệ biện chứng với nhau: hiệu quả kinh tế là cơ sở, tiền đề để
tạo ra hiệu quả xã hội. Hay nói cách khác hiệu sản xuất kinh doanh có lợi nhuận
dẫn đến các đơn vị kinh tế tạo lập, hoàn thiện môi trường văn hoá xã hội, nâng
cao mức sống của các thành viên, nâng cao kiến thức, trình độ, sự hiểu biết của
con người. Đồng thời sự đóng góp của các doanh nghiệp về kinh tế đối với nền
kinh tế quốc dân sẽ thúc đẩy những chuyển biến về cơ chế quản lý, phát triển cơ
sở hạ tầng, thúc đẩy sự hoà nhập vào khu vực và trên thế giới.
Ngược lại, hiệu quả xã hội sẽ tạo ra môi trường, những cơ hội thuận lợi để nâng
cao hiệu quả kinh tế thông qua chế độ chính sách hợp lý, năng lực của con
người trong việc phát triển khoa học công nghệ, nhận biết thông tin đầy đủ về
thị trường, mối quan hệ giữa các đơn vị kinh tế ,ngành kinh tế và các quốc gia.
Mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội không phải lúc nào cũng
diễn ra theo chiều thuận lợi. Cụ thể như hiệu quả kinh tế tăng lên dẫn đến phân
hoá giàu nghèo gay gắt, huỷ hoại môi trường, chuyên môn hoá dẫn tới con

kinh doanh của doanh nghiệp QP so với các thành phần kinh tế khác.
Như vậy đã có sự khác biệt trong quá trình hình thành hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp QP so với các thành phần kinh tế khác. Sự khác biệt đó
cùng với mục tiêu sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp QP đã dẫn tới những
thay đổi cơ bản trong mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế với hiệu quả xã hội.
Mối quan hệ đó xuất phát từ nhiệm vụ của doanh nghiệp QP là đảm bảo sản
xuất QP theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước.
Hiệu quả kinh doanh đạt được mục tiêu hoạt động công ích nhằm giữ
vững an ninh QP, ổn định chính trị, phát triển kinh tế. Hiệu quả xã hội là một
tiêu chí bắt buộc và hình thành trước hiệu quả kinh tế, hiệu quả kinh tế được
đảm bảo trên cơ sở đã hình thành mục tiêu xã hội, thông qua chế độ chính sách
cụ thể của Nhà nước. Đồng thời hiệu quả trong sản xuất QP được nâng cao bởi
sự vận động của chính các doanh nghiệp.
Trong lĩnh vực sản xuất kinh tế, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
QP được thể hiện đầy đủ trên hai phương diện kinh tế, xã hội. Tuy nhiên, hiệu
quả kinh tế được hình thành trước là điều kiện bắt buộc để doanh nghiệp tồn tại
và phát triển. Đồng thời hiệu quả kinh tế là cơ sở để tạo ra hiệu quả xã hội trực
tiếp của doanh nghiệp và một phần chuyển sang mục đích nâng cao năng lực
sản xuất QP sẽ gián tiếp tạo ra hiệu quả xã hội trong phạm vi lớn hơn.
Vậy nội dung hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp quốc phòng
được thể hiện một cách rộng rãi hơn, phải được xem xét trong mối liên hệ hữu
cơ với hiệu quả của toàn nền kinh tế. Hiệu quả trong hoạt động của các doanh
nghiệp QP tăng lên sẽ tác động tới ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc
dân. Ngược lại, nền kinh tế quốc dân phát triển sẽ tạo điều kiện và môi trường
thuận lợi để các doanh nghiệp QP có những cơ hội tốt cho sự phát triển toàn
diện.
III. Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh
Thông thường trước khi tiến hành đánh giá một cách chi tiết, cụ thể hiệu
quả kinh doanh, doanh nghiệp cần đánh giá khái quát hiệu quả kinh doanh,
nghiên cứu một cách toàn diện cả về thời gian, không gian, môi trường kinh

Trong thực tế thường sử dụng các chỉ tiêu sau đây:

Chỉ tiêu doanh lợi doanh thu (ROS): Chỉ tiêu này phản ánh số lợi nhuận thu được
trong 100 đồng doanh thu.
Lợi nhuận sau thuế
ROS =
__________________________
Doanh thu
Giá trị trung bình của ngành là 2,9%.

Chỉ tiêu doanh lợi tài sản (ROA): ROA đo lường hoạt động của doanh nghiệp
trong việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận, không phân biệt tài sản này được
hình thành bởi nguồn vốn vay hay vốn chủ sở hữu. Ý nghĩa của ROA cho biết
hiệu quả hoạt động đầu tư của doanh nghiệp.
Thu nhập sau thuế
ROA =
_____________________________
Tổng tài sản
Giá trị trung bình của ngành là 8,8%

Chỉ tiêu doanh lợi trên vốn chủ sở hữu (ROE): Chỉ tiêu này cho thấy kết quả của
việc sử dụng tài sản để tạo ra lợi nhuận cho chủ sở hữu. ROE có liên quan đến
chi phí trả lãi vay, vì vậy nó là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả sử dụng vốn
của chủ sở hữu dưới tác động của đòn bẩy tài chính (hệ số nợ và hệ số thanh
toán lãi vay).
Lợi nhuận sau thuế
ROE =
________________________________
Tổng vốn chủ sở hữu
Giá trị trung bình của ngành là 17,5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status