LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM - Pdf 67

LÍ LUẬN CƠ BẢN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NHTM
1.1: Khái quát về hoạt động cho vay của NHTM
1. Vài nét về Ngân hàng thương mại
1.1. Khái niệm
Ngân hàng thương mại là loại hình tổ chức tài chính tín dụng kinh
doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi của
khách hàng, có trách nhiệm hoàn trả và sử dụng vốn đó để cho vay, thực hiện
các nghiệp vụ triết khấu và thanh toán
Tại Mỹ, Ngân hàng thương mại là một tổ chức tín dụng mà hoạt động
kinh doanh chủ yếu là huy động vốn từ tiền gửi của cá nhân, đơn vị kinh tế để
lại các đối tượng đó. Các Ngân hàng này không được phép kinh doanh tổng
hợp các dịch vụ khác như đầu tư tài chính, cung cấp dịch vụ cho nhóm nghành
nghề riêng biệt..
Tại Anh, Ngân hàng thương mại ngoài các nghiệp huy động và cho vay
còn có quyền kinh doanh tổng hợp đồng thời tất cả các nghiệp vụ Ngân hàng
khác
Theo luật Ngân hàng Nhà nước và luật các tổ chức tín dụng các Ngân
hàng thương mại ở Việt Nam, đặc biệt là các Ngân hàng quốc doanh được
thực hiện đồng thời các hoạt động của Ngân hàng thương mại và các hoạt
động mang tính chất bảo trợ, tài trợ cho các hoạt động kinh doanh mang tính
kinh tế xã hội của Chính phủ như: cho vay phát triển các doanh nghiệp Nhà
nước, cho vay ưu đãi đối với một số đối tượng dân cư và các thành phần kinh
tế khác theo quy định của pháp luật
1.2 HOẠT ĐỘNG CƠ BẢN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1 Ngiệp vụ nhận tiền gửi khách hàng
Ngân hàng thương mại huy động vốn dưới nhiều hình thức khác nhau
để tạo nguồn vốn hoạt động. Các nguồn cung cấp vốn cho Ngân hàng bao gồm
chủ yếu là các loại tiền gửi cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức phi thương
mại, cơ quan chính phủ, của các Ngân hàng khác, phát hành trái phiếu, tiền
nhờ thu...
Các loại tiền gửi. Có nhiều hình thức gửi tiền, thanh toán khác nhau

Nghiệp vụ bảo lãnh. Là việc Ngân hàng thương mại cam kết trả thay
khách hàng trong trường hợp khách hàng không có khả năng thanh toán
1.2.3. Các nghiệp vụ trung gian.
Nghiệp vụ trung gian là các nghiệp vụ mà Ngân hàng thực hiện nhằm
đảm bảo, duy trì và tăng tính hấp dẫn trong các hoạt đọng tín dụng. Ngiệp vụ
trung gian bao gồm
- Nghiệp vụ nhận ký gửi, uỷ thác tài sản tài chính
- Nghiệp vụ triết khấu các chứng từ có giá
- Nghiệp vụ bao thanh toán, bao thầu phát hành cổ phiếu, trái phiếu mới
của các công ty cổ phần
- Nghiệp vụ tham gia các chính sách tiền tệ của Ngân hàng Trung ương
Trên đây là một số nghiệp vụ chính của hệ thống các Ngân hàng thương
mại ở Việt Nam. Các ngiệp vụ đó nhằm bảo đảm sự tồn tại và phát triển của
các Ngân hàng. Trong đó, đặc trưng và quan trọng nhất là nghiệp vụ cho vay.
Các nguồn vốn Ngân hàng sử dụng bao gồm cả nguồn vốn tự có và vốn đi vay,
do đó trách nhiệm của Ngân hàng rất cao nhằm bảo đảm ngoài mục tiêu lợi
nhuận còn phải đảm bảo an toàn vốn cho khách hàng. Chất lượng của khoản
vay hay hiệu quả hoạt động của Ngân hàng chính là sự cân đối giữa rủi ro và
lợi nhuận. Trong một vài năm trở lại đây, cùng với sự tăng trưởng kinh tế
nhanh chóng, sự ra đời của các thị trường tài chính và các sản phẩm tài chính
ngày càng phong phú, mối quan hệ tài chính phức tạp khiến cho người đi vay
và Ngân hàng ít có thông tin chính xác, đầy đủ. Việc xem xét trước khi cho vay
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng quyết định tới sự thành bại trong kinh doanh của
các Ngân hàng
1.1.1: Khái niệm và đặc điểm cho vay của ngân NHTM
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thế giới về các dịch vụ thanh toán, nhu cầu về vốn
càng lớn cần thiết phải có một trung gian tài chính vừa làm nhiệm chuyển tiền của khách hàng
khác vay và cung cấp các dịch vụ nhận tiền của khách hàng này cho khách hàng khác.,cung cấp các
dịch vụ tiện ích cho các dịch vụ trong hoạt động thanh toán.NHTM đó được ra đời để đáp ứng nhu
cầu đó.

thỡ ớt rủi ro nhỏ, song mún vay lớn thỡ rủi ro lớn.
1.2. Các phương pháp cho vay của NHTM
Ngân hàng dựa vào nhiều tiêu chí để phân loại ra các phương thức cho vay ,cụ thể có một số cách
phân loại sau :
1.2.1: Căn cứ vào thời hạn vay
Cú ý nghĩa quan trọng với ngõn hàng vỡ thời gian liờn quan mật thiết đến tính an toàn và
sinh lời của tín dụng cũng như khả năng hoản trả vốn của khách hàng
-Cho vay ngắn hạn : là hoạt động cho vay có thời hạn dưới 12 tháng cho vay nhằm để, bù
đắp sự thiếu hụt về vốn huy động và để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn ngăn hạn của nhà nước của
doanh nghiệp và của hộ gia đỡnh…ỏp dụng cho vay theo han mức ,mún hoặc cho vay trực tiếp
,gián tiếp
-Cho vay trung hạn : là hoạt động vay vốn từ 1 năm đến 5 năm cho các TSCĐ như phương
tiện vận tải một số cây trồng ,vật nuôi , trang thiết bị nhanh hao mũn
-Cho vay dài hạn : là hoạt động cho vay trên 5 năm dung để cho vay các công trinh xây
dưng lớn như :nhà xưởng ,sân bay ,cầu đường ,máy móc thiết bị có giá trị lớn thường có thờI hạn
sử dụng lâu dài
1.2.2: Theo mức độ tín nhiệm :
Là dựa vào uy tín năng lực của khách hàng đi vay mà ngân hàng chia làm 2 loại :
-Cho vay có TSĐB: là phương thức cho vay chủ yếu của ngân hàng Khi cá nhân hay doanh
nghiệp muốn vay vốn phải đảm bảo để thực hiện nghĩa vụ trả nợ bằng tài sản ,vật chất .TSĐB bao
gồm :
+ Loại 1: là các tài sản thuộc sở hữu hoặc sử dung lâu dài của khách hàng hoặc người bảo
lónh của khỏch hàng trước ngân hàng.Những đảm bảo loại này không được hỡnh thành từ khỏan
tớn dụng của chớnh ngõn hàng ,. Đảm bảo loại 1 có thể có giá trị lớn , nhỏ hơn ,hoặc bằng giá trị
của tài khoản tín dụng tuỳ thuộc vào sự đánh giá dự đoán của ngân hàng về rủi ro .Các khoản tín
dung dựa trên tài sản đảm bảo loại 1 thường đảm bảo an toàn cho ngân hàng .Song gây khó khăn
cho cả ngân hàng lẫn khách hàng trong việc định giá bảo quản làm cho thời hạn phân tich tín dung
thường kéo dài .
+ Loại 2: Là những tài sản hỡnh thành từ nguồn tài trợ của ngân hàng Đây là biện pháp
cuốI cùng để ngân hàng có thể hạn chế được ngườI vay bán tài sản được hỡnh thành từ vốn vay

cho khách hàng hạn mức tín dụng .Hạn mức tín dụng này được cấp trên cơ sở kế hoạch sản xuất
kinh doanh , nhu cầu vay vốn của khách hàng đầu kỳ hay cuối kỳ kinh doanh
- Cho vay luân chuyển: là nghiệp vụ cho vay dựa trên luân chuyển hàng hóa ngân hàng sẽ
cho các doanh nghiệp đang thiếu vốn vay để mua hàng và sẽ thu nợ khi doamh nghiệp bán hàng.
Ngõn hàng và khỏch hàng sẽ thoả thuận với nhau về hỡnh thức vay ,hạn mức tớn dụng nguồn cung
cấp hàng hoỏ cũng như khả năng tiêu thụ .Trong đó HMTD có thể thoả thuận trong một vài năm
không phải là thời hạn hoàn trả mà là thời hạn ngân hàng xem xét và quyết định cho vay nữa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status