Trường………………………
Khoa………………………
ĐỀ ÁN
Tăng trưởng của ngành sản
xuất công nghiệp ở nước ta
trong những năm qua. Thực
trạng và giải pháp
Tiểu luận: Kinh tế phát triển
2
CHƯƠNG I
ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN KẾ HOẠCH 5
NĂM 2001-2005
1. Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2001-2005 đối với ngành
công nghiệp:
- Mục tiêu chung: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của
nền kinh tế là 7,5%, trong đó nông, lâm, ngư nghiệp tăng 4,3%, công nghiệp
và xây dựng tăng 10,8%, dịch vụ tăng 6,2%; tỷ trọng công nghiệp và xây
dựng 38-39%, nông lâm ngư nghiệp 20-21%, các ngành dịch vụ 41-42%.
- Mục tiêu phát triển ngành công nghiệp:
+ Giá tr
ị sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng bình quân 13%/năm;
+ Ngành điện tăng trưởng 13,1%/năm, năm 2005 dự kiến điện sản xuất
đạt 49 tỷ Kwh;
+ Ngành than tăng trưởng 6,8%/năm, năm 2005 dự kiến sản lượng than
sạch khoảng 15 triệu tấn và xuất khẩu khoảng 3,5 triệu tấn/năm;
+ Ngành dầu khí tăng trưởng khoảng 4-5%/năm, năm 2005 dự kiến đạt
sản l
ượng 22 - 22,5 triệu tấn dầu quy đổi và xuất khẩu khoảng 12 - 16 triệu
tấn/năm;
+ Ngành thép tăng trưởng khoảng 14-15%/năm, năm 2005 dự kiến đạt
sản lượng 3,3 triệu tấn thép xây dựng, 1 - 1,4 triệu tấn phôi thép và 0,7 triệu
tấn thép các loại khác;
+ Ngành xi măng tăng trưởng khoảng 13%/năm, năm 2005 dự kiến đạt
sản lượng sản xuất 23-24 triệu tấn xi măng;
+ Ngành giấy tăng tr
ưởng khoảng 10%/năm, năm 2005 dự kiến đạt sản
lượng 605 ngàn tấn giấy;
trì tăng trưởng công nghiệp. Ngoài ra, việc triển khai các chương trình hành
động thực hiện các Nghị quyết Trung ương 3, 5 và 9 (khoá IX) tạo ra môi
trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi và hiệu quả hơn cho phát triển công
nghiệp.
- Việc mở rộng quan hệ quốc tế với các nước, ký kết và thực hiện các
Hiệp định thơng mại và đầu tư trong đó có Hiệp định thơng mại Việt - Mỹ,
Việt - Nhật, thực hiện chương trình thu hoạch sớm asean- Trung Qu
ốc... tiếp
tục thúc đẩy quá trình đầu tư và xuất nhập khẩu, tạo đà tăng trưởng công
Tiểu luận: Kinh tế phát triển
4
nghiệp đặc biệt là các ngành dệt may, giày dép, chế biến thực phẩm, hàng thủ
công mỹ nghệ.
- Các chính sách phát triển và khung khổ pháp lý cho hoạt động kinh
doanh đã và đang được hoàn chỉnh tạo môi trường tốt hơn cho các doanh
nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Đặc biệt là Luật Doanh nghiệp, Luật
Khuyến khích đầu tư trong nước, Luật Đầu t nước ngoài sửa đổi đã phát huy
tác dụng tích cực trong thực tế.
Khó khăn:
* Tình hình thế giới: Tính bất định, khó lường và rủi ro của tình hình
thế giới gia tăng. Năm 2003 xảy ra bệnh dịch sars, dịch cúm gia cầm cũng
ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam. Ngoài ra, giá một số vật t,
nguyên liệu nhập khẩu phục vụ sản xuất tăng đột biến và kéo dài (từ năm
2003 đến nay) nh giá xăng dầu, sắt thép, phân bón, sợi, nguyên liệu nhựa đã
ảnh hưởng đến sản xuất trong nước và xuất khẩu. Cuộc chiến ở I-rắc và sự
mất giá của đồng đô-la có ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực kinh tế xã hội.
* Tình hình trong nước:
- Việc thực hiện các cam kết mở cửa thị trường theo lộ trình giảm thuế
quan chung cept (afta) đã được thực hiện từ năm 2000, từ 01/01/2003 đa
lên 39,5% năm 2003.
- Xuất khẩu sản phẩm công nghiệp liên tục tăng trưởng ở mức độ cao
với tổng kim ngạch xuất khẩu trong năm 2003 tới 14,1 tỷ usd. Cơ cấu sản
phẩm xuất khẩu phong phú hơn, đặc biệt một số sản phẩm cơ khí đòi hỏi
công nghệ cao nh điện tử, xe máy, độ
ng cơ điêzen đã có chỗ đứng trên một
vài thị trường thế giới.
- Phát triển công nghiệp trên địa bàn được giữ vững ở các vùng kinh tế
trọng điểm. Các địa phương có tỷ trọng sản xuất công nghiệp lớn vẫn duy trì
được tốc độ tăng trưởng khá cao như: Hà Nội, Đồng Nai, Bình Dương,
Hải Phòng, Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Thành phố Hồ Chí Minh và Bà Rịa -
Vũng Tàu.
Các số li
ệu sau đây cho thấy rõ hơn một số đánh giá, nhận xét về tình
hình phát triển công nghiệp trong 3 năm qua: Tiểu luận: Kinh tế phát triển
6
Giá trị sản xuất công nghiệp 2000- 2003 phân theo thành phần kinh tế.
(Giá so sánh năm 1994)
đơn vị tính: nghìn tỷ đồng
2000 2001 2002 2003 ( sơ bộ) 3 năm 2001 - 2003
Tổng số 198,3 227,3 261,1 302,9 790,4
Quốc doanh 82,9 93,4 104,3 117,1 314,8
thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước. Trong 3 năm
qua, Ngành điện đạt mức tăng trưởng cao nhất trong số các ngành công
nghiệp đáp ứng được nhu cầu điện của nền kinh tế quốc dân. Năm 2001, điện
sản xuất
đạt 30,6 tỷ KWh, tăng 15% so với năm 2000, năm 2002 đạt 35,8 tỷ
Kwh, tăng 17% so với năm 2001, năm 2003 đạt 40,92 tỷ Kwh, tăng 14,3% so
với năm 2002. Điện thơng phẩm tương ứng năm 2001 đạt 25,8 tỷ Kwh, tăng
14% so với năm 2000, năm 2002 đạt 30 tỷ Kwh, tăng 16% so với năm 2001,
năm 2003 đạt 34,84 tỷ Kwh, tăng 14% so với năm 2002.
Ba năm qua, sản lượng điện phát ra tăng bình quân 15,4%/năm,
điện
thơng phẩm tăng bình quân 14,6%/năm. Nh vậy, cả điện sản xuất và điện
thơng phẩm năm 2003 đã gần đạt chỉ tiêu kế hoạch 5 năm và tốc độ tăng
trưởng cao hơn so với chỉ tiêu kế hoạch (13,1%).
Mặc dù vậy, ngành điện vẫn cha đáp ứng được nhu cầu một cách vững
chắc, còn nhiều sự cố trên l
ới điện, thiếu điện về mùa khô và có khả năng
thiếu điện trong tương lai do các dự án điện triển khai chậm và một phần do
dự báo nhu cầu điện cha thật chính xác. Tình trạng độc quyền trong ngành
điện cũng hạn chế phần nào sự tham gia của các nhà đầu tư trong và ngoài
nước.
2.3.2 Ngành dầu khí
:
Năm 2001: Khai thác dầu thô đạt 16,7 triệu tấn, tăng 2,8% so với năm
2000, khí khô đạt 1,7 tỷ m
3
. Tổng lượng khai thác dầu khí quy đổi đạt 18,4
triệu tấn, tăng 3,4% so với năm 2000.
Năm 2002: Khai thác dầu thô đạt 16,6 triệu tấn, giảm 0,6% so với thực
hiện năm 2001, khai thác 2,1 tỷ m
a một số ngành nh điện, xi măng và
vật liệu xây dựng. Tuy nhiên, ngành than cần xem xét đáng giá tính hiệu quả
của việc xuất khẩu than và cần tìm giải pháp để tiêu thụ than chất lượng thấp
ở trong nước thay cho xuất khẩu.
2.3.4. Ngành thép
:
Trong 3 năm qua, ngành thép có tốc độ tăng trưởng cao về sản xuất thép
xây dựng đáp ứng nhu cầu thị trường trong nước. Sản lượng thép cán năm
2001 đạt 1,9 triệu tấn, tăng 20% so với năm 2000; năm 2002 đạt 2,44 triệu
tấn, tăng 28% so với năm 2001; năm 2003 đạt 2,68 triệu tấn, tăng 9,8% so
với năm 2002. Công suất cán thép xây dựng đến cuối năm 2003 là 4 triệu
Tiểu luận: Kinh tế phát triển
9
tấn/năm đủ đáp ứng nhu cầu sản xuất trong nước. Trong giai đoạn 2001-2003
nhiều nhà máy cán thép dài với công nghệ khá hiện đại, quy mô trung bình đ-
ược đầu tư và đi vào sản xuất, hoàn thành đầu tư cải tạo giai đoạn 1 Gang
thép Thái Nguyên.
Nh vậy, ngành thép vẫn còn bị lệ thuộc nhiều vào nguồn cung cấp đầu
vào từ nhập khẩu phôi thép và thép thành phẩm nên giá thép trong nước sẽ bị
biến động mạ
nh khi giá trên thị trường thế giới thay đổi. Giá trị gia tăng
trong ngành thép không cao, sản phẩm thép cho ngành cơ khí chế tạo phải
nhập khẩu là những tồn tại chủ yếu của ngành thếp cần có giải pháp khắc
phục trong thời gian tới.
2.3.5. Ngành xi măng
:
Đây là lĩnh vực nước ta có tiềm năng: đá vôi và than. Do có chính sách
kích cầu của Chính phủ nh kiên cố hoá kênh mương, cầu và đường giao
thông cùng với hàng loạt các công trình xây dựng lớn như các khu đô thị
- Chính sách khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu trong
nước đã được thực hiện ở một số ngành công nghiệ
p như dệt, chế biến sữa,
thuốc lá, chính sách nội địa hóa trong ngành công nghiệp ô tô, xe máy là một
trong những biện pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm
công nghiệp. Sử dụng nguồn lao động rẻ, trong nước cũng là một hướng tận
dụng lợi thế của Việt Nam để tăng sức cạnh tranh.
2.4.2. Những nguyên nhân hạn chế sức cạnh tranh của sản phẩm công
nghi
ệp
- Kết quả của các biện pháp trên là rất đáng kể, làm tăng khả năng cạnh
tranh của ngành công nghiệp. Tuy nhiên, ở đây vẫn còn nhiều bất cập: Vẫn
còn nhiều nơi, nhiều chỗ độc quyền, dựa dẫm vào chính sách bảo hộ của Nhà
nước, đặc biệt là khối doanh nghiệp nhà nước; sự quản lý còn nhiều lãng phí
nên đã làm giảm kết quả của các giải pháp trên. Sự
độc quyền phần lớn nằm
ở khu vực tiện ích, dịch vụ công, nếu chi phí ở đây cao thì tất cả mọi lĩnh vực
sản xuất đều bị ảnh hưởng. Điều này cần được đặc biệt lưu ý trong tiến trình
hội nhập kinh tế.
- Chính sách khuyến khích phát triển công nghiệp trong 3 năm 2001-
2003 đã có tác động mạnh mẽ thúc đẩy tăng trưởng công nghiệp, huy động
m
ọi nguồn lực tham gia đầu tư phát triển sản xuất. Tuy nhiên, các chính sách
này vẫn thiên về bảo hộ sản xuất trong nước như bảo hộ về vốn đầu tư, hạn
ngạch, chính sách thuế, phụ thu nên nhiều doanh nghiệp đã ỷ lại, trông chờ
Tiểu luận: Kinh tế phát triển
11
vào Nhà nước, không chủ động đổi mới công nghệ, thiết bị, cải tiến quản lý,
sản phẩm làm ra có giá thành cao.
vật liệu xây dựng gốm sứ; một số sản phẩm hoá chất tiêu dùng; một s
ố chủng
Tiểu luận: Kinh tế phát triển
12
loại thép; sản phẩm may; sản phẩm giày dép; một số sản phẩm thiết bị điện;
máy chuyên dùng, dây và cáp điện, máy động lực cỡ nhỏ dới 30 mã lực, xe
đạp, xe gắn máy, đồ mỹ nghệ.
- Nhóm sản phẩm công nghiệp cạnh tranh có điều kiện: Những sản
phẩm cần thực hiện các giải pháp giảm chi phí mới có khả năng cạnh tranh
đến năm 2006. Nhóm sản phẩ
m này gồm 25 sản phẩm trong đó có xi măng
(lò quay); giấy in, viết; phôi thép, thép xây dựng; một số sản phẩm nhựa
PVC; một số chủng loại động cơ diezel; tầu chở hàng đến 11.500 DWT;
phân lân chế biến.
2.5. Thực hiện vốn đầu tư trong công nghiệp và các chương trình, dự
án quan trọng
Nguyên nhân thực hiện vốn đầu tư thấp là do nhiều dự án lớn được dự
kiến triển khai trong kỳ
kế hoạch nhưng tiến độ thực hiện chậm như: Nhà
máy lọc dầu số 1, các dự án điện chạy than, xi măng (xi măng Hải Phòng
mới, Tam Điệp), thép (dự án cán nóng thép tấm, dự án phôi thép phía Bắc),
giấy (dự án cải tạo nhà máy giấy Bãi Bằng, dự án giấy Thanh Hoá, dự án bột
giấy kon Tum), phân bón (đạm Cà Mau, dap, đạm từ than). Các dự án lớn bị
chậm do nguyên nhân chủ yếu là dự án quá phứ
c tạp, quá mới vợt qua khả
năng tiếp nhận của nước ta về mặt vốn, trình độ quản lý, sự bất đồng ý kiến,
nguy cơ dẫn đến tiêu cực cao.
Một số dự án đầu tư hoàn thành đã đa vào sản xuất được đánh giá cụ thể
trong từng ngành công nghiệp như dự án đầu tư nguồn điện, lới điện 500Kv,
tư trong nước: Các ưu đãi cho các doanh nghiệp đầu tư mới hoặc đầu tư mở
rộng vào những ngành và khu vực được khuyến khích dới các hình thức như
miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế sử dụng v
ốn, miễn thuế
nhập khẩu vật tư thiết bị tạo tài sản cố định khi thực hiện các dự án đầu tư,
miễn thuế nhập khẩu nguyên liệu cho sản xuất hàng xuất khẩu và hỗ trợ lãi
suất sau đầu tư (Nghị định 51/1999/NĐ-CP ngày 8/7/1999 và Nghị định
35/2002/NĐ-CP ngày 29/3/2002 của Chính phủ). Số doanh nghiệp đầu tư
vào các lĩnh vực, địa bàn khuyến khích
đầu tư tăng đáng kể, đặc biệt là các
tỉnh miền núi phía Bắc (Lào Cai, Thái Nguyên).
- Cung cấp tín dụng hỗ trợ xuất khẩu cho các doanh nghiệp phát triển
sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩu dới các hình thức như: cho vay ngắn,
trung và dài hạn, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bảo lãnh tín dụng đầu tư, bảo lãnh
dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng (Quyết định 133/2001/QĐ-TTg ngày
10/9/2001 củ
a Thủ tướng Chính phủ). Khuyến khích các doanh nghiệp xuất
Tiểu luận: Kinh tế phát triển
14
khẩu sản phẩm thông qua thưởng xuất khẩu theo giá trị, chủng loại sản phẩm
và thị trường xuất khẩu mới cũng tạo ra động lực mạnh mẽ tăng khả năng
xuất khẩu sản phẩm công nghiệp;
- Thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất kinh doanh đối với một
số ngành như: đóng tàu, dệt may, các sản phẩm cơ khí trọng
điểm, phân bón
dới hình thức cho vay tín dụng ưu đãi với lãi suất thấp 3%, ưu đãi về thuế,
xây dựng cơ sở hạ tầng (Quyết định 55/2001/QĐ-TTg ngày 23/4/2001;
Quyết định số 1420/QĐ-TTg ngày 02/11/2001 của Thủ tướng Chính phủ).
Điều đó đã khuyến khích các doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư, đổi mới công