LÝ LUẬN CHUNG VỀ DOANH THU VÀ KIỂM TOÁN
KHOẢN MỤC DOANH THU TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO
TÀI CHÍNH
1.1. Tổng quan về kiểm toán Báo cáo tài chính.
1.1.1. Khái niệm kiểm toán Báo cáo tài chính.
Hoạt động kiểm toán đã có lịch sử phát triển lâu dài và gắn liền với quá trình
phát triển kinh tế - xã hội của loài người. Để phục vụ nhu cầu đa dạng của xã hội,
những lĩnh vực và loại hình kiểm toán khác nhau đã lần lượt hình thành, trong đó kiểm
toán báo cáo tài chính là một lĩnh vực hoạt động rất phát triển trong nền kinh tế thị
trường.
Kiểm toán BCTC là kiểm tra và đưa ra ý kiến về sự trình bày trung thực và hợp
lý của BCTC của mỗi đơn vị. Do BCTC bắt buộc phải được lập theo các chuẩn mực và
chế độ kế toán hiện hành, nên chuẩn mực và chế độ kế toán được sử dụng làm thước đo
trong kiểm toán BCTC. Kết quả kiểm toán BCTC sẽ phục vụ cho đơn vị, Nhà nước và
các bên thứ ba trong việc đưa ra các quyết định kinh tế - xã hội.
1.1.2. Đối tượng của kiểm toán Báo cáo tài chính.
Đối tượng trực tiếp của kiểm toán BCTC là bảng khai tài chính. Bảng khai tài
chính bao gồm BCTC và các bảng kê khai có tính pháp lý khác như các bảng dự toán và
quyết toán ngân sách nhà nước, các bảng dự toán và quyết toán các công trình đầu tư
xây dựng cơ bản, các bảng kê khai tài sản cá nhân, bảng kê khai tài sản đặc biệt (kể cả
các bảng kê khai tài sản doanh nghiệp phá sản hoặc bán đấu giá …), các bảng kê khai
theo yêu cầu riêng của chủ đầu tư. Trong đó, BCTC là bộ phận chính của bảng khai tài
chính. Theo điểm 04 – Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200: “Báo cáo tài chính là
hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được
chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị”.
1.1.3. Mục tiêu kiểm toán Báo cáo tài chính.
Theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 200 về “Mục tiêu và nguyên tắc cơ
bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính” quy định: “Mục tiêu của kiểm toán báo cáo
tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng
báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc
được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý
thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh
từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm
tăng nguồn vốn chủ sở hữu”.
Doanh thu phát sinh từ những giao dịch được xác định bởi sự thỏa thuận giữa
người bán và người mua. Có thể nói, doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh là
toàn bộ số tiền thu được do bán sản phẩm, hàng hóa và cung cấp các dịch vụ cho khách
hàng (chưa bao gồm thuế GTGT) sau khi trừ đi các khoản giảm trừ doanh thu (gồm:
chiết khấu thanh toán, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại với chứng từ hợp lệ) và
được khách hàng chấp nhận thanh toán.
Dựa vào các tiêu thức khác nhau mà doanh thu có thể phân loại như sau:
- Theo lĩnh vực hoạt động, doanh thu bao gồm:
+ Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ.
+ Doanh thu tiêu thụ nội bộ.
+ Doanh thu hoạt động tài chính và thu nhập khác.
- Theo tiêu thức thời gian, doanh thu bao gồm:
+ Doanh thu thực hiện.
+ Doanh thu chưa thực hiện.
Phân loại doanh thu theo lĩnh vực hoạt động là cách phân loại chính xác và phổ
biến nhất. Cụ thể:
Thứ nhất: Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là toàn bộ số tiền đã thu
hoặc sẽ thu từ các giao dịch được thỏa thuận giữa doanh nghiệp và khách hàng. Các
giao dịch phát sinh doanh thu này là bán sản phẩm, hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ cho
khách hàng.
Thứ hai: Doanh thu tiêu thụ nội bộ là doanh thu từ việc bán sản phẩm, hàng
hóa, cung cấp dịch vụ trong nội bộ doanh nghiệp, giữa các đơn vị hạch toán cùng ngành
trực thuộc một công ty, tổng công ty, tập đoàn.
Thứ ba: Doanh thu hoạt động tài chính là các khoản tiền đã thu hoặc sẽ thu từ
tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia, chênh lệch tỷ giá, … Doanh thu
hoạt động tài chính bao gồm:
- Tiền lãi: Là số tiền thu được phát sinh từ việc cho đối tượng khác sử dụng tiền, các
1.2.1.2.Nguyên tắc ghi nhận doanh thu.
Theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 của Bộ Tài chính và
các quy định kế toán hiện hành thì: chỉ thực hiện ghi nhận doanh thu trong kỳ kế toán
khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện ghi nhận doanh thu bán hàng, doanh thu cung cấp
dịch vụ, doanh thu từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia. Các điều
kiện ghi nhận doanh thu đó cụ thể là:
Điểm 10, Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC quy định: Doanh thu bán hàng được
xác định khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:
- Doanh nghiệp chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở hữu sản
phẩm.
- Doanh nghiệp không còn nắm quyền quản lý, kiểm soát sản phẩm.
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
- Doanh nghiệp đã thu hay sẽ thu được lợi ích kinh tế từ bán hàng.
- Xác định được chi phí liên quan tới giao dịch bán hàng.
Điểm 16, Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC quy định: Doanh thu cung cấp dịch
vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy.
Khi giao dịch về cung cấp dịch vụ liên quan tới nhiều kỳ kế toán thì doanh thu được ghi
nhận trong kỳ theo kết quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày kết thúc niên độ của
kỳ kế toán đó. Kết quả của giao dịch về cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn
đồng thời các điều kiện sau:
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
- Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập BCĐKT.
- Có khả năng thu đuợc lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó.
- Xác định được chi phí phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch đó.
Điểm 24, Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC quy định: Doanh thu phát sinh từ
tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận được chia của doanh nghiệp được ghi nhận
khi thỏa mãn tất cả các điều kiện sau:
- Có khả năng thu đuợc lợi ích kinh tế từ giao dịch đó.
- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn.
Các quy định trên là bắt buộc trong công tác kế toán, việc ghi nhận doanh thu
TK 333 TK 111, 112, 131
Thuế TTĐB, thuế XK, thuế
GTGT trực tiếp phải nộp
Doanh thu
TK 521, 532, 531 bán hàng
Kết chuyển giảm giá,
Doanh thu bán hàng bị
trả lại
Kết chuyển doanh thu thuần để
xác định kết quả kinh doanh
TK 33311
Thuế GTGT đầu ra phải nộp
(phương pháp khấu trừ)
1.2.3. Kiểm soát nội bộ đối với khoản mục doanh thu.
Mục tiêu hoạt động của hầu hết các doanh nghiệp đều là tối đa hóa lợi nhuận. Để
đạt được mục tiêu đó, trước hết doanh nghiệp cần có một bộ máy quản lý giám sát hoạt
động một cách hiệu quả và hợp lý nhất. Nhằm phát huy hiệu quả của các hoạt động
kiểm tra kiểm soát thì việc xây dựng một HT KSNB phù hợp với đặc điểm kinh doanh
của doanh nghiệp đóng vai trò vô cùng quan trọng. Các nghiệp vụ liên quan tới doanh
thu là những nghiệp vụ cơ bản trong việc xác định kết quả hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Vì vậy, tại mỗi đơn vị nên thiết kế và duy trì một quá trình kiểm soát đối
với doanh thu nhằm đạt được mục tiêu kiểm soát của mình.
Bảng 1.1. Mục tiêu và quá trình kiểm soát nội bộ đối với doanh thu
Mục tiêu kiểm soát nội bộ Quá trình kiểm soát nội bộ
Doanh thu ghi sổ là có thật Việc ghi nhận doanh thu dựa trên các chứng từ vận chuyển, các đơn
đặt hàng đã được phê chuẩn của khách hàng
Các hóa đơn bán hàng được đánh số thứ tự trước, liên tiếp, được lập
theo đúng quy định và ghi rõ số lượng hàng, đơn giá bán, … và mục
đích sử dụng.
Hàng tháng, gửi bảng cân đối bán hàng thu tiền cho khách hàng, có
đúng kỳ kế toán
Xây dựng trình tự lập chứng từ và ghi sổ nghiệp vụ bán hàng đúng
thời gian.
Thường xuyên kiểm tra nội bộ về việc lập, luân chuyển chứng từ và
ghi sổ theo thời gian.
Các nghiệp vụ bán hàng ghi sổ đúng
và cộng dồn chính xác
Tách biệt người ghi sổ bán hàng và ghi sổ chi tiết các khoản phải thu
của khách hàng.
Lập cân đối thu tiền hàng tháng, gửi cho khách hàng.
Đối chiếu nội bộ các khoản bán hàng – thu tiền.
1.3. Kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán Báo cáo tài chính.
1.3.1. Vai trò kiểm toán khoản mục doanh thu trong kiểm toán Báo cáo tài chính.
Doanh thu nói chung và doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ nói riêng là
một khoản mục trọng yếu trên BCTC vì đó là cơ sở để những người quan tâm đến tình
hình tài chính của doanh nghiệp đánh giá về thực trạng hoạt động và quy mô kinh
doanh của doanh nghiệp. Do đó, khoản mục này là đối tượng của nhiều sai phạm dẫn
đến BCTC bị sai lệch trọng yếu vì những lý do sau:
- Trong nhiều trường hợp, việc xác định thời điểm thích hợp và số tiền để ghi nhận doanh
thu đòi hỏi sự xét đoán, ví dụ như doanh thu của hợp đồng xây dựng hoặc cung cấp
dịch vụ có liên quan tới nhiều niên độ.
- Doanh thu có liên hệ mật thiết với kết quả lãi lỗ. Những sai lệch về doanh thu thường
dẫn đến lãi lỗ bị trình bày không trung thực, không hợp lý.
- Tại nhiều đơn vị, doanh thu còn là cơ sở đánh giá kết quả hay thành tích, nên đôi khi có
tình trạng chạy theo thành tích, thổi phồng doanh thu.
- Doanh thu có quan hệ chặt chẽ với thuế GTGT đầu ra nên cũng có khả năng khai thấp
hơn thực tế để trốn thuế hay tránh né thuế.