Tổng quan về bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi trong ngành dầu khí - Pdf 67

Tổng quan về bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi trong ngành
dầu khí.
I. Giới thiệu chung về bảo hiểm dầu khí.
Ngành công nghiệp dầu khí là một trong những ngành sôi động nhất trên
thế giới. Hiện nay, ngành dầu khí đã và đang trở thành một trong những ngành
kinh tế chủ lực của Việt Nam, là ngành xuất khẩu hàng đầu của đất nước. Năm
2008, giá trị xuất khẩu dầu thô đạt 10,36 tỷ USD. Hầu như toàn bộ trữ lượng
dầu khí của nước ta đều nằm trong thềm lục địa. Trên phần diện tích thềm lục
địa có chiều sâu nước đến 200m đã phát hiện ra trữ lượng dầu khoảng 540 triệu
tấn và 610 tỷ m3 khí. Trữ lượng dầu khí tiềm năng dự báo khoảng 900 đến 1200
tỷ m3 dầu và 2100 đến 2800 tỷ m3 khí. Như vậy, trữ lượng tiềm năng tập trung
chủ yếu ở các vùng nước sâu. Dự tính đến năm 2010, Việt Nam có thể khai thác
30 đến 32 triệu tấn dầu quy đổi. Nhờ có nguồn dầu khí khai thác được chúng ta
có thể phát triển các ngành công nghiệp điện lực, hoá chất (phân bón và hoá
dầu) với quy mô lớn. Như vậy việc thăm dò và khai thác dầu khí ngày càng có
một vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Vị trí đó được thể
hiện thông qua vai trò to lớn của Ngành công nghiệp dầu khí, cụ thể như sau:
- Là ngành công nghiệp mũi nhọn của đất nước, có đóng góp lớn vào tổng
thu nhập quốc dân. (GDP).
- Góp phần làm giảm sự thâm hụt cán thương mại bằng việc cung cấp các
sản phẩm xuất khẩu ra nước ngoài.
- Tạo công ăn, việc làm và tăng thu nhập cho nhiều người dân lao động,
đặc biệt là các lao động trẻ.
- Là ngành công nghiệp thu hút ngoại tệ về cho đất nước thông qua hoạt
động xuất khẩu các sản phẩm của ngành.
- Là nhân tố cơ sở, là tiền đề để phát triển một số ngành công nghiệp và
dịch vụ khác như hoá chất, điện lực, bảo hiểm…
Với những vai trò quan trọng như thế nên ngành công nghiệp dầu khí đang
rất được Đảng và Nhà Nước quan tâm chú trọng phát triển.
Tuy nhiên, ngành công nghiệp dầu khí lại có nét đặc thù riêng như là:
Trữ lượng dầu chủ yếu nằm sâu trong lòng đất và ở dưới đáy biển cho nên

cho một giếng khoan thăm dò cũng đắt ngang bằng với chi phí cho một giếng
khoan khai thác. Trong quá trình này, liên quan đến những nghiệp vụ bảo hiểm
sau:
- Bảo hiểm mọi rủi ro cho thiết bị khai thác nổi: Nghiệp vụ này bảo
hiểm cho các rủi ro liên quan đến trang thiết bị khai thác, bất kể là chúng ở nhà
kho, trên mặt đất, trên boong tàu hay máy bay, trên không trung hay trong quá
trình vận chuyển.
- Bảo hiểm trách nhiệm pháp lý đối với bên thứ Ba: các công ty dầu làm
việc ở nơi nào cũng dễ trở thành mục tiêu khiếu nại của người dân địa phương
vì họ có thể gây ra ô nhiễm môi trường quanh vùng.
- Giai đoạn thăm dò địa chấn phải sử dụng đến chất nổ để giám sát sự
đột biến của các sóng trên vỏ trái đất cũng như sử dụng các thiết bị ghi âm. Cả
hai thiết bị này đều được bảo hiểm. Việc sử dụng chất nổ cũng làm tăng rủi ro
phát sinh trách nhiệm đối với người thứ Ba.
- Các nhà thăm dò thường yêu cầu bảo hiểm cho các đĩa lưu trữ số liệu.
Có hai hình thức cần phải phân biệt. Thứ nhất, bảo hiểm sự thay thế cho chính
những chiếc đĩa này, giá trị bảo hiểm chỉ cần bằng giá trị mới của các đĩa dữ
liệu. Thứ hai, bảo hiểm gồm cả việc tái tạo số liệu ghi trong đĩa, giá trị bảo hiểm
không chỉ là giá trị mới của bản thân các đĩa lưu trữ mà còn bao gồm các công
việc cần thiết để tái tạo lại số liệu ghi trên đĩa nếu số liệu đó bị mất hoặc hư hại.
- Khi giai đoạn khoan bắt đầu, thiết bị khoan thường được do một nhà
thầu sở hữu và việc di chuyển các thiết bị đó đến khu vực khoan được thực hiện
bằng một hợp đồng. Những hợp đồng như vậy sẽ đề cập đến trách nhiệm của
công ty dầu đối với giàn khoan và thiết bị thuê cần được bảo hiểm.
- bảo hiểm đối với các giếng khoan bao gồm việc bảo hiểm chi phí
khống chế giếng và chi phí khoan lại. Chi phí khống chế giếng bao gồm chi phí
về vật liệu, dịch vụ cung ứng của các cá nhân hay hãng chuyên về khống chế
giếng và những chi phí cho việc khoan trực tiếp hay các hoạt động tương tự cần
thiết để làm cho giếng có thể khống chế được. Chi phí khoan lại bao gồm chi
phí khoan lại giếng đã bị tổn thất có liên quan đến một số hiểm hoạ như phụt nổ,

II. Bảo hiểm dự án xây dựng ngoài khơi trong ngành dầu khí.
2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của nghiệp vụ bảo hiểm xây dựng ngoài
khơi trong ngành dầu khí.
Hoạt động khai thác dầu khí dưới mặt nước đã được bắt đầu từ ngay sau
khi kết thúc Chiến tranh Thế Giới thứ II tại các Vịnh và nhánh sông ở vùng biên
giới của Mê Hi Cô. Sau đó nó được mở rộng ra khai thác dầu khí trên đất liền.
Công việc khai thác dầu khí đòi hỏi phải có mũi khoan, các trang thiết bị
chuyên dụng với chi phí rất đắt.
Vào những năm 1960, một số lượng lớn các giàn khoan đã được lắp đặt tại
vùng vịnh của Mê Hi Cô. Hoạt động khai thác dầu khí ngoài khơi đã bắt đầu
phát triển và phổ biến hơn.
Vào những năm tiếp theo, các công ty khai thác dầu đã phát hiện ra dầu và
khí gas ở dưới mực nước biển sâu hơn và ở vùng biển xa đất liền hơn.
Cả hai nhân tố trên đã làm cho việc khai thác trở nên khó khăn hơn, phức
tạp hơn và chi phí thì tăng lên rất nhiều.
Thông thường một dự án ngoài khơi được tạo nên từ rất nhiều phần, và
không có phần nào trong số chúng được làm ở ngoài khơi, chúng được làm ở
trên đất liền, thường là từ rất nhiều nơi khác nhau, sau đó được vận chuyển một
quãng đường dài để đưa ra vị trí xây dựng ngoài khơi theo đúng một trật tự. Đó
là cả một tập hợp các hoạt động tinh vi và phức tạp, đòi hỏi kỹ thuật chính xác
và công nghệ tiên tiến để đảm bảo dự án được thực hiện an toàn và đúng tiến
độ.
Việc vận chuyển ra ngoài khơi được thực hiện bởi thuyền vận chuyển
trọng tải lớn hoặc bằng sà lan. Sau khi kết thúc quá trình vận chuyển, người thi
công phải lắp ghép các khối thép và bê tông khổng lồ. Đó là một quá trình khó
khăn. Một công việc khác cũng không kém phần cam go đó là việc xây dựng hệ
thống ống dẫn dầu. Các nhà thầu phải xây dựng hệ thống ống dẫn dầu từ ngoài
khơi tại nơi khai thác đến nhà máy lọc dầu…
Và cũng không nằm ngoài quy luật tự nhiên, đó là khi thực hiện một chuỗi
các hoạt động khó khăn phức tạp trong một thời gian dài như thế họ đã gặp phải

- Tăng cường hoạt động đầu tư vào lĩnh vực dầu khí. Vì khi có bảo hiểm
góp phần hạn chế và san sẻ rủi ro, các nhà đầu tư sẽ mạnh dạn đầu tư vào lĩnh
vực dầu khí nhiều hơn.
2.3. Những nội dung cơ bản của Bảo Hiểm dự án xây dựng ngoài khơi.
2.3.1. Người được Bảo Hiểm
Mỗi công trình là một quy hoạch tổng thể, nó liên quan đến rất nhiều bên.
Những người được bảo hiểm chính là:
- Các công ty khai thác dầu;
Các công ty liên doanh có thể đang hoặc sẽ tồn tại.
Các công ty mẹ và/hoặc công ty con và/hoặc các công ty thành viên
và/hoặc các công ty liên kết và/hoặc các công ty liên đới hiện đang tồn tại.
- những người được bảo hiểm khác
Các nhà quản lý dự án
Bất kỳ công ty, hãng, người hay một bên nào khác (bao gồm các nhà thầu
chính và/hoặc các nhà thầu phụ và/hoặc các nhà sản xuất và/hoặc các nhà cung
cấp) mà những người được bảo hiểm đã nêu ở trên có ký kết (các) hợp đồng
bằng văn bản trực tiếp liên quan đến dự án.
2.3.2 Đối tượng và Phạm vi Bảo Hiểm
2.3.2.1. Đối tượng bảo hiểm:
Nghiệp vụ này bảo hiểm cho các hoạt động được tiến hành trong quá trình
thực hiện dự án với điều kiện các hoạt động này đã được tính trong giá trị bảo
hiểm. Các hoạt động bảo hiểm này bao gồm: mua sắm nguyên vật liệu, xây
dựng, chế tạo, hạ thủy, bốc dỡ hàng, vận chuyển trên đất liền, đường biển hoặc
đường hàng không (bao gồm cả vận chuyển tại các cảng hay địa điểm theo yêu
cầu), lưu kho, lai kéo, ràng buộc, chôn lấp, lắp ráp và/hoặc các hoạt động ghép
nối, kiểm tra và vận hành chạy thử, bảo trì, các hoạt động ban đầu và bảo
dưỡng, các nghiên cứu, thiết kế, kỹ thuật, quản lý dự án, kiểm tra, chạy thử, đặt
ống, đào hào và vận hành. Các hoạt động bảo hiểm cũng bao gồm những hậu
quả phát sinh trực tiếp từ các hoạt động khoan, nhưng chỉ khi có thông báo cho
Người bảo hiểm và được Người bảo hiểm đồng ý.

các sửa đổi và điều chỉnh đối với các thông số kĩ thuật của dự án theo các điều
khoản và điều kiện của đơn bảo hiểm cho một thời hạn nào đó (60 ngày- theo
đơn WELCAR 2001) kể từ ngày tiến hành các sửa đổi hoặc điều chỉnh đó, với
điều kiện là người dược bảo hiểm chính phải thông báo cho những người bảo
hiểm về bất kì sửa đổi cần thiết hoặc quan trọng nào ngay lập tức trong vòng 60
ngày. Để có thể bảo hiểm cho các sửa đổi và điều chỉnh cần thiết hoặc quan
trọng đó trong một thời hạn trên 60 ngày, phải có sự thoả thuận giữa người được
bảo hiểm và những người bảo hiểm về phí bảo hiểm bổ sung.
3. Điều khoản về rủi ro ô nhiễm
Điều khoản này cho phép bảo hiểm cho thiệt hại hay tổn thất vật chất đối
với tài sản được bảo hiểm trực tiếp gây ra bởi hành động của bất kì cơ quan có
thẩm quyền nào của Chính phủ trong phạm vi quyền hạn của mình nhằm phòng
ngừa và giảm thiểu nguy cơ ô nhiễm hoặc hiểm hoạ bị ô nhiễm, với điều kiện là
hành động của cơ quan có thẩm quyền đó không phải phát sinh từ nhu cầu do
thiếu mẫn cán của nhà điều hành của người được bảo hiểm chính trong việc
ngăn ngừa và giảm thiểu nguy cơ hoặc hiểm hoạ ô nhiễm này.
Phạm vi bảo hiểm xác định ở trên có thể được mở rộng để bảo hiểm bất kì
tổn thất hoặc thiệt hại vật chất nào gây ra bởi hay bị tác động do phải thực hiện
lệnh của bất cứ cơ quan hay tổ chức nào của Chính phủ sau khi tham khảo ý
kiến của các quan chức và kĩ sư của người được bảo hiểm có liên quan đến dự
án được bảo hiểm nhưng chỉ trong phạm vi quyền lợi được bảo hiểm theo phần
I và luôn luôn xảy ra sau tổn thất hoặc thiệt hại vật chất phát sinh từ một rủi ro
được bảo hiểm.
4. Bộ phận bị lỗi
Điều khoản này cho phép bảo hiểm các tổn thất và/hoặc thiệt hại vật chất
đối với tài sản được bảo hiểm phát sinh trong thời hạn của Đơn Bảo Hiểm và
phát sinh từ một bộ phận bị lỗi: lỗi thiết kế, nguyên vật liệu bị lỗi, lỗi hay khiếm
khuyết tay nghề hay lỗi ẩn tì cho dù cho dù lỗi thiết kế có phát sinh từ trước khi
Đơn Bảo Hiểm có hiệu lực.
Tuy nhiên, cũng theo điều khoản này thì phần I sẽ không bảo hiểm cho các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status