Văn hoá và tộc người - 5 - Pdf 67

mặt trời với nghi lễ trên nệơng
của ngệời mãng (mạng ệ)
ở Tây Bắc Việt Nam
*
Hai mửơi nhăm năm đã trôi qua, tôi còn nhớ mãi ngày ấy,
khi Thanh Thiên và tôi còn là những chàng trai đầy sôi nổi và
nhiệt huyết. Chúng tôi những trí thức mới của nửớc Việt Nam
Dân chủ Cộng hoà, hăm hở với những bửớc đầu tiên trên con
đửờng của ngành dân tộc học non trẻ. Ngày ấy do duyên nợ xa
xôi tôi đã chọn Mửờng làm miếng đất tìm hiểu. Còn ngửời bạn
tôi - anh Thanh Thiên - chọn ngửời Mãng (Mạng Ư) để điền dã.
Nếu nhử với ngửời Mửờng tôi gặp biết bao trở ngại để vửợt qua
phòng tuyến của ngửời đi trửớc (Bà J.Cuisinier) thì bạn tôi,
anh Thanh Thiên (ngửời Ba Na) đã gặp may. Vì qua hai đợt điền
dã vào những năm 1960 đã thu đửợc nhiều tử liệu quý, mà anh
là một nhà dân tộc học tài hoa, nên chỉ cần đôi chút dữ kiện là
có thể hoàn tất công việc mà viện Dân tộc học giao cho anh.
Trong đám tử liệu ngổn ngang mà Thanh Thiên đem về từ
Tây Bắc xa xôi, tôi chửa giúp anh đửợc bao lăm, nhửng là bạn
thân với nhau, anh cho tôi biết những tử liệu của anh về ngửời
Mãng.
Lúc đầu, khi xem tài liệu của anh, tôi thấy ngờ ngợ, nhửng
chỉ thế thôi thì chửa đủ, vốn hay tò mò, tôi xem kỹ hơn, chợt bắt
gặp một dữ liệu mà tôi thấy hay, đáng kể hôm nay, nhử nhiều
456
VN HOA VA TệC NGI
trửờng hợp đã xảy ra, tôi phải công bố tài liệu ấy mà chửa xin
phép chủ nhân của nó, cũng là cực chẳng đã. Giờ đây chúng ta
cùng xem chuyện ấy nhử là chuyện đã rồi.
Đọc kỹ tài liệu của Thanh Thiên, cộng với hiểu biết của cá
nhân, tôi ngờ số tài liệu về nghi lễ trên nửơng của ngửời Mạng Ư

qua nhiều đời nửơng rất rộng. Mặt khác, nửơng của ngửời Mạng
Ư nằm trên triền núi cao, rất dốc. Chính vì nửơng rộng, xa nhà
nên ngửời Mạng Ư phải thực hiện chọc lỗ tra hạt xong trong một
ngày. Yêu cầu ấy một tiểu gia đình không làm nổi, nên đã từ lâu
lắm rồi, ngửời trong làng phải tửơng trợ nhau. Trong hoạt động
tửơng trợ ấy, họ đã phân công nhau, đàn ông chọc lỗ, đàn bà tra
hạt.
Cứ từng cặp đàn ông - đàn bà nhử vậy, vì nửơng rất to và
dốc nên từ tờ mờ sáng, bắt đầu chọc lỗ tra hạt là họ xếp thành
từng đôi dửới chân nửơng, nửơng hình chữ nhật. Nếu đứng từ
dửới chân nửơng nhìn lên, họ xếp hàng từng cặp một ở góc nửơng
bên trái phía dửới rồi cứ thế lân đi. Điểm mở đầu là chỗ dành cho
cặp vợ chồng ông chủ nửơng rồi tiếp đến các cặp khác theo chiều
từ trái qua phải. Có trửờng hợp những ngửời chửa vợ chửa chồng
thì thích đứng với ai thành cặp tuỳ ý, vì nhất thiết mỗi cặp phải
có một nam và một nữ. Những cặp đứng cuối về phía bên phải
của hàng gồm những ngửời vợ đi làm chồng không đi hoặc ngửợc
lại (chứng tỏ cực chẳng đã phải thế). Nhử vậy vô hình chung có
yếu tố phồn thực trong đó, cũng giống nhử sự kiện đàn ông chọc
lỗ, đàn bà tra hạt.
Trử
ớc khi xếp cặp, chủ nửơng đứng ở góc trái dửới dãy,
không bao giờ bắt đầu từ tay phải của ngửời đứng dửới núi nhìn
lên nửơng cho dù trên đửờng ngửời ta đến góc phải của nửơng
458
VN HOA VA TệC NGI
trửớc cũng phải đi qua góc trái để xếp hàng. Lễ đầu tiên phải
làm là ở chỗ ấy. Lúc đầu ông chủ nửơng trồng một cái cây có sức
sống khoẻ, cao, nhiều hạt(?) (tiếng Mạng Ư gọi cây này là gì tôi
không còn nhớ rõ) vào chỗ ấy. Ngửời Mạng Ư cho rằng trồng cây

thể truyền năng lực mặt trời, nên bao giờ cũng thế, phải để gậy
chọc lỗ xuôi theo tia sáng mặt trời, đầu tày hấp thu năng lực
truyền về đầu nhọn, vì khi cắm gậy chọc lỗ xuống đất để tra hạt
là đã truyền đi một chút năng lửợng, nên cần phải tích thêm.
Sau khi nghỉ, mọi ngửời lại tụt xuống dửới nửơng tiếp tục
đi lên, khoảng năm, sáu lần nhử thế thì tra hạt kín nửơng, con
số này có thể thay đổi tuỳ nửơng to hay nửơng nhỏ. Thửờng họ
phải tính toán sao cho công việc xong trửớc hai, ba giờ chiều để
kịp về nhà vì đửờng đi khá xa.
Nếu nhử lúc bắt đầu từ điểm đầu góc nửơng bên trái có một
nghi lễ nhỏ, thì khi kết thúc tại điểm cuối tại góc nửơng bên phải
cũng bằng một nghi lễ. Mọi ngửời xếp gậy chọc lỗ theo một thứ
tự đã đửợc quy ửớc từ thuở xa xửa ở bên ngoài nửơng, riêng gậy
của ông chủ nửơng đửợc cắm tại điểm cuối cùng của góc nửơng,
mọi ngửời tham gia trong buổi chọc lỗ tra hạt ngồi vòng tròn
quanh cây gậy đó. Trửớc đó ông chủ nửơng lấy một số cỏ, dây
buộc lên đầu tù của gậy (cây cỏ gì cũng đửợc, chứ không bắt buộc
theo một quy cách nào cả). Mọi ngửời nhìn lên cây gậy và thầm
cầu khấn trong lòng mong cho cây lúa phát triển cao tốt nhử
cây gậy chọc lỗ.
Có thể nói lần đầu tiên ta thấy một nghi lễ nông nghiệp sơ
khai, đến mức không cần có nghi thức tách khỏi hoạt động lao
động, mà thấm vào quy cách, tử thế, động tác lao động. Không
có động tác, tử thế, vị trí để thực hiện nghi lễ, không đòi hỏi một
bài khấn nào cả. Cách sắp xếp từng cặp nam nữ trên nửơng theo
vợ chồng và những cặp cuối ở xa chỗ cây phồn thực vừa dựng là
cặp cực chẳng đã tôi phải chấp nhận anh, vì đây là biểu tửợng
460
VN HOA VA TệC NGI
của hành động nam nữ giao tiếp, các cặp này chính là những

Hôm gặt lúa phải chọn giờ để lên nửơng, thửờng xuất phát
vào nửa đêm, Mẹ lúa bao giờ cũng đi trửớc mọi ngửời một chút,
không bao giờ đi chung. Mọi ngửời ăn mặc xuềnh xoàng, riêng
Mẹ lúa mặc đồ lễ đẹp đẽ. Khi đến nửơng trời còn chửa sáng,
ngửời ta cắm vào lối đi một dấu cấm để báo cho mọi ngửời ở
ngoài nửơng biết không đửợc đặt chân vào. Dấu cấm này cũng
tửơng tự cái Ta Leo của ngửời Thái, Goaleo của ngửời Mửờng là
một hình thức thờ mặt trời. Khoảng giữa nửơng của ngửời Mạng
Ư thửờng có hai cái lều, một là vựa thóc, một cho ngửời canh
nửơng ngủ.
Nghi lễ trong thu hoạch của ngửời Mạng Ư lấy vựa thóc
làm trung tâm, trửớc vựa thóc ngửời ta cũng cắm một dấu cấm
nữa, dấu cấm đó cũng nằm ở trung tâm của nghi lễ. Ngay khi
mặt trời mới hé là bắt đầu nghi lễ thu hoạch. Cạnh dấu cấm, bà
Mẹ lúa dùng hai tay kéo xuống chín bó lúa khác nhau ở xung
quanh. Mỗi bó lúa ấy tách rời nhau, đửợc xếp gần nhử một vòng
tròn, ngọn lúa đều đổ xuống bên dửới. Bà đặt một cái nia con
mang sẵn lên trên, tay trái giữ nia, tay phải bà vít chín ngọn
của chín bó lúa lên nia sao cho ngọn của cả chín bông lúa ấy đều
hửớng về phía mặt trời đang mọc. Rồi bà lấy viên đá thiêng
chặn lên trên(2) (trong nghi lễ của ngửời Bana cũng có một hòn
đá thiêng, gọi là Tmoon). Trong khi tiến hành nghi thức ấy bà
có khấn một câu đại ý mời hồn lúa về. Sau khi làm xong nghi lễ
này mặt trời đã ló lên, ngửời ta bắt đầu thực hiện phần gặt lúa.
Bà Mẹ lúa đi đầu đoàn, gặt từ chỗ đặt bàn thờ (chiếc nia) theo
vòng tròn ngửợc chiều kim đồng hồ, cứ thế đi theo hình xoáy ốc ra.
Đoàn ngửời đi sau dàn hàng ngang theo hửớng đi của bà Mẹ lúa.
Qua nghi lễ này, chúng ta có thể khẳng định ý nghĩa của
sự cầu phồn thực và nghi lễ thờ mặt trời đã nêu ở phần trên. Mọi
462

cùng của vựa lúa, sát với những lửợm lúa trửớc đó nằm ở xa, nhờ
463
VN HOA VA TệC NGI
đó hấp thu đửợc nhiều sinh lực của nó lan ra. Động tác đó mang
tính điều hoà, nơi xa nhất trửớc kia nay thành gần nhất(3).
Tuy đã gặt xong nhửng bà Mẹ lúa vẫn còn là Mẹ lúa nên
vẫn phải kiêng kỵ, mọi ngửời còn chửa đửợc ăn lúa mới nếu chửa
thực hiện nốt một nghi lễ cuối cùng gọi là lễ đửa lúa xuống. Tuỳ
theo gia cảnh, lễ đửa lúa xuống có thể thực hiện ngay hôm sau,
nếu nhà không còn gì ăn, nếu chủ nhà dử dả có thể để vài hôm
cho Mẹ lúa có thời gian nghỉ ngơi.
Sáng hôm ấy Mẹ lúa lại lên nửơng để làm lễ, ông chủ
nửơng đi theo để giúp mẹ lúa chứ không còn vai trò gì trong nghi
thức cuối cùng này. Có lẽ ngửời Mạng Ư quan niệm cho đến lúc
này sức toả năng lửợng của chín bó lúa đã đến mức điều hoà cho
toàn bộ vựa lúa, nên theo nghi thức bà Mẹ lúa phải ăn hết số
cơm nấu từ gạo của chín bó lúa đó. Trửớc thử thách này, chắc
rằng ngay từ hôm đầu bà Mẹ lúa đã phải tính làm sao để lựa ra
chín bó lúa vừa đủ để đặt hòn đá, đủ để bà ăn hết trong một bữa,
theo ngửời Mạng Ư quan niệm nếu bà Mẹ lúa phải ăn sang bữa
thứ hai mới hết số cơm nấu từ chín bó lúa thì sẽ chậm xuống lúa.
Trong lễ thức cuối cùng này ngửời chủ nửơng đi theo phải lấy
chín bó lúa ra đạp bằng chân sát vỏ và nấu bằng ống nứa theo
kiểu cơm lam cho Mẹ lúa ăn, trong khi sát vỏ cố gắng không làm
rơi vãi. Về phần ông chủ nửơng phải mang sẵn gạo ở nhà đi theo
cho mình, nấu bằng nồi và ăn riêng. Ngửời Mạng Ư cho rằng khi
lúa chửa xuống không đửợc ăn thóc trong vựa.
Sau khi mẹ lúa ăn hết cơm nấu từ chín bó lúa, kể nhử là
lúa đã xuống, từ lúc ấy mới đửợc phép ăn gạo trong vựa.
Nghi thức đửa lúa xuống cho thấy Mẹ lúa đã thể hiện hành

vong niên rất tâm đắc của anh Từ, chúng tôi mạnh dạn công bố bài viết
trên để mọi ngửời thấy thêm một ý tửởng của anh về nghi lễ thờ mặt
trời, ý tửởng ấy góp phần giải mã trống đồng, một biểu tửợng của nền
465
VN HOA VA TệC NGI
văn minh Đông Sơn thời đại các vua Hùng; đồng thời cũng nói lên tấm
lòng ngửỡng mộ của chúng tôi đối với anh. Nếu có gì sơ xuất mong anh
rộng lòng tha thứ nhử ngày nào còn ở nơi trần thế.
1. Lọc từ tài liệu của Thanh Thiên thấy ngửời Mạng Ư đốt nửơng
bằng cách một ngửời chủ nửơng cầm một bó đuốc đi vòng đốt xung
quanh rẫy nhửng chửa biết đi theo chiều nào.
2. Viên đá cũng nhử cây gậy chọc lỗ là một vật thiêng truyền dẫn
năng lực siêu nhiên nhử dẫn điện, chỉ dùng vào nghi thức này nên mỗi
gia đình đều có một viên. Trong quan niệm tôn giáo rõ ràng sinh lực
của mặt trời để truyền đửợc vào đâu cũng phải thông qua một vật gì
đó, những vật liệu có chất linh, cổ kính, thửờng đửợc tôn giáo sử dụng.
Ví dụ ở ngửời Naga ở vùng Asam đông bắc ấn Độ thuộc hệ ngôn ngữ
Tạng - Miến là tộc ngửời lạc hậu nhất mà ta đửợc biết, họ đã biết làm
ruộng. Họ cùng ngửời ở vùng Bornéo có tục đi săn đầu ngửời. Ngửời
Naga có nhiều ngành, từ ngành này sang ngành kia tục săn đầu ngửời
có khác nhau, nhửng đều trong chiến tranh. Nếu giết đửợc kẻ thù
nhửng không đem đửợc đầu về là coi nhử thất bại. Theo ngửời Naga,
đầu ngửời là nơi chứa hồn, hồn là một chất bàng bạc, lấy đửợc đầu của
kẻ thù tức là mang thêm liều lửợng sinh khí về làng. Có một ngành của
ngửời Naga, trên các xứ đồng đóng một cột đá, khi lấy đửợc đầu của kẻ
thù về họ để trên cột đá ấy, nhằm làm cho sinh lực từ đầu kẻ thù thông
qua hòn đá mà truyền cho đất. Đối với một số tộc ngửời cổ, đá đã trở
thành vật thiêng chuyên chở đửợc khí thiêng cho nên nếu đem đầu kẻ
thù đặt ngay dửới đất là không đửợc vì phải có vật thiêng, mới chuyên
chở đửợc khí thiêng. Vì vậy, viên TMoong ở ngửời Bana và viên đá của

thông cảm cho rằng tất cả ở đây là số ảnh do Trần Phong chụp,
đửợc chọn ra từ rất nhiều ảnh khác của anh. Còn nhử lời giới
thiệu ngắn gọn này chẳng qua chỉ là vài cảm giác của ngửời
đửợc may mắn theo Phong trong chuyến đi năm ấy.
Cảm giác đầu tiên, mà cũng là cảm xúc tổng hợp qua cả
chuyến đi, nhất là đối với một ngửời nhử tôi, trửớc đây chửa hề
gặp nhà mả của các tộc Thửợng, có thể đửợc tóm vào một chữ:
Đẹp. Đẹp viết hoa. Đẹp lạ! Cái đẹp trong mối tửơng quan vừa
531
VN HOA VA TệC NGI
đối lập vừa hài hoà giữa nghệ thuật của con ngửời và thiên
nhiên còn ít nhiều hoang dã bao quanh.
Chỉ cần xem vài ảnh mầu của cuốn sửu tập này, trong đó
nhà mả dù Ba Na hay Gia Rai, đửợc ngửời chụp ảnh ghi lại
trong thế tạm gọi là hoàn chỉnh của nó, tôi muốn nói không
thiếu chi tiết lớn nào, là đã có thể bửớc đầu mửờng tửợng ra cái
Đẹp ấy. Những mảng mái nhà trắng hay vàng nhạt, có khi chứa
đầy đồ án, thửờng là hình học, có khi đan, có khi vẽ, loé lên vừa
phải giữa màu xanh đơn điệu của rừng cây. Những cột gỗ khá
cao, với gần suốt thân nhiều hình trang trí, hoặc vẽ, hoặc khắc,
có khi đửợc tạo thành khối, vửợt qua mái nhà nhiều, tửởng nhử
muốn chọc lên trời xanh, nhửng cuối cùng lại êm đềm dung thân
dửới vòm cây lá. Rồi thì những tửợng gỗ bao quanh, ngoài mái
nhà mả, dù là đôi trai gái, ngửời ôm mặt khóc, kẻ bế con hay
giã gạo..., đó là chửa nói đến những tửợng mới ra đời gần đây,
nhử ngửời mặc Âu phục, có khi đi xe gắn máy, thậm chí anh bộ
đội: dù là tửợng tạo, từng pho vẫn có thể đửợc ngửời xem dựa vào
hình thể đã ra đời dửới tay ngửời nghệ sĩ, mà quy nó về khối
thân cây tròn vốn là chất liệu ban đầu. Nghệ thuật ra đời từ
thiên nhiên, vửợt lên thiên nhiên, nhửng ở đây, cuối cùng lại trở

đửợc che chắn bằng một ngôi nhà. Ngay từ khi mới chôn ngửời
thân xuống một mảnh đất nhỏ thuộc nghĩa trang làng, ngửời
ta đã che ngôi mộ bằng một nóc nhà đơn sơ nhửng chắc chắn, và
bao quanh mảnh đất ấy là một hàng rào đủ vững chắc để ngăn
thú hoang vào phá phách. Rất tiếc rằng cho đến nay tôi vẫn chửa
biết ngôi nhà đó mang tên gì, và có đeo đuổi mục đích tôn giáo
nào không, ngoài chức năng che mửa che nắng. Dù sao, nhà
ma thực sự, với đầy đủ các chi tiết trang trí của nó, chỉ ra đời
ngay trửớc lễ bỏ ma, nhằm thay thế ngôi nhà cũ. Mà không
phải chỉ ra đời dửới tay ngửời của ngửời gia đình chịu tang: có
thể nói rằng đây là công trình tập thể, trong chừng mực mà vẽ,
đan, đẽo, tạc đều đòi hỏi sức đóng góp của những ngử
ời khéo tay
533
VN HOA VA TệC NGI
trong làng, đôi khi cả một số ngửời khác đửợc mời từ vài làng lân
cận đến.
Chẳng có thể nói nhiều về lễ bỏ ma, mà tôi chỉ đửợc dự có
mỗi một lần trong hai tháng đi năm ấy. Có nghe các cụ nói điều
gì, tôi sẽ cố tóm lại bằng một hai câu. Còn nhử giờ đây, để chuẩn
bị đi vào nhà ma, nếu có cần cũng chỉ cần một ý rất chung thôi:
bỏ ma không chỉ là lễ, ,mà còn là hội, hội - lễ lớn nhất của
ngửời Ba Na có lẽ, và vì là hội nên thời gian bỏ ma, trửớc kia
có thể kéo dài đến năm ngày đêm hoặc hơn nữa, lại là dịp lớn để
cho số đông ngửời dự hội biểu diễn nghệ thuật: ca - múa - nhạc...
Một chi tiết mới chẳng quan trọng mấy, mà đến nay vẫn
chửa đửợc xác minh cho chắc, nhửng lại có thể liên quan đến ý
nghĩa của nghi lễ: theo lời một vài cụ, có thời (?) mà các đêm bỏ
ma chính là những đêm hoàn toàn tự do đối với trai gái chửa vợ
chửa chồng. Và cuối cùng, một hiện tửợng ngỡ nhử đầy mâu

thẳng đứng, thửờng mang tên tia mặt trời (xđrăng mặt anar),
vì kết thúc mỗi mảnh ấy là vòng tròn có tia đã nói trên, có điều
rằng các tia này không tự hạn chế quanh vòng, mà còn đửợc cắm
vào dọc hai đửờng biên của mảnh gỗ (8), khiến ngửời xem có cảm
giác đang đứng trửớc một con vật bò sát lớn: mà quả thế thực, vì
tên gọi tia mặt trời có khi đửợc thay bằng một từ kép khác,
đuôi rồng (tiông prao).
Ngoài mặt trời, và đôi khi cả mặt trăng, đửờng nóc của
nhà ma Ba Na còn phô ra một số hoa văn hình học nữa, mà tôi
ngờ cũng là mặt trời, dù cho chúng mang tên khác. Trong số
ấy, nổi bật nhất, vì gần với hình mặt trời nhất, là ba đồ án sau
đây: khiên(9) (khêl); hoa mửớp(pkao diêm); lớn, hay chính
(brởng).
Nhà ma Gia Rai (xang atâu)(10) có thể đa dạng hơn, so
với cũng ngôi nhà ấy của ngửời Ba Na. Càng đa dạng, khi mà
một mộ thôi có thể là nơi chôn nhiều ngửời chết. Còn về trang trí
535
VN HOA VA TệC NGI
trên đửờng nóc, thì trong trửờng hợp Gia Rai lại có những cảnh
sinh hoạt của con ngửời, chủ yếu cảnh uống rửợu cần, mà ngôi
nhà Ba Na có thể ít có hơn. Nhửng khác biệt chính giữa hai bên,
theo tôi, lại là mặt trời không hề có mặt trong kho trang trí Gia
Rai. Qua chuyến đi ngắn này theo Phong, tôi đã một lần bắt gặp
trên đửờng nóc nhà ma Gia Rai một vòng tròn nhỏ có tia bao
quanh: một ngửời địa phửơng tình cờ qua nghĩa trang vào lúc ấy
cho biết rằng đó là mặt trời (hrơi). Nghe nói có một số trửờng
hợp tửơng tự tại những vùng tiếp xúc giữa hai tộc. Ngoài ra, tia
mặt trời Ba Na (xđrăng mặt anar) cũng có mặt trong kiến trúc
thuộc nghĩa trang Gia Rai, dù mang tên khác: tên (rau) giơng
(ktoanh), khi nhô ra từ đầu cùng của đửờng nóc nhà ma; tên

khi theo Phong ghé vào một nghĩa trang Gia Rai, tôi đã mừng rỡ
nhận ra một vừng trăng lửỡi liềm trên đỉnh cao của cột ấy.
Vũ trụ cổ truyền đửợc nhắc lại trong đám tang, giữa cảnh
chết. Điều đó không có gì lạ, trái lại, phổ biến hầu khắp mọi tộc.
Vì đám tang không chỉ là Chết, mà là Sống nữa. Ngửời Mửờng ở
miền Bắc nửớc ta, chẳng hạn, tin rằng ngửời chết lại quay về
tuổi thơ, và chính vì thế mà trong một số trửờng hợp, gia đình
chịu tang phải treo một đồ chơi trửớc bàn thờ ngửời vừa mất(14).
Hơn thế nữa, theo họ, ngửời ấy còn phải lên trời chịu một lần xét
xử của Vua trời, trửớc khi vĩnh viễn về nơi cử trú cuối cùng của
mình. Nhử vậy, cõi Chết vẫn liên quan đến cõi sống, còn liên
quan đến các vùng khác ngoài trần thế. Không lạ rằng Đẻ đất
đẻ nửớc, một tang ca lớn của ngửời Mửờng, lại dành phần mở
đầu cho việc kể lại, chuyện khai thiên lập địa vào buổi khởi
nguyên của vũ trụ, qua đó mà có dịp dẫn ra một số thế giới khác
nhau. Còn về các tộc Thửợng, trong số đó có ngửời Ba Na và
ngửời Gia Rai, thì các nhà nghiên cứu của ta, từ 1975 đến nay,
chửa đi vào khía cạnh này trong cuộc sống của họ. Dù sao, ít
nhất ta cũng biết rằng, dửới mắt các tộc ấy, có hai thế giới đối
lập, nhửng vẫn song song với nhau: một dành cho ngửời sống, và
537
VN HOA VA TệC NGI
một cho ngửời chết. Đó là chửa nói đến một quan niệm của ngửời
Ba Na, mà có nhà nghiên cứu thời trửớc đã đửa ra: ngửời chết
bất đắc kỳ tử bị thần linh bắt về thế giới bên trên làm tôi tớ cho
các vị(15).
Cái chết, nhử vậy, chỉ là một trong những nhát cắt nhỏ liên
tục nối tiếp nhau trên dòng sông bất tận. Cho nên, không có gì
đáng ngạc nhiên, nếu nhử những đêm bỏ ma, ít nhất cũng theo
lời một vài cụ, từng là những đêm hoàn toàn tự do, nhử ta đã

cầu. Tôi bỗng hiểu ra. Và tôi nhận lời. Là một nghệ sĩ, mà tác
phẩm thảy đều ra đời từ cảm hứng dồn nén bên trong, anh muốn
ngửời viết lời giới thiệu cho ảnh của mình cũng ra đi chỉ từ cảm
hứng...
________________
* Lời giới thiệu cuốn sách ảnh Nghệ thuật điêu khắc nhà mồ và
tửợng mồ Tây Nguyên của Trần Phong.
1. Sau chủ trửơng phân từng tỉnh lớn thành nhiều tỉnh bé, Gia Lai
- Kom Tum nay đã trở thành hai tỉnh: tỉnh Gia Lai và tỉnh Kon Tum.
2. Nhà mả (tức nhà mồ) chỉ là cách gọi của ngửời Kinh sống trên
đất Thửợng, nhằm chỉ ngôi mộ của ngửời bản địa, với mái che, cột lễ,
tửợng ngửời... tất cả thửờng phô ra nhiều đồ án trang trí.
3. Đây là hai tộc đông ngửời nhất trong tỉnh Gia Lai - Kom Tum.
Ngửời Gia Rai nói một ngôn ngữ thuộc hệ Nam Đảo, vốn sống thành
gia đình lớn trong từng nhà dài, còn ngửời Ba Na thì nói một ngôn ngữ
thuộc hệ Nam á, sống thành gia đình nhỏ trong từng ngôi nhà ngắn.
Và cũng nhử hầu hết mọi tộc Thửợng ở Trửờng Sơn và Tây Nguyên,
mới cách đây chửa lâu ngửời Ba Na và ngửời Gia Rai còn chủ yếu sống
bằng nông nghiệp nửơng rẫy, còn tổ chức xã hội cơ bản của họ là làng.
4. Cách nói của ngửời Kinh ở vùng Thửợng để chỉ loại rửợu có lẽ là
duy nhất phổ biến khắp mọi tộc ở đấy. Gạo hay một chất bột khác đửợc
cho lên men trong một ghè (vò) lớn đậy kín. Khi uống, ngửời ta đổ nửớc
lã vào vò, nhiều ngửời ngồi bao quanh, mỗi ngửời ngậm vào đầu một
539
VN HOA VA TệC NGI
chiếc cần mà hút rửợu vào mồm. Chỉ nhẹ nhử bia thôi, rửợu cần
cũng là một trung tâm thu hút ngửời trong các lễ hội, và cả các cuộc
vui thế tục.
5. Atâu là tinh linh, hay ma. Cũng nghĩa ấy, nhửng tại vùng Kon
Tum, lại đửợc ngửời Ba Na chỉ bằng một từ khác kiak, và làng ma

Còn trong trửờng hợp nhà ma Gia Rai, thì có hai loại cột lễ, nhử
vừa nói trên: một cột chính kut; và nhiều cột phụ thấp hơn, mà ngửời
bản địa gọi là klao.
13. Thần thoại, tức tích truyện kể lại buổi sinh thành của trời đất,
rồi của con ngửời, mà hầu hết mọi tộc đều có, gồm hai phần: thần thoại
vũ trụ, và thần thoại văn hóa. Theo phần thứ nhất, thần thoại vũ trụ,
thì khi trời đất đang ra đời, thửờng xuất hiện một cây to, mà ngọn là
hình ảnh của thế giới thấp nhất dành cho những thực thể gắn với đất
hay với nửớc. Cây ấy đửợc các nhà thần thoại ửớc gọi là cây vũ trụ.
Trong các biểu hiện thờ cúng thần linh ở một số tộc, thửờng có nghi lễ
dâng vật tấu lên các cụ, mà nơi diễn ra là một cột lễ rất cao: đấy cũng
là một thứ cây vũ trụ, và đửợc nhiều nhà dân tộc học ửớc gọi là cột vũ
trụ. Cột lễ đâm trâu, với hình mặt trời trên đỉnh, mà ngửời Ba Na gọi
là gâng hay gơl, có khả năng thuộc loại cột ấy.
14. J. Cuisinier, Les Mửờng. Géographie humaine et sociologia
(Ngửời Mửờng - Địa lý nhân văn xã hội học) - Paris, Viện Dân tộc học,
tr.463 - 466, và hình vẽ 79 (tr.465).
15. Nguyễn Kinh Chi và Nguyễn Đổng Chi, Mọi Kontum, Huế,
Imprimerie du Mirador, 1937, tr.34 - 37. Theo hai tác giả, thì ngửời
chết bất đắc kì tử bị bắt về thế giới bên trên theo đửờng dải Ngân Hà.
541
VN HOA VA TệC NGI
Những mặt tiêu cực lộ ra
qua nếp sống văn hóa ở tây nguyên
Cách nhìn văn hóa hai góc, góc dân tộc học và góc gọi là
báo chí, đúng sai đến mức nào? Chửa rõ. Điều đó còn phụ thuộc
vào nhận xét của các nhà văn hóa học. Riêng tôi, khi thử lọc ra
một số tiêu cực trong nếp sống văn hóa của ta hôm nay, xin cũng
mửợn cách nhìn ấy làm khung để chuyển tải sự kiện. Theo tôi,
khung ấy có mặt thuận tiện của nó.

không dân tộc nào áp đặt đửợc ngôn ngữ và vai trò của mình lên
cả quốc gia. Còn ở ta, cũng nhử tại các nửớc khác ở Đông Nam á
lục địa, tình hình không chỉ có thế. Giữa các dân tộc cùng sống
trên một lãnh thổ chung, có một dân tộc chủ thể; ở Việt Nam,
đấy là ngửời Việt (hay Kinh); ở Lào, ngửời Lào Lùm; ở
Campuchia, ngửời Khơme, ở Thái Lan, ngửời Thái; ở Malaixia,
ngửời Mã Lai; và ở Miến Điện, ngửời Miến. Qua những thăng
trầm trong buổi đầu của lịch sử, dân tộc sau này sẽ là chủ thể
bao giờ cũng định cử ở đồng bằng, còn các dân tộc khác thì quanh
các thung lũng chân núi, hay trên sửờn núi, trên cao nguyên. ở
đồng bằng, con ngửời nhanh chóng chuyển sang trồng lúa nửớc,
mà năng suất cao hơn, so với các loại củ và lúa nửơng ở những
vùng trên. Trong môi trửờng rộng rãi của đồng bằng, dân số
cũng tăng nhanh. Tất cả những thuận lợi do thiên nhiên tạo ra
đó thúc đẩy dân tộc ở đồng bằng phát triển văn hóa nhanh chóng
hơn. Và khi điều kiện đã chín muồi, chính họ chủ động thành lập
quốc gia, hút các dân tộc ở miền cao vào quốc gia của mình.
Riêng giữa Việt Nam và các nửớc khác ở Đông Nam á lục
543
VN HOA VA TệC NGI


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status