Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và định hướng sử dụng bền vững chất thải chăn nuôi tại huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội - Pdf 67

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Nguyễn Thị Hòa

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH
HƢỚNG SỬ DỤNG BỀN VỮNG CHẤT THẢI CHĂN NUÔI
TẠI HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2018


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Nguyễn Thị Hòa

NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỊNH
HƢỚNG SỬ DỤNG BỀN VỮNG CHẤT THẢI CHĂN NUÔI
TẠI HUYỆN HOÀI ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành:

Khoa học Môi trƣờng

Mã số:


MỞ ĐẦU................................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU .............................................................................. 3
1.1. Tổng quan về chất thải chăn nuôi ................................................................................. 3
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm chất thải chăn nuôi .................................................................. 3
1.1.2. Tình hình chăn nuôi trên Thế giới và tại Việt Nam ...................................................... 7
1.1.3. Tác động của chất thải chăn nuôi ................................................................................ 10
1.2. Một số đặc điểm khu vực nghiên cứu ......................................................................... 14
1.2.1. Điều kiện tự nhiên huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội ............................................ 14
1.2.2. Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội ................................. 16
1.2.3. Đánh giá chung về thực trạng phát triển kinh tế - xã hội và định hướng phát triển... 18
CHƢƠNG 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............................ 21
2.1.Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu ................................................................................ 21
2.2. Nội dung nghiên cứu...................................................................................................... 21
2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu.............................................................................................. 22
2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin thứ cấp..................................................................... 22
2.3.2. Phương pháp đánh giá nhanh môi trường thu thập tài liệu sơ cấp .......................... 22
2.2.3.Phương pháp xác định khối lượng chất thải chăn nuôi .............................................. 23
2.3.4. Phương pháp xử lý số liệu ............................................................................................ 23
CHƢƠNG 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ........................................ 24
3.1. Đánh giá hiện trạng hoạt động chăn nuôi tạihuyện Hoài Đức, thành phố Hà Nội .. 24
3.1.1. Hiện trạng hoạt động chăn nuôi tại khu vực nghiên cứu ........................................... 24
3.1.2. Các biện pháp xử lý môi trường trong chăn nuôi tại huyện Hoài Đức..................... 25
3.1.3. Đánh giá những vấn đề môi trường của hoạt động chăn nuôi .................................. 31
3.2. Đánh giá Hệ thống quản lý và xử lý chất thải chăn nuôi lợn tại các trang trại
đƣợc chọn nghiên cứu........................................................................................................... 33
3.2.1. Công tác quản lý môi trường của chính quyền xã Cát Quế ....................................... 33
3.2.2. Tình hình quản lý chất thải chăn nuôi lợn .................................................................. 34
3.2.3. Tình hình quản lý chất thải chăn nuôi tại khu vực nghiên cứu .................................. 39
3.3. Đánh giá của người dân khu vực nghiên cứu về ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi 43
3.3.1. Ảnh hưởng đến môi trường chung ............................................................................... 43


KHCN

Khoa học công nghệ

NL

Năng lượng

NN & PTNT

Nông nghiệp và phát triển nông thôn

TACN

Thức ăn chăn nuôi

TCTK

Tổng cục thống kê

TT

Thứ tự

UBND

Ủy ban nhân dân

VSV

Hình 3.6: Tình hình quản lý xác vật nuôi chết và phụ phẩm chăn nuôi ........................ 38
Hình 3.7: Đánh giá của người dân về ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi .................... 43
Hình 3.8: Đánh giá của người dân về chất lượng nước ................................................. 44
Hình 3.9:Đánh giá của người dân về chất lượng không khí .......................................... 44
Hình 3.10: Đánh giá về ảnh hưởng của chất thải chăn nuôi đến sức khỏe con người .. 45


MỞ ĐẦU
Chăn nuôi tại Việt Nam luôn là một ngành kinh tế quan trọng, chiếm 28% giá
trị sản xuất nông nghiệp và là một trong những phân ngành nông nghiệp tăng trưởng
nhanh nhất.Tăng tỷ trọng chăn nuôi là giải pháp chủ yếu để duy trì và nâng cao giá trị
sản xuất nông nghiệp, không chỉ góp phần cung cấp thực phẩm cho nội địa mà còn
xuất khẩu mang lại nguồn GDP tương đối cao. Sự phát triển của khoa học kỹ thuật kéo
theo năng suất chăn nuôi ngày càng tăng, giúp mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần
làm chuyển cơ cấu nông nghiệp, từ trồng trọt sang chăn nuôi, đồng thời cải thiện đáng
kể đời sống nông dân. Theo Cục chăn nuôi, năm 2017 giá trị sản xuất chăn nuôi ước
đạt 230.000 tỷ đồng theo giá cố định năm 2010 (khoảng 10,25 tỷ USD), tốc độ tăng
trưởng cùng kỳ so với năm 2016 đạt khoảng 3,05% [7].
Tuy nhiên, cùng với xu hướng chăn nuôi mở rộng và gia tăng quy mô, ô nhiễm
môi trường đang dần trở nên nghiêm trọng hơn do xử lý chưa tốt chất thải chăn nuôi
và sử dụng các thức ăn công nghiệp chưa hợp lý. Phần lớn trong số đó có quy mô nhỏ
và 80% nằm trong khu vực dân cư. Đáng lo ngại hơn là dù chăn nuôi ở quy mô nhỏ
hay lớn các loại chất thải chăn nuôi đa phần vẫn chưa được xử lý. Ô nhiễm môi trường
do sản xuất chăn nuôi gây ra là rủi ro lớn nhất cho vật nuôi và sức khỏe cộng đồng.
Hoài Đức là huyện có tốc độ công nghiệp hóa, đô thị hóa nhanh vào loại bậc
nhất khu vực phía Tây Hà Nội, nên diện tích đất nông nghiệp đang ngày càng ít đi.
Trong hoàn cảnh đó, việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng hàng hóa, đẩy mạnh phát
triển chăn nuôi là hướng đi hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp của huyện. Chăn nuôi
Hoài Đức những năm qua đã có nhiều chuyển biến, đạt kết quả cao. Với 19 xã, 1 thị
trấn Hoài Đức có 40.960 hộ gồm 190.612 người, trong đó có 18.471 hộ sinh sống bằng

(trypsin, pepsin, ...), các mô tróc ra từ các niêm mạc của ống tiêu hóa và chất nhờn
theo phân ra ngoài, các loại vi sinh vật trong thức ăn, ruột bị thải ra ngoài theo phần...
Lượng phân thải ra trong một ngày đêm tùy thuộc vào giống, loài, tuổi và khẩu
phần ăn. Lượng phân thải ra mỗi ngày có thể ước tính 6-8% trọng lượng của vật nuôi.
Lượng phân thải trung bình của gia súc trong 24 giờ được trình bày trong bảng 1.1:
Bảng 1.1: Khối lƣợng phân và nƣớc tiểu của gia súc thải ra trong 1 ngày đêm
STT

Loại gia súc

Lƣợng phân (kg/ngày)

Nƣớc tiểu (lít/ngày)

1

Trâu bò lớn

20-25

10-15

2

Lợn (

Tổng chất thải

(1.000.000 con)

quân (kg/con.ngày)

rắn/năm (triệu tấn)

1



6,33

10

23,13

2

Trâu

2,89

15

15,86

3


Cừu

0,08

1,5

0,04

7

Ngựa

0,12

4

0,17

8

Hươu, nai

0,04

2,5

0,03

9

MNP/100g

4.106-108

E.coli

MPN/100g

105-107

Streptococus

MPN/100g

3.102-104

vk/25ml

10-104

vk/ml

10-102

MNP/10g

0-103

Salmonella
Cl.perfringens


CHC

N

P2O5

K2O

CaO

MgO

Cl

1

Trâu bò

92,5

3,0

1,0

0,01

1,5

0,15


2,5

0,5

0,05

1,0

0-0,2

0-0,1

0,1

Nguồn: Antoine Pouilieute ( 2010)[1]
- Các chất hữu cơ: hợp chất hữu cơ chiếm 70–80% bao gồm cellulose, protit, acid
amin, chất béo, hidrat carbon và các dẫn xuất của chúng, thức ăn thừa. Các chất vô cơ
chiếm 20–30% gồm cát, đất, muối, ure, ammonium, muối chlorua, SO42-,…
- N và P: khả năng hấp thụ N và P của các loài gia súc, gia cầm rất kém, nên khi
ăn thức ăn có chứa N và P thì chúng sẽ bài tiết ra ngoài theo phân và nước tiểu. Trong
nước thải chăn nuôi heo thường chứa hàm lượng N và P rất cao. Hàm lượng N-tổng =
200 – 350 mg/l trong đó N-NH4 chiếm khoảng 80-90%; P-tổng = 60-100mg/l.
- Sinh vật gây bệnh: Nước thải chăn nuôi chứa nhiều loại vi trùng, virus và trứng
ấu trùng giun sán gây bệnh.
Chất thải trong chăn nuôi ước tính khoảng vài chục nghìn tỷ m3/năm.
c, Khí thải
Chăn nuôi phát thải nhiều loại khí thải (CO2, NH3, CH4, H2S, ... thuộc các loại
khí nhà kính chính) do hoạt động hô hấp, tiêu hóa của vật nuôi, do ủ phân, chế biến
thức ăn, ... ước khoảng vài trăm triệu tấn/ năm.

Nam đứng thứ 4 có 27,6 triệu con và Đức đứng thứ năm 26,8 triệu con lợn.
Về chăn nuôi gà số một Trung Quốc 4.702,2 triệu con gà, nhì Indonesia 1.341,7
triệu con, ba Brazin 1.205,0 triệu, bốn Ấn Độ 613 triệu con và năm Iran 513 triệu con
gà. Việt Nam về chăn nuôi gà có 200 triệu con đứng thứ 13 trên thế giới.
Chăn nuôi vịt nhất là Trung Quốc có 771 triệu con, nhì Việt Nam 84 triệu con, ba
Indonesia 42,3 triệu con, bốn Bangladesh 24 triệu và thứ năm Pháp có 22,5 triệu con vịt.
Về số lượng vật nuôi trên thế giới, các nước Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ,
Brazin, Indonesia, Đức là những cường quốc, trong khi đó Việt Nam cũng là nước có
tên tuổi về chăn nuôi: đứng thứ 2 vê số lượng, thứ 4 về heo, thứ 6 về lượng trâu và thứ
13 về lượng gà.
Tại Việt Nam, theo Bộ NN&PTNT (02/2016)[3], tình hình chăn nuôi trong
tháng phát triển ổn định, theo số liệu ước tính của TCTK, tổng số trâu cả nước tăng
khoảng 0,1%, tổng số bò tăng khoảng 1-1,5% so với cùng kỳ năm 2015. Chăn nuôi lợn
7


phát triển tốt do trong tháng không xảy ra dịch lợn tai xanh, giá bán thịt hơi ổn định
duy trì ở mức có lợi cho người chăn nuôi, tổng số lợn của cả nước tăng khoảng 2-2,5%
so với cùng kỳ năm 2015. Chăn nuôi gia cầm được người dân đầu tư phát triển đàn để
phục vụ thị trường Tết nguyên đán 2016. Ước tính tổng số gia cầm của cả nước tăng
khoảng 3-3,5% so với cùng kỳ năm 2015.
Bảng 1.5: Thống kê chăn nuôi Việt Nam
Đơn vị: con
Trâu



Lợn




86273

685582

1797325

14744

Đông Nam Bộ

46489

367135

3093622

32263

Đồng bằng sông Cửu Long

33917

689011

3589288

30670

Nguồn:Tổng cục thống kê ( 2015)[15]

nhiều khó khăn. Những năm qua, chất thải vật nuôi trong nông hộ được xử lý bằng 3
biện pháp chủ yếu sau:
- Chất thải vật nuôi trực tiếp ra kênh mương và trực tiếp xuống ao hồ.
- Chất thải được ủ làm phân bón cho cây trồng.
- Chất thải nuôi được xử lý bằng công nghệ khí sinh học (biogas).
Bên cạnh đó còn có một số phương pháp, nhưng chưa được nhân rộng như xử
lý bằng sinh vật thủy sinh (cây muỗi nước, bèo lục bình,...), bằng chế phẩm sinh học,
xử lý bằng hồ sinh học, công nghệ xử lý bằng đệm lót sinh học,...
Theo thống kê năm 2010 [6], cả nước có khoảng gần 9 triệu hộ chăn nuôi nông
hộ, ước tính khoảng 26,5 triệu con, trâu bò đạt 7,7 triệu con và gia cầm trên 304,5 triệu
con, 18.000 trang trại chăn nuôi tập trung, nhưng mới chỉ có 8,7% số hộ xây dựng
công trình khí sinh học (hầm biogas). Tỷ lệ hộ gia đình có chuồng trại chăn nuôi hợp
vệ sinh cũng chỉ chiếm 10% và chỉ có 0,6% số hộ có cam kết bảo vệ môi trường. Vẫn
còn khoảng 23% số hộ chăn nuôi không xử lý chất thải bằng bất kỳ phương pháp nào
mà xả thẳng ra môi trường bên ngoài…gây sức ép đến môi trường. Các tỉnh thuộc
đồng bằng sông Hồng, đồng bằng sông Cửu Long là những địa phương có ngành chăn
nuôi phát triển chiếm tới 55% trang trại nuôi lợn tập trung ở những đồng bằng này.
Theo dự tính với tốc độ phát triển mạnh của ngành chăn nuôi như hiện nay dự tính đến

9


năm 2020, lượng chất thải rắn trong chăn nuôi phát sinh khoảng gần 1.212.000
tấn/năm, tăng 14,05% so với năm 2010.
Bảng 1.6: Số trang trại theo khu vực năm 2015
Khu vực

TT

Số lƣợng


2900

10,7

5

Tây Nguyên

2928

10,8

6

Đông Nam Bộ

6098

22,5

7

Đồng bằng sông Cửu Long

7599

28

Nguồn:Tổng cục thống kê ( 2015)[20]

phức tạp, khó phân giải, gây thoái hóa đất như cằn cỗi đất, ảnh hưởng sinh trưởng và
phát triển của thực vật.
Chất thải chăn nuôi khi bị đổ thẳng ra môi trường đất theo nước mưa ngấm
xuống tầng nước ngầm gây ô nhiễm mạch nước ngầm.
Việc bổ sung hàm lượng kim loại nặng vào chất kích thích tăng trưởng trong
thức ăn của vật nuôi khiến phân và nước tiểu của vật nuôi có hàm lượng kim loại nặng
bị thải ra môi trường đất. Nếu kéo dài sẽ gây tích lũy trong đất, thay đổi tính chất vật
lý hóa học của đất, phá hoại kết cấu đất, làm nghèo đất, hạn chế sự sinh trưởng và phát
triển của cây trồng,...
 Môi trường nước
Nước thải chăn nuôi luôn có hàm lượng chất ô nhiễm cao như các chất hữu cơ
dễ phân hủy sinh học, các chất dinh dưỡng, các khoáng chất,…và các vi sinh vật mang
mầm bệnh. Các chất có trong nước thải chăn nuôi lợn gây những tác động không nhỏ
đến môi trường nước.
Nước thải chăn nuôi chưa được xử lý hoặc xử lý chưa triệt để khi thải trực tiếp
ra môi trường nước sẽ làm suy giảm lượng oxy hòa tan trong nước . Thêm vào đó,
trong chất thải chăn nuôi có hàm lượng dinh dưỡng nito, photpho cao gây ra hiện
tượng phú dưỡng hóa ảnh hưởng trực tiếp đời sốngthủy sinh vật trong nguồn nước tiếp
nhận. Đồng thời, môi trường nước là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sinh sôi của
các hệ vi sinh vật gây bệnh có trong phân của vật nuôi [9].
Xác vật nuôi chết cũng góp phần gây ô nhiễm nguồn nước không chỉ bốc mùi
hôi thối do quá trình phân hủy mà còn mang nguy cơ bùng phát dịch bệnh cho các loài
vật khác và con người.
Chất thải chăn nuôi không chỉ gây ô nhiễm nước mặt mà còn là nguồn gây ô nhiễm
nước ngầm. Chất thải chăn nuôi sau khi thải ra ngoài môi trường theo dòng nước mưa
11


ngấm xuống tầng nước ngầm gây ra ô nhiễm. Ngành chăn nuôi chiếm 8% tổng lượng
nước loài người sử dụng trên thế giới. Nước thải ngành chăn nuôi chứa nhiều chất ô

12


trang trại để giảm mùi nhưng hiệu quả không cao, một số cơ sở sử dụng lót sinh học
hoặc chế phẩm trên nền chuồng trại giảm mùi. Xử lý triệt để mùi giảm ô nhiễm không
khí , giảm nguy cơ ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người và vật nuôi.
1.1.3.2. Tác động đến con người
Chất thải chăn nuôi không chỉ ảnh hưởng đến môi trường nghiêm trọng mà còn
có những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống và sức khỏe của con người. Theo các
nghiên cứu cho rằng con người có thể mắc rất nhiều loại bệnh liên quan đến chất thải
chăn nuôi.
 Các bệnh thường gặp trong lao động nông nghiệp
Hiện nay, còn nhiều trang trại chăn nuôi lợn hàng ngày thải ra một lượng lớn
chất thải không được xử lý và đổ trực tiếp vào hệ thống thoát nước, kênh mương làm ô
nhiễm nguồn nước mặt, nước ngầm là nguồn cung cấp nước nước sinh hoạt nhiều hộ
dân (nước giếng trong vùng có váng, mùi hôi tanh), tỷ lệ người dân bị mắc các bệnh
tiêu chảy, mẩn ngứa và ghẻ cao. Ô nhiễm do chất thải chăn nuôi không chỉ ảnh hưởng
nặng tới môi trường sống khu dân cư mà còn gây ô nhiễm nguồn nước, tài nguyên đất.
Bên cạnh đó, ô nhiễm môi trường còn là nguyên nhân phát sinh nhiều loại dịch bệnh ở
vật nuôi, gây chết hoặc giảm năng suất, chất lượng dẫn đến ảnh hưởng xấu hiệu quả
của ngành chăn nuôi.
 Các bệnh thường gặp ô nhiễm không khí nơi làm việc
Các loại hơi khí độc như amoniac (NH3), hydrosulfua (H2S), khí carbondioxyt
(CO2), bụi hữu cơ vào cơ thể có biểu hiện ngứa mũi, ngứa mắt, họng, khó chịu vỉ mũi,
hắt hơi, đau họng… Theo nghiên cứu môi trường lao động và sức khỏe bệnh tật nông
dân tại một số vùng tại Thái Nguyên của nhóm tác giả Nguyễn Trọng Đức, Đỗ Hàm,
Nguyễn Thị Quỳnh Hoa cho thấy mô hình bệnh tật nông dân chủ yếu là các bệnh có
liên quan đến tình trạng ô nhiễm môi trường xen lẫn với các bệnh cộng đồng chậm
phát triển. Tỷ lệ mắc các bệnh về mắt là 16-37%, bệnh mũi họng là 73-77%. Hai nhóm
bệnh khác là tim mạch từ 14-15%, bệnh hô hấp là 11 - 12%.

Liêm, phía Nam giáp quận Hà Đông, huyện Chương Mỹ và phía Tây giáp với huyện
Quốc Oai,huyện Phúc Thọ.
Huyện Hoài Đức có các quốc lộ lớn chạy qua như: Quốc lộ 32, Đại lộ Thăng
Long, tỉnh lộ 423, tỉnh lộ 422, tỉnh lộ 70. Đây đều là những tuyến giao thông quan
trọng nối liền huyện với nội thành Hà Nội và các địa phương khác trong vùng.
Hoài Đức có dạng địa hình đồng bằng, dốc từ Tây Bắc sang Đông Nam và chia
thành 2 vùng là vùng bãi và vùng đồng.
Vùng bãi nằm ở ngoài đê sông Đáy: gồm một phần diện tích của 9 xã và toàn
bộ diện tích của xã Vân Côn. Cao trình mặt ruộng trung bình từ 6,5 - 9 m, có xu hướng
14


dốc từ đê vào sông; cao nhất tại Dương Liễu và Minh Khai với cao trình 8,5 - 9 m,
thấp nhất là ven kênh tiêu T5 và T6. Những vùng trũng thường xen kẽ lẫn vùng cao
nên thường gây úng, hạn cục bộ.
Vùng đồng: gồm một phần điện tích của 9 xã vùng bãi và toàn bộ diện tích của
10 xã và 01 thị trấn trong đồng. Cao trình mặt ruộng trung bình từ 4 - 8 m, địa hình
tương đối phức tạp, vùng trũng xen kẽ vùng cao nên mặc dù hệ thống thủy lợi đã được
đầu tư nhiều nhưng những năm mưa lớn do tiêu không chủ động thường gây ra úng
ngập mất mùa, tập trung ở một số xã như Di Trạch, Lại Yên, Kim Chung, Đức Giang, ...
Hoài Đức nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, với 2 mùa
rõ rệt: mưa từ tháng 6 đến tháng 10; mùa khô, lạnh từ thành 11 đến tháng 5 năm sau.
Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 24,4 oC. Số giờ nắng trung bình khá dồi
dào với 1.645 giờ. Trung bình một ngày có 3 - 5 giờ nắng, tháng có giờ năng cao nhất
là tháng 7 và tháng 10 (trung bình mỗi ngày có tới 7 giờ nắng). Bức xạ tổng cộng
hàng năm của khu vực là 125,7 kcal/cm2. Tổng nhiệt độ hàng năm đạt 8.500 - 9000 oC.
Lượng mưa trung bình năm 1.600 - 1.700 mm. Lượng bốc hơi trung bình năm đạt 650
mm. Độ ẩm không khí trung bình 84%.
Khu vực có 2 hướng gió thịnh hành: gió mùa Đông Nam thổi vào mùa hè và gió
mùa Đông Bắc thổi vào mùa đông

ngành kinh tế có 90,81 nghìn người. Trong cơ cấu lao động của huyện, lao động trong
ngành nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng cao, chiếm gần 50% tổng số lao động trong các
ngành kinh tế quốc dân. Đây là vấn đề đặt ra cần giải quyết trong quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế, chuyển một phần đất nông nghiệp sang phát triển đô thị, công
nghiệp, dịch vụ.
Tốc độ phát triển kinh tế bình quân đạt trên 10%/năm, chuyển dịch cơ cấu kinh
tế theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, công nghiệp, giảm tỷ
trọng nông nghiệp.Năm 2015, kinh tế của huyện tiếp tục phát triển khá toàn diện trên
tất cả các lĩnh vực. Tổng giá trị sản xuất thực hiện 14.225 tỷ đồng, đạt 100% kế hoạch,
tăng 12,6% so với cùng kỳ. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn ước thực hiện gần
500 tỷ đồng, đạt 184% so với chỉ tiêu Thanh phố giao, tăng 11,3% so với cùng kỳ.
Trong đó, có 9/9 chỉ tiêu thu đạt và vượt kế hoạch Thành phố giao.
Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp đạt 4.828 tỷ đồng, tăng
11,4% so với cùng kỳ, đạt 100,1% kế hoạch năm. Các ngành nghề sản xuất, kinh
doanh chủ yếu như: dệt may, sản xuất bánh kẹo, chế biến nông sản, đồ thờ tượng Phật,
cơ khí tiếp tục giữ được thị trường góp phần tăng thu nhập và giải quyết việc làm
thường xuyên tại các làng nghề cho khoảng 44.000 lao động với thu nhập bình quân
16


trên 4 triệu đồng/người.tháng. Hoạt động hỗ trợ xây dựng thương hiệu, phát triển thị
trường tiêu thụ sản phẩm được quan tâm, trong năm, đã phối hợp đăng ký nhãn hiệu
tập thể cho sản phẩm điêu khắc mỹ nghệ đồ thờ, xét danh hiệu nghệ nhân Hà Nội cho
4 nghệ nhân xã Sơn Đồng.
Các ngành thương mại, dịch vụ được quan tâm chỉ đạo, có tỷ trọng tăng trưởng
khá, giá trị thương mại – dịch vụ đạt 6.210 tỷ đồng, tăng 16,7% so với cùng kỳ. Trong
năm, huyện đã tích cực chỉ đạo đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, hỗ trợ
các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh; phối hợp với các sở, ban, ngành của Thành
phố và các doanh nghiệp để tổ chức hội chợ, tổ chức các chương trình đưa hàng bình
ổn giá về nông thôn, tuyên truyền nhân dân hưởng ứng cuộc vận động ―Người Việt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status