THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG NHỮNG NĂM QUA - Pdf 67

THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRONG
NHỮNG NĂM QUA
I.Thực trạng đầu tư vào ngành du lịch của tỉnh
1. Thực trạng cơ sở hạ tầng phục vụ cho ngành du lịch của tỉnh
1.1. Hệ thống giao thông
Mạng lưới giao thông trên địa bàn tỉnh những năm gần đây đã được xây dựng
tương đối hợp lí, rộng khắp toàn tỉnh ô tô đi được tới tất cả các xã trong tỉnh, việc đi lại
thuận tiện, nhanh chóng. Toàn tỉnh hiện có 2.278,2km đường bộ và 496 km đường sông
với các tuyến quan trọng nối liền thị xã với các huyện thị và tỏa đi các xã. Các tuyến
đường từ tỉnh xuống huyện được nâng cấp rải nhựa. Mạng lưới giao thông của Tỉnh
được phân bố tương đối đều: đường sắt, đường bộ, đường thủy.
٭Đường bộ: bao gồm hệ thống đường quốc lộ, tỉnh lộ, đường huyện, liên huyện,
đường xã và liên xã với tổng chiều dài 2.278,2 km. Ngoài quốc lộ 1A , trên địa bàn tỉnh
Ninh Bình còn có các tuyến quốc lộ chạy qua như 10, 12B, 45, trong đó:
Đường quốc lộ: có 110,5 km
Đường tỉnh lộ: có 261,5 km
Đường huyện lộ: có 194,92 km
Đường xã, liên xã: có tổng chiều dài 911,5 km
Hiện nay mạng lưới giao thông đang được cải thiện ngày một tốt hơn. Tuy nhiên
hệ thống giao thông vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Hệ
thống các đường nội thị vẫn còn yếu kém, nhiều tuyến đường cần được cải tạo và mở
rộng. Đặc biệt cần nâng cấp, cải tạo toàn tuyến 1A trên địa bàn tỉnh nhất là đoạn đi qua
thành phố Ninh Bình. Đây chính là tuyến đường chủ đạo trong giao lưu kinh tế giữa
Ninh Bình với các tỉnh phía Bắc cũng như phía Nam, đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng
hóa và hành khách qua Ninh Bình ngày càng lớn. Hệ thống giao thông nông thôn,
đường liên thôn liên xã đã được nâng cấp, rải nhựa, cải tạo và làm mới. Điều này có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc khai thác thế mạnh của vùng, nhằm phát triển kinh tế,
nâng cao mức sống người dân đặc biệt là mở rộng giao lưu với các địa phương trong
tỉnh, phát triển các tour liên huyện.
٭ Đường sắt: Ninh Bình nằm trên tuyến đường sắt quốc gia Bắc Nam, đây là tuyến
đường sắt đóng góp một phần rất lớn trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội tỉnh và

nước này đảm bảo vệ sinh đủ tiêu chuẩn cần thiết để sử dụng cho ăn uống và sinh hoạt.
Mạng lưới thoát nước thải sinh hoạt tại các đô thị của tỉnh sử dụng hệ thống
thoát chung ( cho cả nước mưa và nước thải sinh hoạt). Hệ thống thoát nước mưa bao
gồm các lọai ống tròn bê tông cốt thép, cống hộp và mương có nắp đan. Nhìn chung các
tuyến thoát nước đều hoạt động tốt nhưng do mật độ còn quá thấp chưa đáp ứng được
nhu cầu nên ảnh hưởng không ít đến môi trường đô thị. Các lọai nước thải hầu không
được xử lí đến giới hạn cho phép và thường được xả trực tiếp ra sông suối. Nước thải
công nghiệp từ các nhà máy xi măng, nhà máy phân lân chưa được xử lí đến độ trước
khi xả ra sông suối. Nước thải bệnh viện được xử lí riêng đơn giản và xả vào hệ thống
thóat nước chung, phần lớn là hơn giới hạn cho phép. Lượng thu gom rác thải để xử lí
còn nhỏ. Các loại rác thải được xử lí chung, chôn lấp tự do. Chính vì thế, hiện nay
UBND tỉnh đã phê duyệt dự án và đang triển khai thi công xây dựng nhà máy xử lí rác
thải với công suất 2200 tấn/ngày.
1.4. Hệ thống bưu chính viễn thông
Mạng lưới thông tin liên lạc đã phủ kín các vùng trong tỉnh với hệ thống tổng đài
điện tử hiện đại của bưu điện trung tâm tỉnh và bưu điện của 7 huyện thị xã, hệ thống
viễn thông vi ba, cáp quang Bắc – Nam chạy qua đảm bảo cho liên lạc nhanh chóng
thuận tiện giữa Ninh Bình và các địa phương, các vùng trong nước và liên lạc quốc tế.
Hệ thống bưu cục: 32 trạm. Các tuyến, trạm truyền thông tin: 25 tuyến, trạm. Hiện toàn
tỉnh có khoảng 6,6 máy điện thoại/ 100 dân. Mạng điện thoại di động đã phủ sóng gần
hết lãnh thổ Ninh Bình. Đến cuối 2005 đã có 112 xã có điểm bưu điện văn hóa xã ( đạt
82%).
1.5. Hệ thống dịch vụ tài chính, ngân hàng
Các cơ sở dịch vụ về tài chính, ngân hàng của Ninh Bình bao gồm hệ thống ngân
hàng nhà nước và các ngân hàng chuyên doanh, hệ thống kho bạc từ tỉnh đến các
huyện, thị xã, công ty bảo hiểm, các quĩ tín dụng nhân dân… Hệ thống các cơ sở dịch
vụ này hiện tại thường xuyên được cải tiến về nghiệp vụ chuyên môn và phong cách
phục vụ, tăng cường trang bị kĩ thuật hiện đại, thực hiện vi tính hóa trong quản lí và
thanh toán… đang ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu về vốn cho sản xuất – kinh
doanh, đáp ứng tốt hơn các công tác thanh toán, trao đổi hàng hóa – dịch vụ; phục vụ

- Số lượng phòng Phòng 815 883 1277 1407 1680
- Số lượng giường Giường 937 1600 3300 3600 4100
Phân theo loại hình Cơ sở
- Khách sạn Cơ sở 28 38 47 57 67
- Nhà hàng, nhà nghỉ Cơ sở 20 30 36 38 48
Nguồn: Cục thống kê Ninh Bình
Trong năm 2008, cả tỉnh có 10 cơ sở lưu trú mới xây dựng. Trong đó có 1 khách
sạn 1 sao, 1 khách sạn 2 sao với tổng số vốn là 50 tỷ đồng. So với nhu cầu thực tế, khả
năng đáp ứng về cơ sở lưu trú của Ninh Bình còn rất thiếu, nhất là các cơ sở lưu trú cao
cấp.
2. Vốn đầu tư và cơ cấu vốn đầu tư
2.1. Đầu tư vào cơ sở hạ tầng
Đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường không mang lại những lợi ích kinh tế cụ thể
hay thời gian thu được lợi nhuận là rất dài, đồng thời đây là lĩnh vực yêu cầu nguồn vốn
khá lớn. Chính vì vậy các nhà đầu tư thường không đủ khả năng hoặc không mong
muốn đầu tư vào lĩnh vực này. Nhưng cơ sở hạ tầng lại là yếu tố tiên quyết để phát triển
kinh tế - xã hội. Vậy để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng Nhà nước
có vai trò rất quan trọng trong việc điều tiết nguồn vốn. Trong thời gian qua, những
công trình lớn, trọng điểm đầu tư vào cơ sở hạ tầng thường là do Nhà nước đầu tư. Sự
hỗ trợ từ ngân sách, kết hợp cả nguồn vốn địa phương và nguồn vốn đầu tư phát triển
hạ tầng du lịch của Trung ương thật sự là “xúc tác” góp phần quan trọng trong việc tạo
ra môi trường thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư trong nước và quốc tế. Tỉnh Ninh
Bình có nguồn tài nguyên du lịch phong phú nhưng với ngân sách địa phương eo hẹp
nên những năm trước đây đã không cho phép tỉnh đầu tư phát triển trong lĩnh vực này.
Từ năm 2000 đến nay, với nguồn vốn hỗ trợ của Ngân sách Trung Ương nhiều dự án
đầu tư cơ sở hạ tầng phục vụ chiến lược phát triển du lịch đã được triển khai.
Bảng 2.2. Tổng hợp các nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản từ 2001-2008
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ tiêu
Thời gian

Tổng số 4.124.505 913.254,6
Nguồn: Sở Văn hóa – Thể thao – Du Lịch Ninh Bình
Tính đến 31/12/2008, cơ sở hạ tầng của du lịch Ninh Bình đã được đầu tư
913,2546 tỷ đồng tập trung vào 11 dự án, bằng 29,1% tổng mức đầu tư đã được duyệt.
Trong đó vốn đầu tư từ Ngân sách Trung ương là 908,9196 tỷ đồng, riêng khu du lịch
Tràng An được xác định là điểm nhấn quan trọng để thu hút khách du lịch đến Ninh
Bình. Cùng với đó Tỉnh phối hợp với Viện Kiến trúc nhiệt đới – Trường Đại học Kiến
trúc Hà Nội từng bước hoàn chỉnh Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Ninh Bình giai
đoạn 2007 – 2015, có một số khu du lịch đã quy hoạch đến năm 2020. Các bản quy
hoạch của từng vùng du lịch được công bố công khai để từng người dân được biết, từ
đó họ ý thức hơn về làm du lịch, đây cũng là điều kiện thuận lợi để tiến đến xã hội hóa
du lịch. Trong những năm qua, Tỉnh đã đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các khu du lịch.
Những khu du lịch trọng điểm của Ninh Bình được ưu tiên vốn đầu tư, đang gấp rút xây
dựng và hoàn thành xong phần cơ bản về hạ tầng, bắt đầu tiến hành khai thác như khu
Tam Cốc – Bích Động, Tràng An, núi chùa Bái Đính, nước nóng Kênh Gà. Các dự án
khác như: Cơ sở hạ tầng tuyến du lịch đường thủy Bích Động- Hang Bụt, Thạch Bích-
Thung Nắng, cơ sở hạ tầng Khu du lịch các làng nghề truyền thống cũng đang được gấp
rút hoàn thiện để đưa vào khai thác.
Cơ sở hạ tầng được đầu tư cải thiện là đệm phóng cho những dự án đầu tư của
khu vực tư nhân. Những năm gần đây, các doanh nghiệp trong Tỉnh cũng như ở trong
nước đang liên tiếp đăng kí đầu tư. Hiện nay, các dự án đang được triển khai thực hiện
đầu tư theo đúng tiến độ đã phê duyệt. Nhiều hạng mục công trình của các dự án đã đưa
vào khai thác, sử dụng phục vụ khách du lịch hiệu quả.
Bảng 2.3. Phân loại nguồn vốn trong nước theo khu du lịch của tỉnh Ninh Bình
tính đến 31/12/2008
Đơn vị: triệu đồng
STT Khu du lịch Vốn tư nhân
Vốn Ngân
sách
Tổng vốn

Trong đó phải kể đến 2 dự án FDI:
♦ Dự án khu du lịch sinh thái Đông Phương Sư ( 100% vốn của Đài Loan), tổng vốn
đầu tư là 32 triệu USD ( tại Vân Long, Gia Viễn)
♦ Làng quần thể du lịch Ninh Bình, cụm biệt thự bằng đá ( tại khu Tam Cốc- Bích
Động, huyện Hoa Lư) do tập đoàn Hotel Project BV – Hà Lan đầu tư với tổng số vốn
2,35 triệu USD.
2.2. Xúc tiến, quảng bá du lịch
Từ năm 2000, Sở văn hóa - thể thao - du lịch ( mà dưới đây gọi tắt là Sở du lịch)
đã tham mưu cho UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch và xây dựng
qui chế, chương trình hành động về du lịch giai đoạn 2001-2005 làm cơ sở cho việc
đầu tư, phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh. Cũng trong năm 2000, Sở đã tổ chức các lớp
học tập, nghiên cứu về du lịch, tổ chức đi khảo sát và học tập kinh nghiệm thực tế tại
các tỉnh miền Trung và miền Nam, tham gia triển lãm gian hàng hội xuân Du lịch – Văn
hóa Việt Nam tại Vân Hồ - Hà Nội và đã đạt được giải ba toàn quốc; phối hợp với các
ban ngành trong tỉnh tổ chức thành công Lễ hội Trường Yên 2000.
Trong khuôn khổ chương trình hành động về du lịch của Tỉnh, năm 2002, Sở Du
lịch Ninh Bình đã chính thức đưa trung tâm xúc tiến đầu tư và phát triển du lịch đi vào
hoạt động và bước đầu đạt được kết quả tốt. Đơn vị này đã phối hợp với các doanh
nghiệp du lịch trên địa bàn tỉnh tích cực triển khai thực hiện các chương trình quảng bá,
xúc tiến hình ảnh du lịch Ninh Bình. Tổ chức thành công hội thi “ Nấu các món ăn dân
tộc Việt Nam ngành du lịch Ninh Bình – 2002”, phát động chương trình Báo chí viết
về du lịch Ninh Bình và đã thu hút được nhiều tầng lớp dân cư tham gia.
Nhằm đa dạng hóa các sản phẩm du lịch mang đặc trưng Ninh Bình, Sở Du lịch
đã tiến hành nghiên cứu, tổ chức thực hiện và đưa vào thử nghiệm đề tài “ Nghiên cứu
tổ chức đóng thử tàu chở khách trên sông”. Cũng trong khuôn khổ đề tài này, lần đầu
tiên du lịch Ninh Bình tiến hành khảo sát chuyên sâu và công bố kết quả về tuyến du
lịch sinh thái chùa Bái Đính – động Sinh Dược, công bố động Sinh Dươc dài 1.360 m –
một tài nguyên du lịch hết sức quí giá. Hiện nay, đang triển khai thực hiện đề tài “
Nghiên cứu cơ sở khoa học và giải pháp khai thác tiềm năng hang động Karst phục vụ
phát triển du lịch Ninh Bình” làm cơ sở để xây dựng và đưa vào khai thác các tuyến

ra lợi thế cạnh tranh. Du lịch Ninh Bình phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, thế
mạnh của tỉnh. Hiệu quả kinh tế, xã hội còn ở mức độ thấp. Một trong những nguyên
nhân cơ bản của sự phát triển kém hiệu quả này, theo đánh giá của các chuyên gia là do
nguồn nhân lực du lịch của Ninh Bình hiện nay vừa thừa, vừa thiếu, vừa yếu, lại mất
cân đối về cơ cấu lao động trong du lịch. Đội ngũ cán bộ quản lý du lịch và lao động
làm dịch vụ du lịch còn vừa yếu về năng lực chuyên môn vừa yếu về ngoại ngữ, vừa
thiếu tính chuyên nghiệp và thái độ làm việc để thực thi các công việc theo chức danh
đảm nhiệm.
Theo thống kê của ngành, tính đến năm 2007, số lao động trực tiếp trong ngành
du lịch là 960 người tăng 2,3 lần so với năm 2002. Số lượng lao động trong ngành có
trình độ chuyên môn về du lịch: đại học, cao đẳng 196 người chiếm 20,4%, trung cấp
và nghề 410 người chiếm 42,7%. Đào tạo trong các lĩnh vực khác (chưa qua đào tạo về
du lịch) là 219 người chiếm 22,8%. Số lao động có khả năng sử dụng một trong 3 ngoại
ngữ phổ biến (Anh – Pháp – Trung) là 315 người chiếm 33%. Riêng đối với lao động
thực hiện chức năng quản lý nhà nước về du lịch, ngành đã thực hiện tốt chủ trương thu
hút nhân tài về làm việc: Tuyển thẳng 01 sinh viên tốt nghiệp loại giỏi chuyên ngành du


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status