Giải pháp đẩy mạnh huy động vốn tại ngân hàng phát triển nhà đồng bằng sông cửu long chi nhánh long an , luận văn thạc sĩ - Pdf 67

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH


NGUYỄN HỒNG LAN

GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH HUY ĐỘNG VỐN

TẠI NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN
NHÀ ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU
LONG CHI NHÁNH LONG AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ NGÀNH: 60.34.02 01

NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS. NGUYỄN THANH TUYỀN

TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2013


Chương 1 :
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1- Khái quát về Ngân hàng thương mại :
1.1.1/ Khái niệm :
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính quan trọng trong nền kinh
tế. Đây là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất bởi lẽ các cá nhân, tổ chức hay
doanh nghiệp đều gửi tiền tại đây, nguồn vốn của họ phần lớn xuất phát từ đây.
Các cá nhân gửi tiền với mục đích tăng thu nhập, thêm lợi nhuận, các doanh
nghiệp, các tổ chức xã hội gửi phục vụ thanh toán, chi tiêu, trả lương,... Ngân
hàng đóng vai trò là người thủ quỹ cho toàn xã hội.

tài sản nợ cho ngân hàng. Huy động vốn là hoạt động nền tảng cho sự hoạt động
và phát triển của ngân hàng. NHTM được huy động vốn dưới các hình thức sau:
- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức
tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại hình tiền gửi khác.
- Phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu và giấy tờ có giá khác để huy
động vốn của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
- Vay vốn của các TCTD khác hoạt động tại Việt Nam, các TCTD nước
ngoài.
- Vay vốn ngắn hạn của NHNN.
- Các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN.
1.1.2.2- Hoạt động cấp tín dụng :
a/ Cho vay : NHTM được cho các tổ chức, cá nhân vay vốn dưới các hình
thức :
- Cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh,
dịch vụ và đời sống.
- Cho vay trung, dài hạn để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất,
kinh doanh, dịch vụ và đời sống.
2


- Cho vay thấu chi : mỗi khách hàng được cấp một hạn mức thấu chi khi
khách hàng tạm thời thiếu hụt trong thanh toán, khách hàng không cần phải thế
chấp.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng : ngân hàng cấp một hạn mức tín dụng
là mức dư nợ vay tối đa được duy trì trong khoảng thời gian nhất định mà khách
hàng và ngân hàng đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng : ngoài hạn mức tín dụng cấp
ban đầu, ngân hàng áp dụng hạn mức tín dụng dự phòng khi khách hàng không
có đủ vốn vì mức vốn đầu tư cho dự án, nhu cầu tiêu dùng, kinh doanh tăng
thêm,...

góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài để thành lập
ngân hàng liên doanh.
b/ Tham gia thị trường tiền tệ : NHTM được tham gia thị trường tiền tệ
theo quy định của NHNN, thông qua hình thức mua bán các công cụ thị trường
tiền tệ.
c/ Kinh doanh ngoại hối : NHTM được phép trực tiếp kinh doanh hoặc
thành lập công ty trực thuộc để kinh doanh ngoại hối và vàng trên thị trường
trong nước, quốc tế.
d/ Ủy thác và nhận ủy thác : NHTM được ủy thác và nhận ủy thác làm đại
lý trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lý tài
sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác,
đại lý.
e/ Cung ứng dịch vụ bảo hiểm : NHTM được cung ứng dịch vụ bảo hiểm,
được thành lập công ty trực thuộc hoặc liên doanh để kinh doanh bảo hiểm.
f/ Tư vấn tài chính : NHTM được cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính, tiền
tệ dưới hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực thuộc ngân
hàng.

4


g/ Bảo quản vật quý giá : NHTM được thực hiện các dịch vụ bảo quản vật
quý, GTCG, cho thuê tủ két sắt, cầm đồ và các dịch vụ có liên quan.
1.1.3/ Vai trò của NHTM trong nền kinh tế :
- NHTM giúp cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư mở rộng sản xuất kinh
doanh, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Trong nền kinh tế thị trường để mở rộng được quy mô sản xuất đòi hỏi
doanh nghiệp phải có một lượng vốn nhất định để đổi mới thiết bị và công nghệ.
Trong điều kiện đó, NHTM một mặt đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn
thiếu hụt, cung cấp dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác nhằm hỗ trợ các

các phương tiện thanh toán. Khi các khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, họ sẽ
được ngân hàng đảm bảo an toàn trong việc cất giữ tiền và thực hiện thu chi một
cách nhanh chóng, tiện lợi nhất là đối với những khoản thanh toán có giá trị lớn,
mà nếu khách hàng thực hiện sẽ rất tốn kém và khó khăn. Trong khi làm trung
gian thanh toán, ngân hàng tạo ra những công cụ lưu thông như séc, thẻ thanh
toán ... đã tiết kiệm cho xã hội rất nhiều chi phí lưu thông, đẩy nhanh tốc độ
luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa.
- Chức năng thứ ba là NHTM cung cấp dịch vụ tài chính ngân hàng.
Trong quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng và ngân quỹ, ngân hàng có những
điều kiện thuận lợi về kho quỹ, thông tin quan hệ rộng rãi với các doanh nghiệp.
Qua đó ngân hàng có thể làm tư vấn tài chính, đầu tư giữ hộ tài sản quý giá, làm
đại lý phát hành chứng khoán cho các doanh nghiệp ... để nhận được khoản hoa
hồng, phí,... sẽ vừa tiết kiệm chi phí vừa đạt hiệu quả cao.
1.2- Tổng quan về huy động vốn của NHTM :
1.2.1/ Vốn huy động của NHTM :
Vốn huy động là tài sản bằng tiền của các tổ chức và cá nhân mà ngân
hàng đang tạm thời quản lý và sử dụng với trách nhiệm hoàn trả, vốn huy động
là nguồn vốn chủ yếu, nguồn tài nguyên to lớn nhất và quan trọng nhất của
NHTM.

6


Huy động vốn được coi là hoạt động cơ bản, có tính chất sống còn đối với
bất kỳ một NHTM nào, vì hoạt động này tạo ra nguồn vốn chủ yếu của các
NHTM. Chỉ có các NHTM mới được quyền huy động vốn dưới nhiều hình thức
khác nhau.
Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam năm 2010, NHTM được huy
động vốn dưới các hình thức sau đây :
- Nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các TCTD khác dưới hình thức

khoản tiền gửi thanh toán để được cung cấp các dịch vụ thanh toán qua ngân
hàng, dịch vụ ngân quỹ và tiền gửi có kỳ hạn.
Ngược lại, khách hàng thuộc tầng lớp dân cư, hoạt động giao dịch chủ
yếu với ngân hàng thông qua tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng lớn và tiền gửi
không kỳ hạn.
1.2.4/ Tầm quan trọng của hoạt động huy động vốn :
Nghiệp vụ huy động vốn tuy không mang lại lợi nhuận trực tiếp cho ngân
hàng nhưng nó là nghiệp vụ rất quan trọng. Không có nghiệp vụ huy động vốn
xem như không có hoạt động của NHTM. Vì một NHTM khi được cấp phép
thành lập phải có vốn điều lệ theo quy định.
1.2.4.1- Đối với nền kinh tế :
Hệ thống NHTM đóng vai trò rất quan trọng trong sự phát triển của nền
kinh tế. Thông qua nghiệp vụ huy động vốn mà hệ thống ngân hàng tập trung
hầu hết các nguồn vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi của xã hội, biến tiền nhàn rỗi từ
chỗ là phương tiện tích lũy trở thành nguồn vốn lớn của nền kinh tế. Đây là
nguồn vốn rất quan trọng để đầu tư phát triển nền kinh tế vì nó không những lớn
về số tiền tuyệt đối mà vì tính chất luân chuyển không ngừng của nó. Đặc biệt
trong chiến lược phát triển của nước ta là xây dựng nền kinh tế theo hướng công
nghiệp hóa, hiện đại hóa nhưng điểm xuất phát thấp, ngân sách còn hạn hẹp, hầu
như không có tích lũy từ trước, do đó vốn đầu tư cho các ngành kinh tế phải
trong đợi rất nhiều vào nguồn vốn nội lực trong đó nguồn từ các ngân hàng

8


huy động được là rất quan trọng vì nó tạo nên sự ổn định vững chắc cho sự phát
triển nhanh, ổn định và bền vững lâu dài.
Ngoài việc thu hút tiền nhàn rỗi trong xã hội để sử dụng cho đầu tư phát
triển bên cạnh đó thông qua việc phát triển nguồn vốn huy động giúp NHNN
kiểm soát khối lượng tiền tệ trong lưu thông qua việc sử dụng chính sách tiền tệ

lũy vốn tạm thời nhàn rỗi đồng thời giúp cho khách hàng có cơ hội tiếp cận các
dịch vụ, đặc biệt dịch vụ thanh toán qua ngân hàng, dịch vụ tín dụng khi họ cần
vốn cho sản xuất hoặc cho tiêu dùng và dịch vụ ủy thác thu hộ, chi hộ giúp họ
tiết kiệm thời gian, chi phí vận chuyển, nhân lực và vật lực.
1.2.5/ Các hình thức huy động vốn của NHTM :
Vốn huy động tồn tại dưới nhiều hình thức hay nói cách khác, ngân hàng
huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu là các nguồn sau đây :
1.2.5.1- Huy động vốn từ tiền gửi thanh toán :
Tiền gửi thanh toán ( TGTT ) là loại tiền gửi không kỳ hạn trước hết được
sử dụng cho mục đích thanh toán không dùng tiền mặt mà người gửi được sử
dụng một cách chủ động và linh hoạt, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu chi tiêu, chi trả,
thanh toán hàng hóa, dịch vụ và các khoản phí phát sinh một cách an toàn, thuận
lợi.
Với hình thức này, khách hàng có thể rút tiền bất cứ lúc nào mà không
cần báo trước cho ngân hàng nên ngân hàng rất khó kế hoạch hóa việc sử dụng
nguồn vốn này. Vì vậy, chi phí cho nguồn vốn huy động theo hình thức này là
rất rẻ ( thậm chí ở nhiều nước, số dư tài khoản loại này ngân hàng không phải
trả lãi cho khách hàng ). Đối với khách hàng, do lãi suất thấp nên khách hàng
thường duy trì số dư tài khoản TGTT không nhiều. Mặc dù số dư tài khoản
TGTT của từng khách hàng thường không lớn, nhưng với số lượng khách hàng
nhiều giúp cho tổng nguồn vốn huy động qua TGTT trở nên đáng kể.
Ngoài ra, việc thanh toán qua tài khoản tiền gửi này còn giúp tăng nguồn
thu phí dịch vụ cho các NHTM, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động thanh toán
của nền kinh tế. Vì vậy, để tăng cường nguồn vốn này, ngân hàng phải kết hợp
10


chặt chẽ giữa các mặt : tổ chức mạng lưới phục vụ khách hàng, cung cấp đa
dạng các dịch vụ thanh toán và ngày càng tăng chất lượng dịch vụ cũng như
công tác phục vụ, chăm sóc khách hàng.

Tiền gửi tiết kiệm có hai loại :
- TGTK không kỳ hạn : dành cho khách hàng cá nhân có tiền tạm thời
nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng vì mục tiêu an toàn và sinh lợi nhưng không thiết
lập được kế hoạch sử dụng trong tương lai. Khách hàng khi lựa chọn hình thức
gửi tiền này vì mục tiêu an toàn và tiện lợi hơn là mục tiêu sinh lợi. Số dư tiền
gửi này ít biến động hơn so với TGTT, vì vậy các NHTM thường trả lãi suất cao
hơn so với TGTT.
- TGTK có kỳ hạn : dành cho khách hàng cá nhân có nhu cầu gửi tiền vì
mục tiêu an toàn, sinh lợi và thiết lập được kế hoạch sử dụng trong tương lai.
Đây là khoản tiền gửi có sự thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng về thời
gian gửi/rút tiền. Lãi suất trả cho tiền gửi TKCKH cao hơn so với TGKKH, thay
đổi tùy theo kỳ hạn gửi, hình thức trả lãi và loại tiền tệ.
1.2.5.4- Huy động vốn từ giấy tờ có giá :
“ Giấy tờ có giá ( GTCG ) là chứng nhận của TCTD phát hành để huy
động vốn trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền gửi trong một thời
hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết khác giữa TCTD và
người mua ”.
GTCG có thể phân thành nhiều loại khác nhau :
- Căn cứ theo quyền sở hữu, có thể chia thành :
+ GTCG ghi danh là GTCG phát hành theo hình thức chứng chỉ hoặc ghi
sổ, có ghi tên người sở hữu.
+ GTCG vô danh là GTCG phát hành theo hình thức chứng chỉ, không
ghi tên người sở hữu.
- Căn cứ vào thời hạn, có thể chia thành :
+ GTCG ngắn hạn : là loại có thời hạn dưới 12 tháng, bao gồm kỳ phiếu,
chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn, trái phiếu và các GTCG ngắn hạn khác.
12


+ GTCG dài hạn : là loại có thời hạn từ 12 tháng trở lên, bao gồm kỳ

Có rất nhiều nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân
hàng. Ở đây ta có thể chia thành hai nhóm nhân tố cơ bản ảnh hưởng đến hoạt
động huy động vốn của NHTM, đó là :
1.2.6.1- Nhân tố khách quan :
- Môi trường pháp lý : là một doanh nghiệp kinh doanh, NHTM chịu sự
quản lý của các cơ quan có thẩm quyền, hoạt động theo quy định của pháp luật,
chịu sự chi phối và điều tiết của NHTW nước sở tại. Hoạt động huy động vốn
của NHTM ngoài việc tuân thủ theo quy định về tỷ lệ lãi suất, tỷ lệ vốn huy
động của pháp luật trong nước mà còn chịu sự tác động của nhiều điều lệ quốc
tế. Ngoài ra lĩnh vực ngân hàng là lĩnh vực có nhân tố quyết định đến toàn bộ
nền kinh tế, hoạt động dưới sự chi phối của chính sách tiền tệ quốc gia, tùy từng
thời kỳ mà NHTW đưa ra các biện pháp và chính sách nới lỏng hay thắt chặt
tiền tệ quốc gia. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình và hiệu quả huy
động vốn của NHTM.
- Môi trường kinh tế :
Tồn tại và phát triển trong một môi trường kinh tế năng động là cơ sở để
ngân hàng vươn lên, cơ hội để ngân hàng có thể triển khai các hoạt động của
mình, cơ hội để nắm trong tay những công nghệ hiện đại và là cơ hội để hội
nhập với kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên nó cũng đi đôi với những khó khăn như
khó khăn về cạnh tranh, khó khăn về khách hàng,...
Nền kinh tế ổn định sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tạo vốn của
ngân hàng, hoạt động kinh doanh cũng được tiến hành thuận lợi hơn, có khả
năng phát triển cao hơn và ổn định hơn. Khi đó thu nhập cũng như tài sản mà
người lao động nắm giữ cũng sẽ lớn hơn, họ sẽ có nhiều tiền hơn để gửi vào
ngân hàng và đồng nghĩa với việc ngân hàng sẽ thu hút được nhiều vốn hơn.
Và ngược lại khi nền kinh tế gặp phải nhiều vấn đề, tình hình lạm phát gia
tăng, đồng tiền trong nước bị mất giá so với nước ngoài hay vì bất cứ một lý do
nào đó sẽ làm cho hoạt động huy động vốn của ngân hàng thay đổi, rất có thể
14




lại nếu niềm tin của khách hàng về đồng tiền trong tương lai sẽ mất giá gây ra
hiện tượng rút tiền hàng loạt là mối lo ngại lớn của mọi ngân hàng.
- Cạnh tranh giữa các ngân hàng :
Nền kinh tế nước ta vừa bước vào thời kỳ hội nhập, nền kinh tế có nhiều
bước chuyển biến mới, đặc biệt mở ra một kỷ nguyên mới trong lĩnh vực tài
chính ngân hàng. Các ngân hàng nước ngoài đang ào ạt tiến vào Việt Nam đem
theo những công nghệ hiện đại, những giải pháp hoàn mỹ, những lợi ích tuyệt
vời. Điều này đặt ra muôn vàn khó khăn cho hệ thống ngân hàng trong nước,
nếu không chịu đổi mới sẽ bị xâm chiếm thị phần, bị suy giảm về quy mô hoạt
động, không đủ sức cạnh tranh.
Bên cạnh đó, việc tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm của ngân hàng là rất
khó, việc marketing không phải lúc nào cũng mang lại hiệu quả như ý muốn.
Đây cũng là một khó khăn trong việc cạnh tranh của NHTM.
1.2.6.1- Nhân tố chủ quan :
- Xuất phát từ các hình thức huy động vốn của ngân hàng :
Hình thức huy động vốn của ngân hàng càng phong phú và đa dạng sẽ
góp phần khuyến khích khách hàng tham gia vào các dịch vụ của họ. Ngân hàng
càng đi sâu vào nghiên cứu nhu cầu cũng như tâm lý của khách hàng thì càng có
cơ hội phát triển thêm những công cụ mà họ cần.
Các NHTM nước ta hiện nay có danh mục các sản phẩm huy động là khá
đa dạng : tiền gửi có nhiều loại như tiết kiệm có kỳ hạn trả trước, tiết kiệm có kỳ
hạn trả sau, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm gửi góp, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm
tiêu dùng,...
Bên cạnh đó ngân hàng còn đưa ra nhiều hình thức khuyến mại, dự
thưởng thu hút sự quan tâm của khách hàng. Hình thức và kỳ hạn lãi phong phú
như lãi ngày, tuần, tháng, năm,... được triển khai liên tục và rất được người dân
và các tổ chức quan tâm. Ngoài ra trong lĩnh vực tiền gửi thanh toán hay tiền
gửi giao dịch cũng được nghiên cứu và bổ sung nhiều hình thức phù hợp hơn.

khẳng định. Quá trình hình thành nên một sản phẩm huy động mới trong ngân
17


hàng đòi hỏi rất nhiều thời gian và công sức, bên cạnh đó còn rất khó khăn
không phải ngân hàng nào cũng làm được.
Các hình thức quảng bá hình ảnh của ngân hàng, đẩy mạnh xây dựng và
phát triển thương hiệu đem lại niềm tin cho khách hàng, khuyến khích khách
hàng gửi tiền và làm quen với ngân hàng, chính điều này góp phần không nhỏ
vào hiệu quả huy động vốn của họ.
Tuy nhiên khách hàng khi đến với ngân hàng thì thái độ phục vụ của nhân
viên ngân hàng lại có tính chất hỗ trợ vô cùng lớn. Một phong cách phục vụ
nhiệt tình, có trách nhiệm của nhân viên là yếu tố thu hút khách hàng, khách
hàng sẽ tin tưởng và có ý định gắn bó với ngân hàng, đó chính là đã tạo ra lợi
thế cho ngân hàng.
- Công nghệ ngân hàng :
Khoa học công nghệ ngày càng phát triển thì đòi hỏi mức độ hiện đại
trong phương thức làm việc cũng như phục vụ của ngân hàng càng phải cao. Để
nâng cao hiệu quả huy động vốn thì trang thiết bị và quy trình công nghệ cần
phải được đầu tư. Hiện nay đã có nhiều sản phẩm dịch vụ mới như ATM, POS,
dịch vụ ngân hàng điện tử,... rất hiện đại và thuận tiện nhằm phục vụ tốt nhất
nhu cầu của khách hàng. Nghiệp vụ chuyển tiền điện tử, thanh toán qua mạng
điện tử, trả lương qua tài khoản,... đang ngày càng phát triển và góp phần làm
tăng hiệu quả cho hoạt động huy động vốn trong ngân hàng.
1.3- Kinh nghiệm trong hoạt động huy động vốn ở một số ngân hàng trong
và ngoài nước và bài học kinh nghiệm cho NH Phát triển Nhà ĐBSCL chi
nhánh Long An :
1.3.1/ Kinh nghiệm về phát triển nguồn vốn huy động tại một số ngân
hàng thương mại trên thế giới :
Với kinh nghiệm dày dặn và công nghệ hiện đại trên trường quốc tế, các

Banking và các điểm giao dịch ANZ.
ANZ Online Saver

19


Hưởng lãi suất cạnh tranh, giao dịch tiền gửi trực tuyến, lãi suất tính mỗi
ngày và trả hàng tháng cho khách hàng.
Khách hàng hưởng lãi suất cao, không phải nộp số dư duy trì tài khoản.
Có thể dễ dàng chuyển khoản trực tuyến từ ANZ Online Saver account và
các tài khoản khác của khách hàng tại ANZ mọi lúc thông qua ANZ Phone
Banking, ANZ Internet Banking. Tuy nhiên khách hàng không được rút tiền mặt
trực tiếp.
ANZ Business Cash Maximizer Account
Với Tài khoản Quản lý tiền mặt, khách hàng có thể sử dụng số tiền của
mình một cách linh hoạt, đồng thời vẫn được hưởng lãi trên số dư tài khoản.
Hưởng lãi tối đa trên số dư tài khoản - số dư tài khoản càng cao thì hưởng
lãi càng nhiều.
Không cần số dư tối thiểu để duy trì tài khoản, chỉ áp dụng đối với tiền
đồng Việt Nam với số dư khi mở tài khoản thấp. Được chuyển tiền miễn phí và
không giới hạn giữa các tài khoản cùng hệ thống ANZ.
Khách hàng có quyền chọn chức năng “ chuyển tiền tự động ” từ Tài
khoản Quản lý Tiền mặt sang Tài khoản thanh toán.
Miễn phí cung cấp sao kê tài khoản hàng tháng. Miễn phí gửi tiền, miễn
phí rút tiền đối với tiền đồng Việt Nam.
1.3.1.2- Ngân hàng Standard Chartered :
Ngân hàng Standard Chartered Bank đã trực tiếp chỉ đạo các phòng
nghiệp vụ đưa ra nhiều biện pháp nhằm nâng cao nguồn vốn huy động, nhất là
tiền gửi dân cư. Cụ thể, ngân hàng giao chỉ tiêu huy động vốn trực tiếp tới từng
nhân viên. Lấy kết quả huy động vốn của từng nhân viên làm một trong những

quản lý tài chính trong gia đình của các chị em phụ nữ.
Tài khoản E$aver
Tài khoản vãng lai trực tuyến mới sẽ đem đến cho bạn mức lãi suất cao
nhất mà không có sự ràng buộc nào.

21


Với tài khoản E$aver, bạn có thể an tâm tận hưởng mức lãi suất cao và
những thuận lợi của giao dịch trực tuyến. Ngoài ra, bạn có thể truy cập tài khoản
VND của mình vào bất kỳ lúc nào và bất kỳ nơi đâu.
1.3.2/ Một số bài học kinh nghiệm đối với MHB Long An :
Kinh nghiệm phát triển nguồn vốn huy động của NHTM trên thế giới
chính là thực tế mà MHB Long An cần phải học hỏi nhiều hơn nữa như sau :
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động các ngân hàng nước ngoài tương
đối ổn định, thông qua các chính sách đúng đắn của ngân hàng nước ngoài trong
những năm vừa qua. Ngân hàng nước ngoài phát triển mạnh trong hoạt động
bán lẻ, với một quy mô vốn lớn, hoạt động của ngân hàng nước ngoài thực sự an
toàn cho thấy nguồn vốn huy động có một tốc độ tăng trưởng khá ổn định. Đa
số các ngân hàng nước ngoài có các chuyên gia dự báo trước xu hướng biến
động của dòng tiền gửi vào, rút ra thì dễ dàng trong việc cho vay.
Qui mô và cơ cấu nguồn vốn khá ổn định : Qui mô là chỉ tiêu phản ánh
chất lượng huy động vốn của ngân hàng nước ngoài. Qui mô nguồn vốn gia tăng
đáp ứng cho hoạt động tài trợ không ngừng tăng trưởng sẽ tạo điều kiện để ngân
hàng nước ngoài mở rộng hoạt động, nâng cao tính thanh khoản và tính ổn định
của nguồn vốn. Cơ cấu nguồn vốn ảnh hưởng tới cơ cấu tài sản và quyết định
chi phí của ngân hàng nước ngoài. Cơ cấu huy động các ngân hàng nước ngoài
phù hợp với cơ cấu sử dụng vốn thì sẽ tối đa được dư nợ tín dụng và đầu tư, mở
rộng tín dụng và thực hiện chính sách ưu đãi lãi suất đối với những mặt hàng,
ngành công nghiệp ưu tiên hướng đến xuất khẩu ( là thế mạnh của ngân hàng

- Phân cấp khách hàng : việc phân cấp khách hàng họ sẽ có các chính
sách sao cho thật phù hợp với đặc điểm và tính cách của từng nhóm khách hàng.
Đối với từng nhóm khách hàng họ sẽ chú trọng tập trung vào một số dịch vụ chủ
yếu và khai thác hầu hết ở những dịch vụ đó. Để có được những chương trình
phù hợp cho từng khách hàng thì bản thân các NHTM phải thực hiện nghiên cứu
rất sâu sắc về từng nhóm khách hàng một. Đây chính là tài nguyên chất xám của
mỗi ngân hàng vì mỗi một ngân hàng sở hữu rất nhiều khách hàng
23


khác nhau nhưng tùy theo mục đích huy động mà mỗi ngân hàng sẽ có những
khác biệt với các ngân hàng khác.

24



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status