THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP
TỈNH THANH HÓA GIAI ĐOẠN 2000 2009
I. BỐI CẢNH KHÁCH QUAN TÁC ĐỘNG ĐẾN CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU
NGÀNH CÔNG NGHIỆP CỦA TỈNH
1. Đặc điểm về điều kiện tự nhiên và tình hình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh
Thanh Hóa
Điều kiện tự nhiên và nguồn nhân lực
Vị trí địa lý và tài nguyên thiên nhiên
• Vị trí địa lý:
Thanh hóa là tỉnh ven biển Bắc Trung Bộ, cách thủ đô Hà Nội khoảng 153 km về
phía Nam, có tọa độ địa lý từ 19
o
18 – 22
o
00 vĩ độ Bắc và 104
o
22 – 106
o
04 kinh độ
Đông; phía Bắc giáp 3 tỉnh Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía Nam giáp tỉnh Nghệ
An; phía Tây giáp tỉnh Hủa Phăn của nước CHDC nhân dân Lào; phía Đông giáp Vịnh
Bắc Bộ. Tỉnh Thanh Hóa có 27 đơn vị hành chính gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 24
huyện, với tổng diện tích tự nhiên 11.134,73 km
2
; dân số trung bình năm 2007 khoảng
3,7 triệu người, chiếm 3,4% diện tích và 4,3% dân số cả nước. Về vị trí địa lý kinh tế,
chính trị Thanh Hóa có nhiều điểm nổi bật như:
Nằm ở cửa ngõ giao lưu giữa Bắc Bộ với Trung Bộ và Nam Bộ, giữa vùng KTTĐ
Bắc Bộ với vùng KTTĐ Trung Bộ, đồng thời nằm trên các tuyến giao lưu quan trọng
của hệ thống đường quốc tế và quốc gia như tuyến đường sắt Thống Nhất, quốc lộ 1A,
quốc lộ 10, đường Hồ Chí Minh xuyên suốt vùng Trung du Miền núi của tỉnh, có đường
Diện tích
(1000 ha)
%
Diện tích
(1000 ha)
%
Tổng diện tích tự nhiên 1114.9 100.0 1113.47 100.0 -1.43
Diện tích đã sử dụng 791.7 71.01 978.34 87.9 186.64
Đất nông nghiệp 665.3 59.67 822.36 73.9 157.06
Đất phi nông nghiệp 126.45 11.34 155.98 14.0 29.53
Đất chưa sử dụng 318.9 28.60 135.13 12.1 -183.77
Đất mặt nước 4.3 0.39 3.20 0.3 -1.10
Nguồn: Sở Tài nguyên và Môi trường Thanh Hóa.
Nhìn chung hầu hết diện tích đất bằng ở Thanh Hóa đã được khai thác sử dụng vào
sản xuất công nghiệp nhưng vẫn còn khiêm tốn. Do đó trong thời gian tới thực hiện
chuyển đổi cơ cấu công nghiệp cần kết hợp đầu tư chiều sâu để nâng cao hệ số sử dụng
đất, đặc biệt là ở các vùng còn nhiều tiềm năng về đất đai và nguồn nước thuận lợi.
Tài nguyên khoáng sản
Tài nguyên khoáng sản ở Thanh Hóa khá phong phú về chủng loại và đa dạng về
cấp trữ lượng. Hiện tại toàn tỉnh có tới 257 mỏ và điểm quặng, với 42 loại khoáng sản,
trong đó có một số loại có ý nghĩa quốc tế và khu vực như: Crom, đá ốp lát, đô lô mít,
chì lẽm, thiếc, vonfram, antimoan, đá quý, titan. Nhiều mỏ có trữ lượng lớn và phân bố
tập trung, cho phép khai thác với quy mô công nghiệp như đá vôi, đất sét làm xi măng.
Đây là một lợi thế lớn của tỉnh trong việc phát triển công nghiệp khai khoáng, công
nghiệp sản xuất xi măng, công nghiệp vật liệu xây dựng… Ngoài ra, còn có nhiều loại
khoáng sản khác như đồng, Asen, sét trắng, cát thủy tinh, đá xây dựng, than đá và than
bùn… tuy trữ lượng không lớn nhưng có giá trị cao, có thể khia thác ở quy mô nhỏ
phục vụ phát triển công nghiệp địa phương.
Tài nguyên nước và thủy năng
Trên địa bàn Thanh Hóa có 4 hệ thống sông lớn là sông Mã, sông Yên, sông Hoạt,
Tốc độ tăng trưởng và quy mô nền kinh tế
Trong hơn 20 năm đổi mới, cùng với xu thế phát triển chung của cả nước, kinh tế
của tỉnh Thanh Hoá đã từng bước ổn định và đang trên đà phát triển, đời sống nhân dân
được cải thiện rõ rệt. Đặc biệt từ năm 2001 trở lại đây, thực hiện Nghị quyết Đại hội
Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2001 – 2005,
2006 – 2010, kinh tế của tỉnh đã có bước phát triển khả quan. Tốc độ tăng trưởng bình
quân 2001-2005 là 9,1%/năm và 11,5% giai đoạn 2006-2010; trong đó nông lâm nghiệp
và thủy sản tăng 4,2%/năm, công nghiệp - xây dựng tăng 15,8%/năm và dịch vụ tăng
12,2%/năm. Điều đáng chú ý là tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh có xu hướng tăng
dần vào các năm cuối kỳ kế hoạch 5 năm, tạo đà tăng trưởng thuận lợi cho thời kỳ tiếp
theo. Về quy mô nền kinh tế, do xuất phát điểm thấp, nên hiện tại quy mô nền kinh tế
tỉnh Thanh Hóa còn chưa tương xứng với quy mô và tiềm năng phát triển của tỉnh; thu
nhập dân cư thấp, đời sống dân cư, đặc biệt là ở các vùng cao, vùng xa còn nhiều khó
khăn. Thu nhập bình quân đầu người/năm đạt gần 7 triệu đồng (tính theo giá thực tế),
chỉ bằng 51% mức trung bình của cả nước. Thu ngân sách trên địa bàn không lớn, chỉ
đáp ứng dưới 50% nhu cầu chi thường xuyên của tỉnh.
Bảng 2.1.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế theo khu vực kinh tế thời kỳ 2001 – 2010
Đơn vị: Tỷ đồng, giá CĐ 94.
Chỉ tiêu 2000 2005
DK
2010
Tăng BQ (%/n.)
2001-
2010
2001-
2005
2006-
2010
Tổng GDP 7700.8 11910.0 20.563.0 10,3 9.1 11.5
- Quốc doanh 2087.5 3321.0 4738.0 8,5 9.7 7,4
nghiệp sang các lĩnh vực khác diễn ra rất chậm. Mức chênh lệch về thu nhập giữa lao
động nông lâm nghiệp với lao động trong các ngành nghề khá cao, khoảng cách giàu
nghèo giữa thành thị và nông thôn cũng ngày càng lớn.
Cơ cấu vùng: kinh tế các vùng đều tăng trưởng nhanh nhưng đang có xu hướng tập
trung cao ở các vùng đồng bằng và ven biển nơi có nhiều thuận lợi về điều kiện tự
nhiên và cơ sở hạ tầng để phát triển đặc biệt là với các ngành công nghiệp và dịch vụ.
• Cơ cấu thành phần kinh tế
Với chính sách phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và chuyển đổi
mô hình quản lý các doanh nghiệp quốc doanh, cơ cấu thành phần kinh tế của tỉnh đã
chuyển dịch phù hợp dần với cơ chế thị trường. Khu vực quốc doanh tỷ trọng trong
GDP tiếp tục giảm dần từ 27,6% năm 2000 xuống còn 25,4% năm 2007 và dự kiến 23%
năm 2010. Khu vực ngoài quốc doanh, tỉnh đã huy động được nguồn lực đáng kể trong
dân đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh trong mọi lĩnh vực nên thành phần kinh tế
ngoài quốc doanh phát triển năng động hơn. Tỷ trọng năm 2005 chiếm 68,1% cao hơn
so với mức trung bình cả nước (45,7%) và đang có tác động lớn đến nền kinh tế, dự
kiến năm 2010 chiếm tỷ trọng 70%. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài mới được hình
thành và phát triển nên còn chiếm tỷ trọng thấp năm 2010 dự kiến chiếm 7,0%, tuy
nhiên đây sẽ là tác nhân không nhỏ đối với sự phát triển kinh tế cũng nhu riêng ngành
công nghiệp của tỉnh trong tương lai.
Bảng 2.1.3: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Đơn vị: tỷ đồng; %
Chỉ tiêu 2000 2005 Dự kiến 2010
Tổng GDP (giá hh) 9.961,8 18.745,0 34.544,0
1. Cơ cấu theo ngành kinh tế 100,0 100,0 100,0
- Nông lâm nghiệp và thủy sản 39,6 31,6 24,1
- Công nghiệp và xây dựng 26,6 35,1 40,6
- Dịch vụ 33,8 33,3 35,3
2. Cơ cấu theo khu vực kinh tế
- Quốc doanh 27,6 27,8 23,0
- Ngoài quốc doanh 68,8 68,1 70,0
Vốn đầu tư nước ngoài 5.315,8 35,9 124.9 0,6 11.400 25,6
Vốn khác 514,6 3,5 1.607,7 7,3 1.000 2,2
Nguồn: Niên giám thống kê Thanh Hóa, sở KH & ĐT
Cơ cấu vốn đầu tư đã có chuyển biến đáng kể, đã huy động tốt mọi nguồn vốn trong
xã hội. Vốn đầu tư từ khu vực ngoài quốc doanh đã tăng nhanh tuy nhiên vốn đầu tư từ
ngân sách và có nguồn gốc từ ngân sách vẫn chiếm tỷ lệ khá cao. Riêng đối với vốn đầu
tư nước ngoài, tỉnh đã ban hành một số chính sách ưu đãi khuyến khích đầu tư vào
KCN Lễ Môn, KCN Nghi Sơn, đã xây dựng các trang web giới thiệu về tình hình kinh
tế - xã hội của tỉnh, tham gia các diễn đàn và hội nghị kêu gọi xúc tiến đầu tư. Giai đoạn
2001 – 2005 các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tập trung vào khai thác tiềm năng
thế mạnh của địa phương về khoáng sản, đất đai, chế biến sản phẩm nông lâm ngư
nghiệp. Tới giai đoạn 2006 – 2009, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài lại tập trung phát
triển các ngành công nghiệp chế biến xi măng, công nghiệp điện – nước và các ngành
công nghiệp trong khu kinh tế tổng hợp Nghi Sơn. Tuy nhiên hoạt động thu hút vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài vẫn còn một số hạn chế nhất định do tốc độ thu hút vốn chậm
không đồng đều.
• Kết quả hoạt động đầu tư
Với các nguồn vốn đầu tư, trong những năm qua Thanh Hóa đã đạt được những kết
quả quan trọng, năng lực sản xuất của các ngành được tăng cường, kết cấu hạ tầng kinh
tế - xã hội được cải thiện và nâng cao. Cụ thể: hệ thống giao thông được phát triển cả về số
lượng và chất lượng, các tuyến đường biên giới, ven biển được nâng cấp, nâng tỷ lệ nhựa
hóa và bê tông hóa lên 27%... Về công nghiệp nhiều nhà máy mới được đầu tư xây dựng
trong giai đoạn này như nhà máy xi măng Nghi Sơn, nhà máy đường Việt Đài, nhà máy xi
măng Công Thanh, nhà máy ô tô VEAM… Nhiều khu, cụm công nghiệp mới được hình
thành. Năng lực sản xuất của các ngành công nghiệp chủ lực trong tỉnh đều tăng mạnh. Tuy
nhiên tỉnh cần có thêm nhiều cơ chế, chính sách mới tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài hơn nữa.
Như vậy cơ cấu kinh tế của tỉnh dịch chuyển còn chậm nhưng trong thời tới này
cùng với sự xuất hiện của các khu công nghiệp và đặc biệt là khu kinh tế mở Nghi Sơn
đang trong quá trình hình thành, dự báo trong những năm tiếp theo khối lượng vốn đầu
đầu tư nước ngoài thực sự trở thành một trong động lực thúc đẩy Thanh Hóa phát triển
kinh tế. Việc mở cửa hội nhập kinh tế quốc tế không chỉ là để các doanh nghiệp trong
nước vươn ra mà còn để các doanh nghiệp nước ngoài đi vào sản xuất kinh doanh ở
Thanh Hóa. Khi gia nhập WTO chúng ta cần tập trung xây dựng, điều chỉnh hệ thống
luật pháp minh bạch, phù hợp xu thế chung, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Cùng với đó, sự xuất hiện nhiều doanh nghiệp nước ngoài sẽ có tác động dây chuyền
tích cực như tăng mức độ cạnh tranh trên thị trường, giúp các doanh nghiệp và các nhà
quản lý doanh nghiệp trong nước học hỏi thêm về cách thức bố trí sản xuất, quản lý,
tiếp thu công nghệ, kiểu dáng sản phẩm…
Trong tương lai sự hình thành phát triển của các tuyến đường xuyên Á và hành lang
kinh tế Đông – Tây là cơ hội lớn để Thanh Hóa đẩy mạnh giao lưu thương mại và hợp
tác đầu tư không chỉ với các địa phương trong khu vực mà còn có thể vươn ra các vùng
lãnh thổ rộng lớn khác dọc theo tuyến.
• Tác động của bối cảnh trong nước
Thực hiện mục tiêu Xây dựng nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo
hướng hiện đại vào năm 2020 mà Đại hội X đã đề ra, nhiều chủ trương, chính sách lớn
của Đảng đã và đang được triển khai thực hiện trên phạm vi cả nước và trên từng vùng
lãnh thổ. Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô cùng với việc đẩy mạnh công cuộc đổi
mới sẽ ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút đầu tư phát triển xét trên bình
diện cả nước và Thanh Hóa nói riêng. Đồng thời với vị trí địa lý thuận lợi nằm ở cửa
ngõ giao lưu giữa vùng Bắc Bộ với vùng Bắc Trung Bộ, hệ thống giao thông thuận tiện
(cả về đường sắt, đường bộ, đường thủy), là vị trí chiến lược đối với phát triển kinh tế
vùng Bắc Trung Bộ, Thanh Hóa sẽ là cửa ngõ quan trọng để thông thương hàng hóa của
các tỉnh trong vùng Bắc Trung Bộ với các khu vực lân cận của cả nước và quốc tế, phát
triển kinh tế cửa khẩu. Mặt khác, vùng KTTĐ Bắc Bộ là vùng có tiềm năng kinh tế
tương đối đa dạng, cho phép phát triển kinh tế - thương mại theo hướng đa ngành, đặc
biệt là các sản phẩm công nghiệp điện tử, công nghiệp nặng. Sự phát triển của vùng Bắc
Bộ, vùng Bắc trung Bộ nói riêng và các tỉnh miền trung nói chung sẽ tạo điều kiện tăng
cường hợp tác trong việc khai thác tiềm năng thế mạnh của tỉnh, thuận lợi trong trao
đổi, mua bán hàng hóa của nhân dân, mở rộng mạng lưới kinh doanh của doanh nghiệp.
giai đoạn tới cần phải có những giải pháp thích hợp, cụ thể để giảm thiểu những mặt bất
lợi và khai thác tối đa những cơ hội vốn có.
II. THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU NGÀNH CÔNG NGHIỆP
TỈNH THANH HÓA GIAI ĐOẠN 2000 – 2009
1. Thực trạng phát triển ngành công nghiệp của tỉnh giai đoạn 2000 – 2009
Quy mô và tốc độ tăng trưởng ngành công nghiệp
Tăng trưởng công nghiệp
Trong những năm qua, mặc dù có những khó khăn do biến động giá cả và sự cạnh
tranh gay gắt trong cơ chế thị trường, nhưng sản xuất công nghiệp trên địa bàn vẫn duy
trì tốc độ tăng trưởng cao và ổn định, bình quân giai đoạn 2001 – 2005 GTSX tăng
16,9%/năm, giai đoạn 2006 – 2010 dự kiến GTSX tăng 13%/năm do tác động của
khủng hoảng kinh tế. Mặc dù trong năm 2008 giá cả các mặt hàng nguyên vật liệu phục
vụ sản xuất tăng cao, song sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp tiếp tục tăng
trưởng khá. Giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp đạt: 17.716 tỷ đồng (giá
thực tế). Năng lực sản xuất tăng lên đáng kể, một số cơ sở lớn đã hoàn thành và đi vào
sản xuất như: Nhà máy bia Tây Bắc ga, công suất 10 triệu lít/năm. Dây chuyền 2 nhà
máy gạch ceramic tại KCN Lễ Môn... Tổng giá trị gia tăng công nghiệp năm 2010 dự
kiến đạt 7250 tỷ đồng (giá 94), đạt tốc độ tăng trưởng thời kỳ 2006 – 2010 là 16,9%.
Bảng 2.2.1: Hiện trạng phát triển công nghiệp
Đơn vị tỷ đồng, %
Chỉ tiêu 2000 2005 Dự kiến
2010
Tăng trưởng BQ
2001-
2010
2001-
2005
2006-2010
GTGT (giá 94) 1537,5 3320,0 7250 16,8 16,6 16,9
GTSX CN (giá CĐ ) 3797,6 8249,2 15200 14,9 16,9 13,0
Nhà nước trên 180 tỷ đồng. Trong tình hình khó khăn chung, mức tăng trưởng sản xuất
công nghiệp trong tỉnh đã đạt những bước tiến vượt bậc so với nhiều tỉnh, thành phố
trong cả nước và đây cũng là năm đầu tiên Thanh Hóa vươn lên xếp thứ 2 sau tỉnh
Quảng Ninh. Đạt được kết quả trên là do sản xuất công nghiệp trong tỉnh bắt đầu phục
hồi từ quý II và có sự tăng trưởng mạnh trong quý III nhờ gói kích cầu hỗ trợ lãi suất
của Chính phủ đã thực sự là cứu cánh cho các thành phần kinh tế giải quyết khó khăn
về vốn, duy trì việc làm cho người lao động, đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của
tỉnh.
Tuy nhiên, toàn nền công nghiệp tỉnh Thanh Hóa vẫn chưa có sự chuyển biến rõ nét
về chất thể hiện ở giá trị gia tăng công nghiệp còn thấp, giai đoạn 2001 – 2005 là
16,6%, giai đoạn 2006 – 2010 chỉ là 16,9%.
Sản phẩm chủ yếu
Trong những năm qua, công nghiệp tỉnh Thanh Hóa phát triển trên cơ sở phát huy tối đa
công suất và mở rộng các cơ sở sản xuất hiện có. Nhiều cơ sở công nghiệp lớn tiếp tục
mở rộng quy mô sản xuất như nhà máy xi măng Bỉm Sơn, nhà máy bia Thanh Hóa mở
thêm dây chuyền 2 tại khu công nghiệp Nghi Sơn công suất 30 triệu lít/năm, nhà máy
bao bì PP, công ty may Việt Thanh... Do đó các sản phẩm chiếm tỷ trọng lớn vẫn duy trì
tốc độ tăng trưởng cao so với năm 2000. Một số cơ sở mới công nghiệp lớn đã khởi
công xây dựng như Nhà máy lọc hóa dầu Nghi Sơn, nhà máy đóng mới và sửa chữa tầu
biển Nghi Sơn... tạo tiền đề cho tăng trưởng nhanh hơn trong thời gian tới.
Cụ thể tính đến hết năm 2009, sang năm 2010 sản lượng một số sản phẩm chủ yếu
như sau:
- Xi măng: 8 – 8,4 triệu tấn tăng trưởng bình quân 11,5%/năm
- Đá ốp lát: 8 triệu m
2
, tăng 20,8%/năm
- Gạch xây: 850 triệu viên, tăng 8%/năm
- Bia các loại: 100 triệu lít, tăng 9%/năm
- Quần áo: 20 triệu cái, tăng 21,4%/năm
- Đường: 250 ngàn tấn, tăng 7 – 8%/năm
dân, nhu cầu việc làm là rất cao nhưng với mức tăng số lao động qua các năm như trên
có thể thấy ngành công nghiệp chưa tận dụng triệt để lợi thế này, chưa đáp ứng nhu cầu
việc làm của lao động. Đây là một điểm yếu kém trong đầu tư phát triển công nghiệp ở
Thanh Hóa mà nguyên nhân chủ yếu là ở cung lao động lớn nhưng do số lao động tăng
thêm chủ yếu được chuyển sang từ nông nghiệp một mặt góp phần chuyển dịch cơ cấu
lao động trong tỉnh, mặt khác chất lượng lao động vì thế còn yếu kém, chưa đáp ứng
yêu cầu của ngành công nghiệp. Lực lượng lao động công nghiệp chưa qua đào tạo,
chưa có kỹ năng còn lớn, một số được đào tạo từ các trường Đại học, cao đẳng ít có cơ
hội tìm được việc làm phù hợp với nghề nên chưa phát huy hết được khả năng.
Tính đến hết năm 2009, lao động trực tiếp sản xuất công nghiệp – TTCN khoảng
200.000 – 220.000 người, tăng 11%/năm, tăng 1,6 – 1,7 lần so với năm 2005. Năng suất
lao động khoảng 83,5 triệu đồng/người, tăng 1,3 lần so với 2005. Ngoài ra đã có bố trí
50.000 người lao động vụ việc, không chuyên, dịch vụ công nghiệp nâng tổng số lao
đông công nghiệp – TTCN các loại lên 280.000 người, chiếm khoảng 15% lao động xã
hội, gấp 2 lần so với năm 2005. Đồng thời nhu cầu về trình độ lao động đến năm 2009
đạt khoảng 1/2,5/22 theo cơ cấu 3 nhóm lao động là đại học – cao đẳng/trung cấp/công
nhân kỹ thuật. Đây là bước cải thiện ban đầu của tỉnh Thanh Hóa thực hiện mục tiêu cơ
bản trở thành một tỉnh công nghiệp vào năm 2020.
1.3. Hoạt động xuất – nhập khẩu trong ngành công nghiệp
Với xu hướng mở cửa và hội nhập của cả nước, kinh tế đối ngoại của Thanh Hóa đã
đạt được một số kết quả bước đầu. Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ trên
địa bàn năm 2995 đạt trên 105,7 triệu USD, giá trị hàng hóa xuất khẩu là 72,7 triệu
USD; hết năm 2009, kim ngạch xuất khẩu chung đạt khoảng 300 triệu USD. Trong đó,
kim ngạch xuất khẩu công nghiệp năm 2005 là 85,1 triệu USD; tăng lên trong năm 2009
với kim ngạch là 220 triệu USD. Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu gồm lạc nhân, xi
măng, quặng các loại, đá ốp lát, đá hoa, hải sản động lạnh, hàng may mặc, đồ thủ công
mỹ nghệ... Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là các nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, ô
tô, phân đạm...
Hàng hóa trong tỉnh được xuất khẩu đi 32 nước trên thế giới, trong đó thị trường các
nước Đông Bắc Á là thị trường chính tiêu thụ nhiều loại sản phẩm của tỉnh như cà phê,
công nghiệp toàn tỉnh. Vốn đầu tư cho ngành công nghiệp điện nước có mức tăng
không đều, quy mô vốn đầu tư đạt cao nhất là 201 tỷ năm 2004. Nhóm ngành công
nghiệp chế biến có quy mô vốn đầu tư lớn nhất, chiếm tỷ trọng đa số trong tổng vốn
đầu tư phát triển công nghiệp, chiếm thấp nhất là 86,36% năm 2003 và cao nhất là
98,77% năm 2001. Như vậy, mặc dù có điều kiện về tài nguyên thiên nhiên và tiềm
năng khoáng sản phong phú xong việc đầu tư cho ngành công nghiệp khai thác mỏ là
chưa hợp lý, quy mô vốn đầu tư còn rất nhỏ. Vốn đầu tư vào ngành công nghiệp khai
thác chủ yếu là đầu tư vào cải tạo và hiện đại hóa công nghệ khai thác. Đối với ngành
công nghiệp điện nước thì trong giai đoạn 2001 – 2006 chỉ mới đầu tư nâng cấp hệ
thống cấp thoát nước ở thành phố Thanh Hóa, thị xã Sầm Sơn, Bỉm Sơn; đầu tư nâng
cấp một số trạm biến áp trung kế, vẫn chưa đầu tư vào khai thác nguồn điện năng từ hệ
thống sông ngòi của tỉnh khi được đánh giá cao là có trữ lượng và tiềm năng thủy điện
cao nên vốn đầu tư còn hạn chế. Mặt khác, vốn đầu tư cho ngành công nghiệp khai thác
và công nghiệp điện nước còn ít là do khả năng huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế
trong tỉnh tham gia đầu tư là kém, chủ yếu trông chờ vào vốn từ ngân sách, các doanh
nghiệp thì không có nhu cầu mở rộng sản xuất do đang tận dụng khai thác hết công suất
của dây chuyền sản xuất đã được đầu tu từ trước, thêm vào đó ngành điện là một ngành
độc quyền của Nhà nước trong thời gian này. Trong ba nhóm ngành, ngành công nghiệp
chế biến là ngành có quy mô và tỷ trọng vốn đầu tư lớn nhất đó là do trong giai đoạn
2001 – 2006 nhiều dự án sản xuất công nghiệp có quy mô lớn thuộc ngành chế biến
được thực hiện như nhà máy thức ăn chăn nuôi, nhà máy đông lạnh, nhà máy chế biến
tinh bột ngô, nhà máy chế biến sữa, nhà máy gạch CERAMIC...
Trong thời gian từ 2007 tới 2009, nguồn vốn huy động cho phát triển các ngành
công nghiệp tỉnh Thanh Hóa cũng được tăng lên đáng kể mặc dù đã gặp phải không ít
khó khăn của cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008. Đáng chú ý là ngành điện nước đây
là giai đoạn tăng tốc phát triển, với việc tập trung đầu tư xây dựng nhiều cơ sở cấp nước
lọc và nước thô cho các KCN, phát triển trung tâm Điện Lực Nghi Sơn, cùng với việc
xã hội hóa ngành điện, vốn đầu tư cho ngành điện nước đã tăng nhanh, tính tới năm
2009 đã chiếm tỷ trọng là 9%.
Bảng 2.2.4: Cơ cấu vốn đầu tư phát triển công nghiệp Thanh Hóa giai đoạn
Qua biểu đồ ta có thể thấy quá trình chuyển dịch cơ cấu giữa ba nhóm ngành công
nghiệp. Bước đầu đã hình thành một số sản phẩm chủ lực của các ngành chiếm tỷ trọng