THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỔ TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM - Pdf 67

THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỔ
TRỢ NGÀNH DỆT MAY VIỆT NAM.
2.1. Đánh giá chung về ngành DMVN hiện nay.
Ngành Dệt - May VN có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Là
ngành cung cấp các mặt hàng thiết yếu cho xã hội, giải quyết việc làm cho một lực
lượng lớn lao động, đồng thời đã mang lại nguồn ngoại tệ lớn từ xuất khẩu và đóng góp
một nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Giá trị sản xuất công nghiệp của Ngành chiếm
bình quân trên 9% toàn ngành công nghiệp, kim ngạch xuất khẩu chiếm 14,6% so với
tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước và đã tạo việc làm cho gần một triệu lao động công
nghiệp. Tuy vậy có thể thấy hiện nay mặc dù có nhiều lợi thế và điều kiện khá thuận lợi
song khả năng cạnh tranh của ngành DMVN hiện nay đang rất thấp. Để thấy rõ thực
trạng này, có thể đánh giá một số chỉ tiêu:
Điều kiện về cầu: Việt Nam hiện nay có dân số đông, gần 80 triệu người và sẽ
tiếp tục tăng lên nữa, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao vào loại cao nhất thế giới. Theo số
liệu của Tổng cục Thống kê, bình quân các hộ gia đinh Việt Nam chi tiêu trên 3% thu
nhập cho may mặc. Điều này cho thấy thị trường nội địa đầy tiềm năng với sức tiêu thụ
lớn. Thêm vào đó. hiện nay, thị trường trong nước đang ngày càng yêu cầu cao về chất
lượng, dịch vụ đối với hàng dệt may, đây sẽ là động lực thúc đẩy các DN thường xuyên
cải tiến và đổi mới sản phẩm.
Cùng với sự dỡ bỏ hạn ngạch của WTO, thị trường nước ngoài đang đặt ra những
tiêu chuẩn cao đối với các sản phẩm không chỉ về mẫu mã, chất lượng mà còn cả dịch
vụ đi kèm. Điều này đòi hỏi các DN nếu muốn tồn tại và phát triển thì phải không
ngừng nâng cao hơn nữa khả năng cạnh tranh, đáp ứng tốt nhất yêu cầu của khách hàng.
Điều kiện về các yếu tố sản xuất: Các yếu tố sản xuất bao gồm yếu tố cơ bản và
yếu tố tiên tiến. Ngành DMVN được coi là có ưu thế: lao động dồi dào, ngành dệt may
có truyền thống lâu đời, vị trí địa lý thuận lợi…, đã tạo cho Việt Nam có điều kiện về
các yếu tố cơ bản khá đầy đủ. Tuy nhiên, các yếu tố tiên tiến như cơ sở hạ tầng, thông
tin liên lạc, viễn thông, nguồn nhân lực kỹ thuật cao (các kỹ thuật viên đã qua đào tạo,
các chuyên gia trong lĩnh vực dệt may) lại rất khan hiếm. Điều này đã gây nhiều khó
khăn cho ngành dệt may trong quá trình phát triển lên cấp độ cao, tức là giai đoạn
chuyển sang xuất khẩu các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao, đòi hỏi khả năng cạnh

Ngành CNHT trong nước còn non yếu dẫn đến sự phụ thuộc vào nguồn cung ứng
bên ngoài, giá trị gia tăng trong mỗi sản phẩm thấp và dẫn đến hiệu quả xuất khẩu thấp.
Do đó, việc phát triển CNHT đang trở thành một vấn đề thu hút được sự quan tâm
không chỉ của các cơ quan hoạch định chính sách mà còn của chính các DN ở khu vực
hạ nguồn.
Bàn về vấn đề này hiện vẫn còn tồn tại nhiều quan điểm về xây dựng và phát triển
CNHT, trong đó nổi bật lên 2 quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, với trình độ hiện tại, Việt Nam nên tập trung phát
triển khu vực hạ nguồn, đặc biệt là các ngành gia công nhằm phát huy lợi thế về nhân
công, việc phát triển CNHT cần được tiến hành từng bước trên cơ sở sự phát triển của
khu vực hạ nguồn. Quan điểm này đã được các nhà nghiên cứu Nhật Bản nêu trong
khuyến nghị: “Việc xúc tiến phát triển khu vực CNHT phải được thực hiện theo qui
trình 3 bước. (i) Việt Nam cần tiếp tục thu hút số lượng lớn vốn đầu tư nước ngoài vào
các ngành gia công hàng may; (ii) khi nhu cầu đối với khu vực CNHT tăng đáng kể, cần
tiếp tục thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành CNHT cung cấp nguồn nguyên vật
liệu cho các công ty nước ngoài, đồng thời khuyến khích đầu tư trong nước vào các
ngành này; (iii) nâng cao nội lực thông qua chuyển giao công nghệ từ đầu tư trực tiếp
nước ngoài. Trong quá trình này, Việt Nam có thể thực hiện đan xen giữa các bước gần
giống nhau nhưng không thể đốt cháy giai đoạn…Hiện nay, Việt Nam vẫn chưa hoàn
thành được bước thứ nhất, đang tập trung ở bước này nên những biện pháp tăng cường
tỷ lệ nội địa hoá và chuyển giao công nghệ khó có thể trở thành hiện thực”.
Quan điểm thứ hai cho rằng Việt Nam cần nhanh chóng phát triển CNHT, đặc biệt
là công nghiệp dệt may hoặc những ngành phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu như lắp ráp
xe máy, điện tử dân dụng, ô tô…Quan điểm này xuất phát từ tình trạng phụ thuộc vào
nước ngoài về các loại nguyên phụ liệu cho sản xuất sản phẩm, giá trị gia tăng được tạo
ra từ sản xuất trong nước thấp kém, kéo theo hiệu quả của sản xuất và xuất khẩu thấp,
khả năng sản xuất trong nước và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài.
2.2.2. Quy hoạch phát triển ngành CNHT ngành dệt may Việt Nam.
Quy hoạch phát triển công nghiệp dệt may đến năm 2015, định hướng đến năm
2020 đã được Bộ Công thương phê duyệt tại quyết định 42/2008/QĐ- BCT ngày

các nội dung như hình thành 3 trung tâm nguyên phụ liệu dệt may ở phía Bắc, Nam và
miền Trung.
Cụ thể quy hoạch dệt may theo vùng lãnh thổ được phân bố ở các khu vực với
những định hướng chính:
- Khu vực I: Vùng đồng bằng sông Hồng
Quy hoạch theo định hướng lấy Hà Nội là trung tâm làm dịch vụ, cung cấp nguyên
phụ liệu, công nghệ, mẫu mốt, các cơ sở may sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng
cao. Các cơ sở sản xuất di dời về các Khu công nghiệp ở các tỉnh như: Hoà Xá (Nam
Định), Nguyễn Đức Cảnh (Thái Bình), Phố Nối B (Hưng Yên), Đồng Văn (Hà Nam),
Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Ninh Bình. Tại khu vực này sẽ hình thành một cụm công nghiệp
may xuất khẩu và ba khu công nghiệp dệt nhuộm hoàn tất tập trung. Đầu tư một nhà
máy sản xuất xơ Polyester công suất 160.000 tấn/năm tại Khu công nghiệp Đình Vũ
(Hải Phòng).
- Khu vực II: Vùng Đông Nam Bộ
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm thương mại, thiết kế mẫu mốt, dịch vụ công
nghệ dệt may và các nhà máy may các sản phẩm thời trang, có giá trị gia tăng cao. Di
dời các cơ sở nhuộm, hoàn tất tại Thành phố Hồ Chí Minh về Khu công nghiệp Long
An và các tỉnh lân cận. Đây là khu vực đã phát triển nóng về dệt may trong những năm
qua, hiện đang gặp rất nhiều khó khăn về lao động nên không khuyến khích đầu tư mới
vào khu vực này để tránh sức ép về lao động.
- Khu vực III: Vùng duyên hải Trung bộ
Lấy Thành phố Đà Nẵng làm trung tâm để hình thành một cụm công nghiệp may
xuất khẩu và một số Khu công nghiệp dệt nhuộm - hoàn tất tại Hoà Khánh (Đà Nẵng),
Quảng Trị.
- Khu vực IV: Đồng bằng sông Cửu Long
Lấy Thành phố Cần Thơ làm trung tâm để hình thành một cụm công nghiệp may
xuất khẩu và một khu công nghiệp dệt nhuộm tập trung tại Trà Vinh.
- Khu vực V: Vùng Đông Bắc và Tây Bắc bộ
Quy hoạch theo hướng bố trí một Khu Công nghiệp dệt tại Phú Thọ, các nhà máy
may bố trí ở các tỉnh. Phát triển vùng trồng bông, nguyên liệu tơ tằm ở Sơn La, Điện

Để giải quyết vốn cho đầu tư phát triển, ngành DMVN huy động vốn từ các thành
phần kinh tế trong và ngoài nước thông qua các hình thức hợp tác kinh doanh, công ty
liên doanh, công ty liên kết, cổ phần hoá các DN, DN có 100% vốn đầu tư nước ngoài.
Khuyến khích các DN huy động vốn thông qua thị trường chứng khoán (phát hành trái
phiếu, cổ phiếu, trái phiếu quốc tế), vay thương mại với điều kiện có hoặc không có sự
bảo lãnh của Chính phủ.
Ngân sách nhà nước hỗ trợ kinh phí để đầu tư xây dựng đồng bộ cơ sở hạ tầng,
các công trình thủy lợi, hệ thống tưới tiêu tại các vùng được quy hoạch trồng bông vải
có tưới tập trung
2.2.3.2. Vốn cho hoạt động nghiên cứu, đào tạo nguồn nhân lực và xử lý môi
trường.
Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ ngân sách nhà nước cho các Viện nghiên
cứu, các Trường đào tạo trong ngành DMVN để tăng cường cơ sở vật chất và thực hiện
các hoạt động nghiên cứu và đào tạo nguồn nhân lực cho ngành Dệt May theo nguyên
tắc phù hợp với các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
Nhà nước cho DN Dệt May được vay vốn tín dụng nhà nước, vốn ODA và vốn của quỹ
môi trường để thực hiện các dự án xử lý môi trường.
2.2.4. Chính sách nguyên nhiên liệu:
a) Xây dựng các Trung tâm cung ứng nguyên phụ liệu tại Thành phố Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố lớn để cung ứng kịp thời nguyên phụ liệu
cho các DN trong ngành.
b) Xây dựng các DN kinh doanh nguyên phụ liệu tập trung nhằm đáp ứng được
nhu cầu nguyên phụ liệu cho các DN với chất lượng cao và giá nhập khẩu hợp lý.
Đặc biệt để giải quyết vấn đề cung cấp bông cho ngành dệt may, giảm tỷ lệ nhập
khẩu, tăng tỷ kệ nội địa hóa, chính sách phát triển nghề trồng bông được áp dụng hợp
lý. Mọi nguồn lực của các thành phần kinh tế sẽ được phát huy cùng sự hỗ trợ của Nhà
nước cho đầu tư phát triển cây bông vải, gắn kết lợi ích giữa gia công chế biến, tiêu thụ
với lợi ích của người trồng bông. Đồng thời, Nhà nước đầu tư cho công tác nghiên cứu,
khoa học và chuyển giao công nghệ nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả
sản xuất bông.

với đào tạo tại chỗ, kết hợp giữa đào tạo trong nước với việc cử cán bộ ra nước ngoài
để đào tạo.
Củng cố và mở rộng hệ thống đào tạo chuyên ngành Dệt May, xây dựng Trường Đại
học Dệt May và Thời trang để tạo cơ sở vất chất cho việc triển khai các lớp đào tạo.
Duy trì thường xuyên các lớp đào tạo hệ cao đẳng, trung cấp, công nhân thông qua
hệ thống các trường chuyên nghiệp của ngành dệt may nhằm cung cấp đủ nguồn nhân
lực cho ngành. Hiệp hội DMVN và Tập đoàn DMVN là đầu mối để phối hợp và liên kết
với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước triển khai Chương trình đạo tạo nguồn nhân
lực cho ngành.
2.2.5.3. Chính sách về khoa học công nghệ.
a) Tổ chức lại các Viện nghiên cứu chuyên ngành dệt may theo hướng tự chủ, tự chịu
trách nhiệm.
Nâng cao năng lực tư vấn, nghiên cứu triển khai, chuyển giao công nghệ, khả năng
thiết kế và sáng tác mẫu của các Viện nghiên cứu.
Hỗ trợ cho các DN trong ngành đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu triển khai các
tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất của các DN
DMVN.
b) Nghiên cứu áp dụng các công nghệ mới, các nguyên liệu mới để tạo ra các sản
phẩm dệt có tính năng khác biệt, triển khai các chương trình sản xuất sạch hơn, tiết
kiệm năng lượng, áp dụng các phần mềm trong thiết kế, quản lý sản xuất và chất lượng
sản phẩm Dệt May.
c) Xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sản phẩm dệt may phù hợp
và hài hoà với pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thông lệ quốc tế. Hỗ trợ
nâng cấp các trung tâm giám định, kiểm tra chất lượng sản phẩm Dệt May, hỗ trợ cho
các DN Dệt May trong quản lý chất lượng và khắc phục các rào cản kỹ thuật.
d) Xây dựng phòng thí nghiệm sinh thái Dệt May và Trung tâm phát triển các mặt
hàng vải trong giai đoạn 2008-2010.
e) Xây dựng cơ sở dữ liệu về ngành Dệt May, nâng cao chất lượng của trang thông
tin điện tử.
g) Nghiên cứu xây dựng các chính sách khuyến khích thúc đẩy chuyển giao công

may, dẫn đến một điểm yếu căn bản của ngành dệt may- “dệt kém nên may phải gia
công”, lợi nhuận thu được thấp.
Thực tế phát triển dệt may cho thấy, nguyên liệu cho công nghiệp dệt của Việt
Nam chủ yếu phải nhập khẩu từ nước ngoài, tính từ năm 1997 cho đến nay, trung bình
mỗi năm cả nước nhập từ 91 triệu đến 109,7 triệu USD bông xơ, tương đương với 5-6
vạn tấn bông xơ. Theo Vinatas, hiện nay Việt Nam đang sản xuất khoảng 170000 tấn
sợi/năm, nhập khẩu khoảng 200000 tấn sợi/năm. Trong đó sợi bông trải thô và OE
chiếm 40%, Pe/Co chiếm 36%, sợi bông trải kỹ chiếm 2% và các loại sợi khác là 2%.
Khối lượng này chỉ đáp ứng được một phần rất nhỏ nhu cầu sử dụng của ngành dệt
may. Điều đáng chú ý là cho đến nay Việt Nam vẫn chưa sản xuất được các loại xơ- sợi
tổng hợp từ các sản phẩm hoá dầu. Ngành công nghiệp hoá dầu của Việt Nam mới chỉ ở
giai đoạn đầu phát triển, tập chung chủ yếu vào khâu gia công các sản phẩm hoá dầu từ
nguyên liệu nhập khẩu gần 100%. Theo Tập đoàn DMVN, năm 2006 tổng kim ngạch
nhập khẩu nguyên phụ liệu là 5,696 tỷ USD (chưa kể một số hóa chất nhuộm) so với
5,834 tỷ USD tổng kim ngạch xuất khẩu. Tính đến năm 2007, ngành dệt may vẫn phải
nhập khẩu đến 90% bông, gần 100% các loại xơ sợi tổng hợp, 70% nguyên phụ liệu vải
và các phụ liệu may xuất khẩu khác. Sản lượng thực tế ngành dệt Việt Nam trong thời
gian qua là 376 triệu mét vải (năm 2003 là 513 triệu mét), tổng công suất thiết kế là 800
triệu mét vải. Song phần lớn số vải sản xuất trong nước không đáp ứng được yêu cầu
sản xuất hàng may mặc xuất khẩu. Chính vì vậy, hàng năm các DN may mặc trong
nước phải nhập khẩu khoảng 300 triệu mét vải các loại, chiếm khoảng 80% lượng vải
và sợi cần thiết cho sản xuất trong nước (chủ yếu sử dụng cho hình thức gia công CMT,
CMP), cao gấp hơn 3 lần so với lượng vải có thể cung cấp trong nước cho sản xuất sản
phẩm xuất khẩu. Theo mục tiêu của kế hoạch tăng tốc, đến năm 2005, sản lượng vải
trong nước đáp ứng tiêu chuẩn sản xuất sản phẩm xuất khẩu sẽ phải đạt đến 1 tỷ mét.
Theo đó, ngành DMVN thường xuyên phải đối mặt với nhiều khó khăn; chi phí
nguyên liệu cao dẫn đến giá thành sản xuất cao, tất yếu giảm sức cạnh tranh của các sản
phẩm, không chủ động trong kế hoạch kinh doanh, các DN sản xuất chịu sức ép từ các
nhà cung cấp nguyên phụ liệu.
Bảng 2.1: Tình hình sản xuất xơ- sợi tổng hợp của Việt Nam 2002- 2008


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status